BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
LÊ MINH HỒNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI VĐV CỦA
TRUNG TÂM THỂ DỤC THỂ THAO QUÂN ĐỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
BẮC NINH – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
LÊ MINH HỒNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHUYÊN MÔN ĐỐI VỚI VĐV CỦA
TRUNG TÂM THỂ DỤC THỂ THAO QUÂN ĐỘI
Chuyên ngành:
Cấp 1
CNVCQP
-
Công nhân viên chức Quốc phòng
DBKT
-
Dự bị kiện tướng
HLV
-
Huấn luyện viên
HSQ-BS
-
Hạ sỹ quan – Bình sỹ
KL
-
Quân nhân chuyên nghiệp
TDTT
-
Thể dục thể thao
TT
-
Thể thao
TT - TTC
-
Thể thao thành tích cao
VĐV
-
Vận động viên
VKTBKT
-
6
Bảng 3.6
7
Bảng 3.7
8
Bảng 3.8
9
Bảng 3.9
10
Bảng 3.10 Các giải thi đấu quốc tế năm 2011.
11
Bảng 3.11
Mức thưởng cho vận động viên có thành tích.
Kết quả phỏng vấn việc sử dụng các phương pháp trong tuyển
chọn VĐV của trung tâm TDTT Quân đội (n = 40).
Mức tiền công của trung tâm TDTT Quân đội và sở văn hóa,
thể thao và du lịch Hà Nội.
16
Bảng 3.16
17
Bảng 3.17
18
Kết quả phỏng vấn xác định nguyên tắc lựa chọn biện pháp
nâng cao hiệu quả quản lý chuyên môn đối với VĐV.
Kết quả phỏng vấn lựa chọn giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác quản lý chuyên môn đối với VĐV của TT TDTT Quân đội.
Kết quả phỏng vấn lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác
quản lý chuyên môn đối với VĐV của TT TDTT Quân đội.
Tổng số VĐV của TT TDTT Quân đội tính đến tháng 6 năm
2012.
Bảng 3.18 Theo dõi trình độ VĐV của TT TDTT Quân đội năm 2011 và
Trang
46
56
60
60
60
61
61
3.1
Biểu đồ
3.2
Sơ đồ 3.1
2012.
Tổng hợp kết quả thi đấu của các đội thể thao TT TDTT Quân
đội năm 2011 – 2012.
Thống kê cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý và đào
tạo VĐV của TT TDTT Quân đội.
Thống kê trình độ lý luận chính trị và chuyên môn của cán bộ
quản lý và HLV của TT TDTT Quân đội.
Đẳng cấp của VĐV TT TDTT Quân đội năm 2011 và 2012.
Chỉ tiêu và huy chương đạt được năm 2011 và 2012.
Cơ cấu tổ chức quản lý của Trung tâm TDTT Quân đội.
78
80
81
79
79
49
MỤC LỤC
Đặt vấn đề
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1. Quản lý nhà nước về Thể dục thể thao.
1.2. Những định hướng của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý VĐV.
1.3.Vị trí vai trò của Thể dục thể thao trong phát triển kinh tế, chính trị, văn
3.2. Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các biện pháp để nâng cao hiệu quả công
tác quản lý chuyên môn đối với VĐV của Trung TDTT Quân đội.
Trang
1
5
5
6
10
11
12
27
27
28
29
29
34
36
38
38
39
41
41
41
48
50
55
59
61
62
Thể dục thể thao là một phương tiện giáo dục hiệu quả nhất để nâng cao sức
khỏe và thể lực cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, góp phần tích cực bồi dưỡng
nguồn lực con người, đáp ứng yêu cầu lao động sản xuất và sẵn sàng chiến đấu bảo
vệ Tổ quốc trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do
vậy, phát triển thể dục thể thao được coi như một nội dung quan trọng của chính sách
xã hội nhằm chăm lo và bồi dưỡng nguồn lực con người. Đảng ta đã xác định “nguồn
lực con người là nguồn lực quan trọng nhất”, đồng thời cũng chỉ rõ “người Việt Nam
đang có những hạn chế về thể lực, kiến thức và tay nghề”. Khắc phục được những
nhược điểm đó thì nguồn nhân lực và nhân tố con người mới thực sự trở thành thế
mạnh của đất nước. Mặt khác, thể dục thể thao cũng là một bộ phận của nền văn hóa
của mỗi dân tộc. Trình độ phát triển thể dục thể thao là một trong những tiêu chí đánh
giá trình độ văn hóa và năng lực sáng tạo của dân tộc, là phương tiện để giao lưu văn
hóa nói chung, văn hóa thể chất nói riêng và mở rộng quan hệ với các dân tộc khác
trên thế giới. Các hoạt động thể dục thể thao quần chúng cũng như các hoạt động thi
đấu thể thao, biểu diễn thể thao thành tích cao dần trở thành nhu cầu của nhân dân.
Các hoạt động đó không chỉ có tác dụng như một hình thức giải trí, nghỉ ngơi tích cực
mà còn mang lại niềm vui, khích lệ lòng tự hào dân tộc, sự cổ vũ to lớn cho nhân dân.
Từ cơ sở trình bày trên có thể khẳng định trong bất cứ điều kiện nào cũng cần
chủ động phát triển các hoạt động thể dục thể thao trong nhân dân và hướng hoạt
động thể dục thể thao vào những mục tiêu chủ yếu là nâng cao sức khỏe, xây dựng
con người mới, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần
mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, an ninh
quốc phòng của đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng X cũng tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh các hoạt
động thể dục thể thao cả về quy mô và chất lượng. Khuyến khích và tạo điều kiện để
toàn xã hội tham gia hoạt động và phát triển sự nghiệp thể dục thể thao. Phát triển
mạnh thể thao quần chúng, thể thao nghiệp dư, trước hết là trong thanh niên, thiếu
niên. Làm tốt công tác giáo dục thể chất trong trường học. Mở rộng quá trình chuyên
bãi, dụng cụ chưa được quy chuẩn, thiếu về số lượng và kém về chất lượng chưa đáp
ứng được nhu cầu đòi hỏi của công tác huấn luyện thể thao hiện đại); đội ngũ cán bộ
làm công tác quản lý (HLV, trợ giáo), cán bộ khoa học còn hạn chế về trình độ quản
lý chung cũng như trình độ lý luận chuyên môn, nên chưa phát huy được tối đa hiệu
quả của công tác quản lý, đào tạo VĐV. Vì vậy, để làm tốt chức năng của mình, Trung
tâm TDTT Quân đội phải kiện toàn và nâng cấp hạ tầng cơ sở, đầu tư các trang thiết
bị hiện đại phục vụ cho công tác huấn luyện và đào tạo, đặc biệt phải chú trọng nâng
cao trình độ nhận thức về lý luận và thực tiễn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội
ngũ HLV, VĐV và nhất là trình độ quản lý chuyên môn đối với VĐV. Vấn đề này đã
có một số công trình nghiên của các tác giả như: Đỗ Hữu Trường (2004); Lê Vương
Anh (2005); Dương Thái Bình (2010); Nguyễn Duy Tự (2010). Những công trình
trên có ý nghĩa to lớn đối với công tác quản lý và đào tạo VĐV hiện nay. Song việc
đề cập biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chuyên môn của
VĐV ở các trung tâm thể dục thể thao lại chưa được đi sâu nghiên cứu.
Xuất phát từ thực trạng trên, với mong muốn hoàn thiện và nâng cao hơn nữa
hiệu quả công tác quản lý VĐV thể thao nói chung và Trung tâm TDTT Quân đội nói
riêng, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn biện pháp nâng cao
hiệu quả công tác quản lý chuyên môn đối với vận động viên của Trung tâm TDTT
Quân đội”.
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn công tác quản lý VĐV của Trung tâm
TDTT Quân đội nhằm tìm ra các điểm mạnh và yếu, đồng thời tìm ra các biện pháp
mới hợp lý để bổ xung, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác quản lý VĐV của
Trung tâm.
Mục tiêu nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định các mục tiêu cụ thể sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác quản lý huấn luyện đối với VĐV
của Trung tâm TDTT Quân đội.
Để giải quyết mục tiêu 1 đề tài giải quyết các vấn đề sau:
Lãnh đạo: Là hoạt động của những người đề ra chủ trương, đường lối, chỉ ra
những phương pháp hoạt động cho một tổ chức, một đơn vị để đạt tới mục tiêu chung
(có thể là của cả một xã hội, một nhà nước, một xí nghiệp, một cơ quan, một nhà
trường).
Quản lý: Là hoạt động của những người điều khiển, điều tiết tổ chức thực hiện
mọi công việc của đơn vị vì mục tiêu chung.
Management (Quản lý): Là sự giao nhận những trách nhiệm cá nhân để đạt
được những mục tiêu cụ thể và rõ ràng; Management là phương thức tác động vào
con người khiến họ sẵn sàng nhận trọng trách để thực hiện các mục tiêu đã được đề ra
và coi nó là nhiệm vụ chung cần phải hoàn thành; Management là quá trình triển
khai, phân công trách nhiệm trong việc lập kế hoạch và kiểm tra các nguồn lực (con
người, cơ sở, công trình…) trong nội bộ của một tổ chức, đơn vị nhằm thực hiện
những mục tiêu nhất định.
Quản lý nhà nước về Thể dục thể thao: Là thể hiện chức năng quản lý Nhà
nước thông qua các thể chế và các tổ chức của ngành thể dục thể thao để chỉ đạo,
quản lý các hoạt động TDTT.
Thể dục thể thao: Là một bộ phận của nền văn hoá xã hội, một loại hình hoạt
động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực (thể hiện cụ thể qua cách thức rèn
luyện thân thể) nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể
thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá và giáo dục con người phát triển cân
đối, hợp lý.
Luật Thể dục thể thao: Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu
lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, tại điều 5 và điều 6 đã nêu rõ về cơ quan quản lý
nhà nước về thể dục thể thao và các nội dung cơ bản về quản lý nhà nước về thể dục
thể thao cụ thể như sau:
Điều 5. Cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao.
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thể dục thể thao.
tập thể và lòng trung thực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc.
Những năm gần đây, công tác thể dục thể thao đã có nhiều tiến bộ về cơ sở vật
chất từng bước được nâng cấp và mở rộng với nhiều hình thức nhiều môn thể thao
được khôi phục và phát triển rộng đến các địa phương. Để đạt được những tiến bộ đó
là nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của công tác đoàn thể, do sự cố gắng của
đội ngũ cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên và sự tham gia của nhân dân trong
quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Để đảm bảo cho sự nghiệp thể dục thể thao của nước ta được phát triển vững
chắc, đem lại hiệu quả thiết thực từng bước xây dựng nền thể dục thể thao xã hội chủ
nghĩa phát triển cân đối, có tính chất dân tộc, khoa học và nhân dân, cần mở rộng và
nâng cấp chất lượng các hoạt động thể thao quần chúng trước hết là cho học sinh,
thanh niên và các lực lượng vũ trang. Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục
thể thao là hình thành nền thể thao phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe,
thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa, tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí
xứng đáng trong hoạt động thể dục thể thao quốc tế, trước hết là khu vực Đông Nam
Á.
Chỉ thị 36 - CT/TW Hà Nội, ngày 24/3/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng
chỉ rõ: “Phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát
triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con
người, công tác thể dục thể thao phải đóng góp tích cực nâng cao sức khỏe, thể lực,
giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa,
tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các
lực lượng vũ trang… phát triển thể dục thể thao là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng,
chính quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội, là nhiệm vụ của toàn xã hội,
trong đó ngành thể dục thể thao đóng vai trò là nòng cốt. Xã hội hóa tổ chức các hoạt
động thể dục thể thao dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước” [10].
Thành tích các môn thể thao của nước ta còn thua kém so với các nước trong
khu vực. Lực lượng vận động viên trẻ còn rất mỏng. Có nhiều biểu hiện tiêu cực
kiện cho sự phát triển mạnh mẽ nền thể dục thể thao Việt Nam.
- Đầu tư tập trung hoàn thành các công trình thể thao trọng điểm của quốc gia và
một số địa phương, từng bước hiện đại hóa các cơ sở đào tạo cán bộ, đào tạo vận
động viên, nghiên cứu ứng dụng và thông tin khoa học thể dục thể thao. Mở rộng sản
xuất các thiết bị, dụng cụ thể thao.
- Xây dựng hệ thống đào tạo vận động viên chuyên nghiệp bao gồm các trung
tâm đào tạo vận động viên quốc gia, các cơ sở đào tạo vận động viên ở một số tỉnh,
thành phố, ngành.
Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thể dục thể thao, coi trọng chất lượng cả về
chính trị, đạo đức và chuyên môn. Nâng cao ý thức trách nhiệm, tổ chức kỷ luật, lòng
yêu nước và tự hào dân tộc cho cán bộ, huấn luyện viên, vận động viên và trọng tài,
chống biểu hiện tiêu cực và những xu hướng lệch lạc trong hoạt động thể dục thể
thao.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập khối ASEAN Đảng và Nhà nước ta
đã xác định mục tiêu trước mắt và lâu dài của thể dục thể thao nói chung và thể thao
thành tích cao nói riêng.
- Nhiệm vụ trước mắt:
- Thể dục thể thao phải góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân để thiết thực
phục vụ sản xuất, công tác, học tập và sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Mục tiêu lâu dài của
thể dục thể thao là góp phần cải tạo giống nòi, làm cho con người ngày càng cường
tráng, sức khỏe tốt, tăng về chiều cao và cân nặng, tăng tuổi thọ và chống lại bệnh tật.
Ngày 2/4/1998 Thường vụ Bộ chính trị khóa VIII ra Thông tri về tăng cường
lãnh đạo công tác thể dục thể thao cần chú trọng một số điểm như sau:
- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức đào tạo vận động viên, coi trọng chất lượng
toàn diện về chính trị, đạo đức, văn hóa và chuyên môn, nâng cao về chất lượng và
hiệu quả đào tạo vận động viên của các trung tâm thể thao, thực hiện chủ trương từng
bước chuyên nghiệp hóa trong một số môn thể thao.
- Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức thể
có khả năng thực thi để ngăn chặn tình trạng sa sút về sức khoẻ của nhân dân, đặc
biệt là của thế hệ trẻ, từng bước nâng cao thể lực của con người Việt Nam, đáp ứng
yêu cầu lao động trong những điều kiện mới và sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Với ý nghĩa
đó, phát triển thể dục thể thao được coi là nội dung quan trọng của chính sách xã hội.
Cương lĩnh của Đảng đã khẳng định: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con
người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”, đồng thời nêu rõ một trong những nội dung quan
trọng của chính sách xã hội là “bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất
của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng
cao thể chất”.
Thể dục thể thao có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ, xây dựng
con người mới, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, góp phần
mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh,
quốc phòng của đất nước.
Cần khắc phục những quan niệm cho rằng thể dục thể thao chỉ là việc vui chơi
giải trí đơn thuần, có hay không cũng được, hoặc cho rằng phải chờ khi nào kinh tế
khá lên thì mới cần đến thể dục thể thao, còn trong điều kiện kinh tế khó khăn, thì cần
phải tập trung lo cho đời sống vật chất, chưa cần đến các hoạt động thể dục thể thao.
Tất nhiên sự phát triển thể dục thể thao không thoát ly các điều kiện phát triển kinh tế
- xã hội, nhưng nếu quan niệm thể dục thể thao chỉ là kết quả của kinh tế, thì như vậy
đã phủ định vai trò chủ động, tích cực của nó và tự tước bỏ đi những giá trị văn hoá
và hiệu quả vô giá về sức khoẻ mà thể dục thể thao đem lại cho xã hội.
1.3.1. Công tác Quản lý Nhà nước về các hoạt động Thể dục thể thao
Ở nước ta phát triển thể dục thể thao được coi là một chính sách xã hội mà Nhà
nước ngày càng có vai trò chủ đạo và quyết định.
Chức năng chính của Nhà nước trong lĩnh vực này trước hết là những định
hướng bằng những chính sách và luật pháp; đảm bảo những điều kiện cơ bản cho sự
phát triển thể dục thể thao (cán bộ, cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật…); thực hiện sự
thời điểm và dự kiến tác động tương hỗ của các yếu tố kinh tế, xã hội, trình độ phát
triển khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển của thể thao thành tích cao.
- Nghiên cứu xem xét kỹ trình độ phát triển thành tích thể thao của các nước
trong khu vực, châu lục, thế giới để xác định mục tiêu lâu dài, mục tiêu từng giai
đoạn.
- Mục tiêu cần được xác định rõ, cụ thể cho cả thời kỳ, đồng thời cần xác định
mục tiêu cho từng giai đoạn và từng năm để trên cơ sở đó xác định rõ, cụ thể có khả
năng thực thi, các biện pháp để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ nhằm đạt tới
những mục tiêu đã đề ra.
Xác định các nhiệm vụ lớn cho cả thời kỳ và nhiệm vụ cho mỗi giai đoạn để
thực hiện các mục tiêu đã đề ra
- Nhiệm vụ phát triển các môn thể thao, cần căn cứ vào các yếu tố: Truyền
thống, trình độ phát triển, trình độ quản lý, điều kiện đảm bảo để xác định những môn
thể thao cần phát triển về lâu dài, trong từng giai đoạn trên nguyên tắc không dàn trải,
bình quân mà phải tập trung phát triển các môn trọng điểm ở từng địa phương trọng
điểm để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong quá trình phát triển.
- Nhiệm vụ xây dựng hệ thống, mạng lưới đào tạo và tổ chức đào tạo vận động
viên:
+ Khi xây dựng hệ thống và mạng lưới đào tạo vận động viên cần xác định mô
hình đào tạo ở từng cấp và phân công trách nhiệm đào tạo cho từng loại hình đào tạo
trên cơ sở phân chia tuyến đào tạo.
+ Đảm bảo sự quản lý, chỉ đạo thống nhất và hệ thống về chuyên môn, phù hợp
với quy trình đào tạo tài năng thể thao.
+ Hình thức và quy mô tổ chức hết sức linh hoạt phù hợp với điều kiện phát
triển thể thao, trình độ quản lý, điều kiện kính tế – xã hội ở mỗi giai đoạn.
- Nhiệm vụ phát triển lực lượng vận động viên: Căn cứ mục tiêu cần đạt được,
kế hoạch phát triển các môn thể thao trong từng giai đoạn và của cả thời kỳ để dự
kiến lực lượng vận động viên cần đưa vào đào tạo ở từng tuyến và phân công trách
Quản lý hệ tiêu chuẩn đánh giá hệ thống huấn luyện về số lượng, chất lượng,
phạm vi, cơ chế điều khiển gồm:
- Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và hiệu quả của hệ thống đào tạo – huấn luyện
gồm số lượng theo độ tuổi, cấp bậc trình độ vận động viên. Đây là tiêu chuẩn quan
trọng nhất, cần tính đến hiệu quả kinh tế của việc đào tạo trên cơ sở phải tính đến tỷ
lệ đào thải, tỷ lệ thành tài.
- Tiêu chuẩn về việc ứng dụng khoa học và hiện đại quá trình huấn luyện và hệ
thống quản lý tương ứng nhằm giúp cho công tác đào tạo có hiệu quả hơn.
- Trình độ giáo dục, hiểu biết xã hội của vận động viên. Cần chú ý tới trình độ
văn hoá, tri thức tương xứng với trình độ thể thao.
- Đánh giá về mức độ xã hội hoá quá trình đào tạo vận động viên.
Xã hội hoá thể thao thành tích cao phải nhằm mục đích cao nhất là hình thành và
điều khiển có hiệu quả hệ thống đào tạo vận động viên đạt chất lượng cao.
Đó chính là đầu tư chiều sâu để hiện đại hoá và khoa học hóa quá trình đào tạo –
huấn luyện.
Theo học thuyết huấn luyện hiện đại thì hệ thống đào tạo huấn luyện thể thao sẽ
bao gồm 4 giai đoạn chủ yếu là nền tảng cơ sở để hình thành các đội tuyển thể thao.
Giai đoạn 1: Tuyển chọn và đào tạo ban đầu
Từ những lớp trẻ có độ tuổi thích hợp với cấu trúc vận động của từng môn thể
thao, có thể tuyển chọn ra những em có năng khiếu, ham mê và ưa thích tập luyện
vào các đội thể thao. Các lớp này được tổ chức theo hình thức nghiệp dư, năng khiếu
cơ sở tập trung hay bán tập trung trong các câu lạc bộ TDTT cơ sở hoặc trường năng
khiếu thể thao. Công tác đào tạo, huấn luyện ở đây thường được thực hiện rất cơ bản
nhằm hình thành những cơ sở nền tảng (thể lực, kỹ năng, kỹ thuật, động cơ…) cho sự
phát triển năng khiếu và tài năng thể thao. Theo GS.TS Dương Nghiệp Chí thì tuyển
chọn cho giai đoạn này phải căn cứ vào các đặc điểm sau:
- Đặc điểm của từng môn thể thao
+ Mỗi môn thể thao lại có lứa tuổi tuyển chọn ban đầu khác nhau, ví dụ Thể dục
toàn diện, nâng cao khả năng chức phận của các cơ quan và hệ cơ quan, đa dạng
phong phú khả năng vận động.
+ Huấn luyện chung là chủ yếu.
+ Chuyên môn hóa ban đầu mang tính đa môn (vận động viên Bơi nên tập nhiều
kiểu bơi).
+ Chọn môn thể thao chuyên sâu qua một môn trung gian (vận động viên
Marathon sẽ tập chạy ở cự ly ngắn hơn).
+ Xử lý hàng rào tốc độ cho cho vận động viên.
+ Tỷ lệ huấn luyện chuyên môn trong thời gian đầu thường nhỏ, cho đến giai
đoạn cuối thì sẽ tăng lên.
+ Thời gian cho giai đoạn này là từ 3 – 5 năm.
+ Công tác quản lý được thực hiện tập trung, thống nhất chặt chẽ trên tất cả các
mặt.
+ Tăng cường giáo dục đạo đức cho vận động viên.
Giai đoạn 3: Chuyên môn hóa sâu
Khi kết thúc giai đoạn chuyên môn hóa ban đầu thì các vận động viên sẽ được
đưa vào trong các đội tuyển ở các câu lạc bộ của các tỉnh thành hay tuyển trẻ quốc
gia.
- Mục đích:
Huấn luyện chuyên môn hóa sâu theo một môn thể thao hay một nội dung thi
đấu nhằm phát triển thể lực chuyên môn, hoàn thiện kỹ - chiến thuật và khả năng phát
triển thành tích trong thi đấu.
- Đặc điểm:
+ Vận động viên được huấn luyện theo kế hoạch chặt chẽ.
+ Huấn luyện chuyên môn chiếm tỷ lệ cao hơn nhiều so với huấn luyện chung
và đã chú ý đến thể lực thi đấu chuyên môn.
+ Hoàn thiện kỹ thuật theo cấu trúc môn thể thao chuyên sâu.
+ Rèn luyện tư duy chiến thuật phục vụ cho thi đấu.