ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TẠ THỊ ANH
BIẾN ĐỔI QUAN HỆ DÒNG HỌ CỦA NGƢỜI
TÀY Ở XÃ QUANG LANG, HUYỆN CHI LĂNG,
TỈNH LẠNG SƠN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY.
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nhân học
Hà Nội-2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TẠ THỊ ANH
BIẾN ĐỔI QUAN HỆ DÒNG HỌ CỦA NGƢỜI
TÀY Ở XÃ QUANG LANG, HUYỆN CHI LĂNG,
TỈNH LẠNG SƠN TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY.
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số: 60 31 03 02
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thanh Bình
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu ........................... 3
4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu .............................................................. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 5
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ...................................................... 6
7. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 7
Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu ......... 8
1.1. Tổng quan nghiên cứu về dòng họ. ......................................................... 8
1.1.1. Nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở Việt Nam ........................ 8
1.1.2. Nghiên cứu vềdòng họ của người Tày. ................................................. 12
1.2. Các khái niệm và cơ sở lý thuyết ............................................................ 14
1.2.1. Các khái niệm ........................................................................................ 14
1.2.2. Cơ sở lý thuyết ....................................................................................... 16
1.3. Khái quát về ngƣời Tày và địa bàn nghiên cứu .................................. 20
1.3.1. Vài nét về người Tày ở Việt Nam .......................................................... 20
1.3.2. Vài nét về người Tày xã Quang Lang ................................................... 22
1.4. Khái quát về điểm nghiên cứu chính .................................................... 30
1.4.1. Thôn Khun Phang, xã Quang Lang. .................................................... 30
1.4.2 . Thôn Làng Đăng, xã Quang Lang. ...................................................... 31
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 33
Chƣơng 2: Dòng họ của ngƣời Tày ở xã Quang Lang............................... 34
2.1. Quan niệm về dòng họ của ngƣời Tày. ............................................... 34
2.2. Cấu trúc dòng họ ................................................................................... 36
2.3. Tổ chức dòng họ ngƣời Tày xã Quang Lang ...................................... 39
2.4. Vai trò của trƣởng họ và những ngƣời có uy tín trong dòng họ ...... 45
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 49
Chƣơng 3: Biến đổi quan hệ dòng họ trong tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên
và các nghi lễ vòng đời từ năm 1986 đến nay. ............................................ 50
3.1 Biến đổi quan hệ dòng họ của ngƣời Tày trong tín ngƣỡng thờ cúng tổ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dòng họ là một thành tố văn hóa của tộc người, yếu tố cơ bản trong cấu
trúc cộng đồng xã hội. Cho đến nay mọi giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội đều in
đậm dấu ấn dòng họ. Vì vậy, dòng họ không chỉ đóng vai trò chủ đạo cố kết
các thành viên trong cộng đồng mà còn góp phần bảo lưu, tái tạo, trao truyền
các giá trị văn hóa tộc người. Quan niệm về dòng họ với những câu đúc kết từ
bao đời nay “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Đắng cay cũng thể ruột rà,
ngọt ngào cho lắm cũng là người dưng” không chỉ ăn sâu trong tư tưởng của
người Kinh (Việt) mà ở cả nhiều tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Hiện nay, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ ở
Việt Nam, cấu trúc, chức năng, vai trò của dòng họ đang có nhiều biến đổi
nhanh chóng. Đặc biệt là hiện tượng phục hưng nhiều các hoạt động có liên
quan đến dòng họ cho thấy giá trị quan trọng của dòng họ trong nhận thức của
cộng đồng. Vì vậy, nghiên cứu về dòng họ và những biến đổi của dòng họgóp
phần định hướng phát triển văn hóa, phát triển xã hội, đảm bảo tính đa dạng
văn hóa và giữ gìn bản sắc dân tộc. Đồng thời, tạo cơ sở khoa học cho việc
hoạch định và xây dựng chính sách phát triển đất nước trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
Người Tày là cộng đồng dân tộc có dân số đông nhất trong các dân tộc
thiểu số ở nước ta, với 1.626.392 người (theo Tổng điều tra dân số và nhà
ở năm 2009), phân bố tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn,
Tuyên Quang, Hà Giang, Lào Cai, Thái Nguyên,…Người Tày sớm đã xây
dựng được nền văn hóa phong phú, đa dạng nhưng vẫn mang đậm bản sắc
văn hóa tộc người. Trong đó, dòng họ là vấn đề được người Tày rất coi
trọng.Nó không chỉ là yếu tố để duy trì, củng cố mối quan hệ giữa các gia
đình, mà còn liên quan chặt chẽ tới bản sắc văn hóa và ý thức về “cuội
nguồn” của tộc người.
ở địa phương.
- Xác định các yếu tố tác động đến sự biến đổi của dòng họ và quan hệ
dòng họ cũng như xu hướng biến đổi của các quan hệ đó trong bối cảnh hiện nay.
2
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là những hoạt động liên quan
đến dòng họ và quan hệ dòng họ của người Tày ở xã Quang Lang, huyện Chi
Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một luận văn thạc sĩ và
phụ thuộc vào thực tế nghiên cứu cho thấy những yếu tố nào trong quan hệ
dòng họ của người Tày ở đây có sự biến đổi rõ rệt nhất, đề tài chỉ tập trung
vào quan hệ dòng họ ở một số khía cạnh của đời sống văn hoá tín ngưỡng, các
hoạt động kinh tếvà đời sống xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Không gian:
Luận văn tập trung vào mốiquan hệ dòng họ của các dòng họ người
Tày ở hai thôn Khun Phang và làng Đăng, xã Quang Lang, huyện Chi Lăng,
tỉnh Lạng Sơn.
Phạm vi thời gian:
Đề tài nghiên cứu về sự biến đổi trong quan hệ dòng họ của người Tày
từ sau Đổi mới (1986) đến nay. Tuy nhiên, để có thể thấy rõ được sự biến đổi
trong quan hệ dòng họ, nghiên cứu có tìm hiểu, đề cập tới thời kỳ trước đổi
mới trong khuôn khổ tài liệu thứ cấp cho phép.
3.3. Địa bàn nghiên cứu
Đề tài chọn xã Quang Lang, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn làm địa
bàn nghiên cứu. Nằm ở khu vực phía Nam Lạng Sơn, đây là vùng sâu trong
nội địa của tỉnh. Người Tày ở huyện Chi Lăng nói chung ít tham gia các hoạt
động thương mại xuyên biên giới. Nông nghiệp, buôn bán nhỏ và dịch vụ là
Quan hệ dòng họ đóng vai trò như thế nào trong đời sống kinh tế,
văn hóa và xã hội của người Tày từ sau Đổi mới?
-
Đâu là nguyên nhân và xu hướng của biến đổi trong quan hệ
dòng họ của người Tày?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu này giải thuyết rằng từ sau Đổi mới (1986), dưới tác động
của bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập nền kinh tế, đời sống
của người Tày ở Lạng Sơn đang dần được cải thiện. Từ đó nảy sinh nhu cầu
phục hồi lại các hình thức tổ chức sinh hoạt trong dòng họ, đồng thời, củng cố
lại cấu trúc dòng họ. Vai trò và vị trí của cá nhân trong dòng họ ngày càng
được tăng cường. Nhờ đó, giá trị cơ bản dòng họ dần được phục sinh sau thời
gian dài bị vùi lấp đi trong thời bao cấp. Dòng họ ngày càng đóng vai trò quan
4
trọng trong đời sống của người Tày. Nó như là chỗ dựa tinh thần, một nguồn
vốn xã hội cho cộng đồng trong nền kinh tế thị trường.
Mối quan hệ trong dòng họ của người Tày ngày càng được củng cố và
chuyển biến theo hướng tích cực. Con người có xu hướng cố kết lại với nhau
để ứng phó với thách thức trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình
hiện đại hoá. Nhưng những mối quan hệ này lại dễ bị tác động bởi những
quan hệ kinh tế và lợi ích kinh tế mới. Vì vậy, cũng nảy sinh một số mâu
thuẫn giữa các gia đình, dòng họ và các thành viên trong cộng đồng do ảnh
hưởng của lối sống mới du nhập và tệ nạn xã hội trong cộng đồng ngày càng
gia tăng.
Quan hệ dòng họ có vai trò quan trọng trong cả đời sống tín ngưỡng và
thanh niên, học sinh…. Sự đa dạng về giới, độ tuổi như vậy cho phép thu
được nguồn thông tin đa chiều về liên quan đến dòng họ và quan hệ trong
dòng họ của người Tày ở địa bàn nghiên cứu.
Luận văncũng sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và
tổng hợp để hệ thống hóa các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp thu được trong
quá trình điều tra, nghiên cứu. Phân tích và so sánh để đánh giá thực trạng
biến đổi, vị trí, vai trò của dòng họ và mối quan hệ trong dòng họ của người
Tày sau Đổi mới đến nay.
Ngoài ra, luận văn kế thừa một số kết quả định lượng của đề tài “Biến
đổi kinh tế - xã hội của người Tày ở một xã vùng Đông Bắc” của Viện Dân
tộc học mà học viên đã có cơ hội tham gia năm 2016. Được sự cho phép của
chủ nhiệm đề tài, học viên sử dụng kết quả xử lý 140 phiếu điều tra hộ gia
đình liên quan đến đời sống kinh tế, xã hội của người Tày hai thôn Khun
Phang và Làng Đăng, xã Quang Lang, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung thêm tư liệu thực tế
về dòng họ và biến đổi quan hệ dòng họ của người Tày ở một địa phương cụ
thể vùng Đông Bắc.
6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua tìm hiểu, phân tích về mối quan hệ dòng họ của người Tày, đề tài
góp phần làm rõ hơn cấu trúc, tổ chức sinh hoạt, chức năng, vai trò và vị trí
của dòng họ trong đời sống của cộng đồng, qua đó, cho thấy quá trình vận
động và biến đổi trong quan hệ dòng họ của người Tày dưới tác động của quá
trình Đổi mới đất nước hiện nay.Đặc biệt,đề tài luận văn giúp nhìn nhận rõ
hơn về việc dòng họcó phải là yếu tố cốt lõi thúc đẩy sự cố kết bên trong và
sự giao lưu ra bên ngoài của cộng đồng người Tày hiện nay hay không; Dòng
nên kết cấu làng xã. Dòng họ sớm đã đóng vai trò và chiếm vị trí quan trọng
trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Việt. Do vậy, từ
lâu dòng họ là đề tài thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu với nhiều lĩnh vực
khác nhau: xã hội học, sử học, văn hóa, dân tộc học… Vấn đề dòng họ được
đề cập trong các bộ chính sử, các công trình nghiên cứu về làng xã, các
chuyên khảo về dòng họ trong mối quan hệ với văn hoá, phong tục người
Việt, cấu trúc kinh tế - xã hội Việt Nam truyền thống(Gourou 2004, Trần
Quốc Vượng 1997, Phan Đại Doãn 1999; 2003, Trần Từ 1984,...). Những
công trình này từ chỗ hệ thống, mô tả về phả hệ của các dòng họ hay thống
kê, điều tra về tên các dòng họ ở các làng xã trong thời phong kiến và thuộc
địa đã đi tới tìm hiểu về cấu trúc, nội dung, vai trò và ảnh hưởng của dòng họ
đối với các thành viên, trong đời sống cộng đồng làng xã và trong lịch sử của
dân tộc.
Tiếp nối hướng nghiên cứu trên, trong những năm 2000, đã có nhiều
công trình khóa luận, luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề dòng họ của
người Kinh ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tiêu biểu, luận án Tiến sĩ Lịch sử của
Phan Chí Thành (2006), với nghiên cứu “Dòng họ và đời sống làng xã ở đồng
bằng Bắc Bộ qua tư liệu ở một số xã thuộc huyện Thạch Thất – Hà Tây”;
Luận văn thạc sĩ ngành Văn hóa học của Đỗ Thị Phương Anh (2006) về “Văn
hóa dòng họ Nguyễn Quý làng Đại Mỗ (xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, thành
phố Hà Nội)”; Khóa luận tốt nghiệp Lịch sử của Lê Minh Anh (2000) về
“Dòng họ và quan hệ dòng họ của người Việt làng Hoành Nha, huyện Giao
Thủy, tỉnh Nam Định”… Mặc dù các công trình này còn nặng về truyền thống
nhưng đã khái quát được thực trạng, xu hướng vận động và một số biến đổi
8
của các dòng họ ở các địa phương khác nhau, qua đó làm rõ vai trò của dòng
họ trong đời sống cộng đồng.
Mới đây nhất, có hai nghiên cứu quan trọng về quan hệ dòng họ của
Hội đồng gia tộc được thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp với tính năng động
của các thành viên trong họ. Giống như Nguyễn Tuấn Anh (2015), tác giả
khẳng định rằng nữ giới ngày nay cũng có thể được tham gia vào việc họ.
Ngoài ra, còn có sự biến đổi trong tổ chức thờ cúng dòng họ với phong trào
trùng tu, tôn tạo nhà thờ, tổ chức thờ cúng với quy mô và hình thức lớn hơn.
Trong khi đó, do những thay đổi trong tục lệ tang ma, cưới xin, sự tương trợ
về kinh tế, nhân công của dòng họ trong các dịp này lại giảm đi. Vai trò của
quan hệ dòng họ trong lĩnh vực kinh tế cũng không thực sự nổi bật do quan hệ
dòng họ trong hoạt động kinh tế ở làng nghề ở đây vốn đã mờ nhạt.
Điểm lại các công trình nghiên cứu về dòng họ ở người Việt cho thấy
các nghiên cứu còn nặng về quá khứ, ít thảo luận về sự biến đổi của các yếu
tố truyền thống trong xã hội đương đại. Tuy nhiên, kết quả của một số ít các
nghiên cứu đề cập đến biến đổi của quan hệ dòng họ ở làng Việt nêu trên cho
thấy nhiều khía cạnh trong quan hệ dòng họ đã và đang biến đổi. Có cả sự
tương đồng và khác biệt trong xu hướng biến đổi ở các cộng đồng, tuỳ thuộc
vào đặc thù kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi địa phương. Các kết quả đó gợi
mở sự cần thiết phải có những nghiên cứu chuyên sâu hơn về vai trò của dòng
họ, quan hệ dòng họ như là một phần của thiết chế văn hoá, xã hội trong sự
phát triển hiện nay của người Việt và việc áp dụng những hướng nghiên cứu
này ở các tộc người thiểu số ở nước ta trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.
Nghiên cứu về dòng họ và quan hệ dòng họ ở các tộc người thiểu số:
Dòng họ và quan hệ dòng họ được đề cập và nghiên cứu trong nhiều
công trình Dân tộc học/Nhân học về các tộc người thiểu số ở nước ta. Do điều
kiện hạn hẹp, chúng tôi chỉ xin điểm qua một vài xu hướng nghiên cứu chính
về chủ đề này ở một số tộc người.
Ở khu vực miền núi phía Bắc, các nghiên cứu về dòng họ và quan hệ
dòng họ tập trung nhiều vào các dân tộc có dân số lớn như Thái, Nùng,
Hmông... Trong đó, có thể nói, nghiên cứu về dòng họ người Hmông thu hút
10
11
trò của cá nhân trong dòng họ. Đồng thời tác giả làm rõ mối quan hệ dòng họ
trong đời sống tín ngưỡng, trong hoạt động kinh tế và trong hoạt động của hệ
thống chính trị cơ sở. Kết quả nghiên cứu cho thấy nét đặc trưng của dòng họ
người Nùng Phàn Slình thể hiện ở sự phân biệt các chi họ thông qua số lượng
chén thờ, cách thức cúng, hệ thống tên đệm. Trong các chức năng, quan hệ
dòng họ của người Nùng Phàn Slình, tín ngưỡng dòng họ đóng vai trò quan
trọng trong cố kết cộng đồng. Bên cạnh tín ngưỡng, hoạt động tương trợ cũng
là chức năng lớn của quan hệ dòng họ. Hai chức năng này trong quan hệ dòng
họ đã tạo nên mạng lưới quan hệ của cá nhân và gia đình. Mối quan hệ này
không chỉ ở bên nội mà còn ở họ ngoại và họ vợ/chồng; không chỉ ở cộng
đồng thôn bản mà trong nhiều trường hợp còn vượt ra ngoài phạm vi thôn
bản, thậm chí xuyên biên giới. Cũng giống ở người Hmông, quan hệ dòng họ
góp phần củng cố sự cố kết tộc người ở người Nùng Phàn Slình.
Ngoài những công trình tiêu biểu trên còn rất nhiều công trình nghiên
cứu khác về dòng họ của các dân tộc thiểu số như: người Mường, người Pa
Cô, người Ê đê, người Hrê, người Tà ôi, người Vân Kiều,…Tổng quan các
nghiên cứu cho thấy dòng họ trong đời sống của bất kỳ dân tộc nào cũng đều
có vị trí quan trọng nhất định kể cả trong truyền thống và hiện đại. Quan hệ
dòng họ đều chi phối đến mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các
dân tộc. Do vậy, nghiên cứu về dòng họ là việc làm cần thiết để phát huy hết
vai trò của nó trong đời sống cộng đồng và trong xây dựng, giữ gìn, bảo lưu
truyền thống văn hóa tộc người ở nước ta. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên
cứu về dòng họ ở các tộc người thiểu số ở nước ta cho đến nay thường phân
tích các đặc điểm, cấu trúc, chức năng và quan hệ dòng họ ở trạng thái tĩnh,
chưa làm nổi bật được những biến đổi trong quan hệ dòng họ của các tộc
người trong các thời kỳ, đặc biệt là từ Đổi mới (1986) đến nay.
1.1.2 Nghiên cứu vềdòng họ của người Tày.
truyền thống gồm bốn lĩnh vực quan trọng: quan hệ trong cư trú; quan hệ
trong công việc sản xuất, làm ăn kinh tế; quan hệ về mặt tổ chức tôn ti trong
dòng tộc và quan hệ trong văn hóa – tín ngưỡng. Tác giả cho rằng trong bối
cảnh đổi mới của đất nước, các giá trị cơ bản của dòng họ người Tày ở Lạng
13
Sơn đã được phục hồi sau một thời gian dài bị vùi lấp trong thời bao
cấp.Ngoài ra nó còn được mở rộng về mặt không gian, cũng như được tiếp
thêm nguồn sinh lực mới. Có thể nói đây là một số phát hiện, quan điểm mới
khẳng định về sự biến đổi trong quan hệ của người Tày sau Đổi mới. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ hạn hẹp của một luận án phải đề cập đến nhiều khía
cạnh văn hoá của người Tày, với 4 trang viết về biến đổi trong quan hệ dòng
họ, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định một số nét biến đổi cơ bản
trong quan hệ dòng họ của người Tày mà chưa thực sự đi sâu tìm hiểu đầy đủ
các nội hàm của mối quan hệ đó.
Mới đây cuốn “Văn hóa truyền thống dân tộc Tày ở Tuyên Quang” của
Nguyễn Ngọc Thanh (2016) phân tích tổng quan về văn hóa truyền thống dân
tộc Tày ở Tuyên Quang qua các khía cạnh hoạt động sinh kế, tổ chức xã hội,
văn hóa tinh thần và vật chất. Trong đó, tác giả đã trình bày một cách tổng
quan về khái niệm, tổ chức và vai trò của dòng họ Tày ở Tuyên Quang.
Có thể nói, đến nay các nghiên cứu về người Tày chủ yếu đề cập đến
các vấn đề ở dạng tĩnh, ít biến động. Trên thực tế, chỉ có một số dự án nghiên
cứu, luận án tiến sĩ dân tộc học/nhân học, văn hóa học những năm gần đây đã
đề cập đến những biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội và văn hóa của dân
tộc Tày. Tuy nhiên, vấn đề dòng họ vẫn chủ yếu được nghiên cứu trong bối
cảnh truyền thống, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên khảo
sâu về sự biến đổi của nó sau bối cảnh đổi mới đất nước (1986). Vì vậy, tôi đã
chọn nghiên cứu chuyên sâu về biến đổi quan hệ dòng họ của người Tày ở
một cộng đồng địa phương từ khi Đổi mới đất nước đến hiện nay.
độ mẫu hệ). Dòng họ gắn kết các cá nhân với nhau, chịu ràng buộc theo quy
tắc nhất định, chi phối mạnh mẽ đến quan hệ hôn nhân và gia đình. Đối với
trường hợp người Tày trong nghiên cứu này, dòng họ là toàn thể những người
được tính theo huyết thống bên bố.
- Quan hệ dòng họ: là mối quan hệ với những người bên họ bố, họ mẹ
và họ vợ/chồng (của người có vợ/chồng). Theo đó, khi nói tới cấu trúc, chức
năng của quan hệ dòng họ là đề cập tới cấu trúc, chức năng của mối quan hệ
với ba họ nêu trên.
- Truyền thống: là khái niệm đôi khi được sử dụng trong văn hóa với ý
niệm chỉ thời gian trong tương quan so sánh với hiện đại.
15
- Biến đổi: theo Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa là thay đổi thành khác
trước (Nguyễn Như ý 1998, tr. 42). Biến đổi là một khái niệm rất rộng, trong
luận văn, chỉ xem xét sự biến đổi của dòng họ người Tày dưới hai góc độ xã
hội và văn hoá.
1.2.2. Cơ sở lý thuyết
Dòng họ là một trong các chủ đề kinh điển của Nhân học văn hóa và xã
hội bởi con người ai cũng có dòng họ với tư cách là các cá nhân và có liên hệ
với các cá nhân khác thông qua đó. Hơn nữa, trong các xã hội bộ tộc, các xã
hội chưa phân hóa giai cấp mà Nhân học thường nghiên cứu trước đây, dòng
họ đóng vai trò như một dạng tổ chức xã hội quan trọng. Chính vì thế, đã có
nhiều lý thuyết về dòng họ, đặc biệt là các trường phái cấu trúc và chức năng
trong nhân học xã hội.
Được lập nên bởi hai nhà nhân học Bronislaw Malinowski (1884-1942)
và Radcliffe Brown (1882-1955), thuyết chức năng về cơ bản cho rằng bất kỳ
sự ổn định nào cũng bao gồm nhiều bộ phận khác nhau tạo thành. Chúng có
mối liên hệ với nhau cùng vận hành để tạo nên sự ổn định của hệ thống đó.
có ảnh hưởng lớn tới nghiên cứu về dòng họ với việc chuyển từ mối quan tâm
các quan hệ theo dòng dõi sang các quan hệ của hôn nhân và trao đổi rộng
hơn. Phân tích về sự thiết lập, duy trì các mối quan hệ giữa các nhóm, vai trò
trung tâm của hôn nhân trong dòng họ của ông mang lại nhiều kết quả khi
nghiên cứu các xã hội phi nhà nước ở châu Phi, châu Đại Dương hay Nam
Mỹ và Đông Nam Á những năm giữa thế kỷ 20 nhưng được xem là không
phù hợp với các xã hội phương Tây nơi dòng họ được xem là tách rời khỏi
đời sống tôn giáo, kinh tế và chính trị (Carsten 2004, tr. 15).
Từ thập niên 1970 chứng kiến sự chuyển hướng trong Nhân học từ
chức năng, cấu trúc xã hội theo kiểu Anh, Pháp sang ý nghĩa văn hóa của
Nhân học Bắc Mỹ. Các nhà nhân học văn hóa mà đại diện tiêu biểu là
Clifford Geertz và David Schneider tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh
mang tính biểu tượng của dòng họ chẳng hạn các ý nghĩa gắn với một dạng cụ
thể của họ hàng, các biểu tượng, quan điểm về tính chủ thể, cơ thể và giới ảnh
17
hưởng như thế nào đến tư tưởng và thực hành của dòng họ. Trong tác phẩm
“A Critique of the Study of Kinship”, Schneider (1984) cho rằng tái sinh sản là
một biểu tượng chủ chốt của dòng họ trong một hệ thống được xác định bởi
hai trật tự chính là tự nhiên và quy luật. Sự kết hợp tính dục của hai bạn đời
trong hôn nhân cung cấp sự kết nối biểu tượng giữa những trật tự này. Kết
quả là con cái liên hệ với bố mẹ qua dòng máu, có chung nguồn gen sinh học,
biểu tượng hóa sự cố kết lâu dài. Bằng việc làm rõ vai trò của tự nhiên hay
sinh học trong quan điểm của các nhà Nhân học Mỹ về dòng họ, mối quan hệ
giữa tự nhiên và quy luật, Schneider đã gợi mở nhiều thảo luận lý thú cho các
học giả đi sau về chủ đề này. Strathern (1992) đã chứng minh rằng từ cuối thế
kỷ 20, tự nhiên không còn là điều hiển nhiên, là cơ sở của văn hóa nữa. Dưới
tác động của sự phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ liên quan đến sinh
sản, con người có nhiều sự lựa chọn về sinh sản, giới tính mà trước đó không