Nghiên cứu văn bản và đặc điểm sử dụng chữ hán trong ngôn chí thi tập của phùng khắc khoan - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
***************

PHÙNG DIỆU LINH

NGHIÊN CỨU VĂN BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CHỮ HÁN
TRONG NGÔN CHÍ THI TẬP CỦA PHÙNG KHẮC KHOAN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI- 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu...........................................................................................................2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .....................................................................................2
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................................3
5. Đóng góp mới của luận án..................................................................................................7
6. Cấu trúc của luận án ............................................................................................................8
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI..........9

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu văn bản và đặc điểm sử dụng chữ Hán trong
Ngôn chí thi tập .................................................................................................... 9
1.2. Giới thuyết một số khái niệm thuộc cơ sở lí luận của luận án .................... 20
1.3. Định hƣớng nghiên cứu của đề tài............................................................... 26
Tiểu kết ............................................................................................................... 27
CHƢƠNG 2: XÁC ĐỊNH BẢN NỀN VĂN BẢN NGÔN CHÍ THI TẬP................................28

dựng sơ đồ phả hệ văn bản.
Phụ lục 2: Đơn vị tác phẩm thuộc thiện bản Ngôn chí thi tập.
Phụ lục 3: Biện ngụy dị văn quyển 1, 2 văn bản Ngôn chí thi tập
Phụ lục 4: Bảng văn tự Hán xuất hiện trong thơ Phùng Khắc Khoan thuộc

Ngôn chí thi tập



1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Phùng Khắc Khoan là tác giả văn học lớn ở cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII.
Giáo trình Văn học Việt Nam (Thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII) đánh giá: “thơ
văn Phùng Khắc Khoan vừa có phần đối lập vừa có phần thống nhất với thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hai tác gia lớn này dƣờng nhƣ đã bổ sung cho nhau tạo nên
diện mạo đa dạng và phong phú của việc phản ánh lịch sử xã hội Việt Nam thời
bấy giờ” [39, 418]. Tuy nhiên, cho tới nay, mặc dù đƣợc nghiên cứu và đề cập
nhiều, đã có hai hội thảo lớn đƣợc tổ chức, nhƣng những khảo cứu về Phùng Khắc
Khoan lại chƣa thực sự đầy đủ. Thành công và có nhiều đóng góp nhất là mảng
nghiên cứu về cuộc đời, hành trạng, nội dung sáng tác văn học của Phùng Khắc
Khoan, còn mảng khuyết thiếu nhiều nhất là những nghiên cứu chuyên sâu về văn
bản và đặc điểm ngôn ngữ văn tự trong sáng tác thơ chữ Hán Phùng Khắc Khoan.
1.2. Ngôn chí thi tập 言志詩集 (NCTT) đƣợc đánh giá là tập thơ thành công nhất
của Phùng Khắc Khoan trong 4 tập thơ chữ Hán còn lại tới ngày nay. Các nhà
nghiên cứu thuộc những lĩnh vực khác nhau (văn học, sử học, văn học sử, triết
học,...) khi tìm hiểu về Phùng Khắc Khoan đều lấy tập thơ này làm dẫn chứng tiêu
biểu trong phân tích, chứng minh. Tuy nhiên, chƣa có một chuyên luận nào khảo
sát, nghiên cứu toàn diện về các vấn đề văn bản cũng nhƣ ngôn ngữ văn tự của tác
phẩm. Chƣa có một sơ đồ truyền bản nào đƣợc thiết lập cũng chƣa có một thiện

xa hơn mà luận án hƣớng tới.
Thứ hai: Từ số liệu thống kê ngôn ngữ văn tự Hán (tần số sử dụng trung
bình của văn tự, các nhóm văn tự có số lần xuất hiện cao) trong tác phẩm, thông
qua phân tích đặc điểm kết hợp của một số từ có số lần xuất hiện cao đột biến,
luận án nghiên cứu đặc điểm sử dụng ngôn ngữ văn tự trong thơ chữ Hán của
Phùng Khắc Khoan, trên cơ sở đó góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ tác giả
Phùng Khắc Khoan.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
- Các vấn đề văn bản học của văn bản NCTT.
- Đặc điểm sử dụng chữ Hán của Phùng Khắc Khoan trong NCTT.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: ở phƣơng diện văn bản, luận án tập trung khảo sát, đánh giá
văn bản hiện tồn, xây dựng phả hệ văn bản, hiệu khám, xác lập thiện bản NCTT. Ở
phƣơng diện ngôn ngữ, luận án nghiên cứu đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ văn
tự Hán (chủ yếu tập trung ở đặc điểm kết hợp, ý nghĩa và giá trị biểu đạt của từ
đơn) qua 227 bài thơ chữ Hán của Phùng Khắc Khoan trong NCTT.


3
- Về tƣ liệu: nghiên cứu của luận án tập trung ở 09 văn bản hiện tồn có sao
chép NCTT hiện đang lƣu trữ tại Thƣ viện Quốc gia Việt Nam và kho sách Viện
Nghiên cứu Hán Nôm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù của ngành Văn bản học
4.1. Phương pháp nghiên cứu văn bản: Nghiên cứu văn bản ở đây đƣợc dùng với
nghĩa hẹp, vốn chỉ Bản bản học (版本学), là phƣơng pháp “lấy hình thái vật chất
của sách vở làm đối tƣợng, lấy giám định và khảo đính văn bản làm nội dung
trung tâm, lấy công bố giá trị văn hiến của thƣ tịch làm mục tiêu khoa học cuối
cùng” [225,49]. Luận án đã vận dụng các phƣơng pháp đặc thù của nghiên cứu

chính xác. Từng văn bản đƣợc coi nhƣ những cá thể khác nhau của cùng một loài,
hệ thống dị văn giữa những văn bản đó đƣợc xem nhƣ bộ gen của sinh vật. Tận
dụng thành tựu đột phá trong công nghệ gen cùng với sự hỗ trợ của các phần mềm
xây dựng phả hệ phát sinh loài (nhƣ PAUP, MacClade, PHYLIP,...) các nhà thƣ
tịch học Phƣơng tây xây dựng sơ đồ phả hệ văn bản để biểu thị mối quan hệ giữa
những văn bản hiện tồn [177].
Đối với NCTT của Phùng Khắc Khoan, chúng tôi sƣu tầm đƣợc 9 văn bản
đều là bản chép tay, cả 9 bản đều khuyết thiếu nhiều thông tin sao chép, do đó
luận án hƣớng tới vận dụng thành tựu của Tân phả hệ văn bản để xây dựng sơ đồ
phả hệ của hệ thống văn bản này. Từ phả hệ văn bản cùng với bảng tỉ lệ dị văn
giữa các văn bản có thể lựa chọn đƣợc bản nền và các bản đối hiệu một cách chính
xác nhằm phục vụ cho công tác hiệu khám văn bản.
4.4. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): “Nghiên cứu trƣờng hợp
hay phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp là một công trình nghiên cứu mà đối
tƣợng của nó là một trƣờng hợp đơn lẻ hoặc vài cá thể đƣợc lựa chọn ra từ một
thực thể xã hội - nhƣ cộng đồng, nhóm xã hội, sự kiện,...và sử dụng đồng thời
nhiều phƣơng pháp để nghiên cứu chúng” [190]. NCTT đƣợc luận án lựa chọn nhƣ
một trƣờng hợp đại diện cho toàn bộ sáng tác thơ chữ Hán của Phùng Khắc
Khoan. Ngoài ra, phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp cũng đƣợc dùng trong khai
thác các chữ có số lần xuất hiện đặc biệt cao trong văn bản.
4.5. Phương pháp tiếp cận liên ngành: Phƣơng pháp tiếp cận liên ngành vận dụng
thành tựu và cách tiếp cận của nhiều bộ môn có liên quan đến nhau hoặc có tác
dụng tƣơng hỗ, bổ trợ cho nhau để khai thác đối tƣợng. Để nghiên cứu đặc điểm
cách sử dụng chữ Hán của Phùng Khắc Khoan trong NCTT, luận án đã vận dụng
kiến thức và thành tựu của những ngành có liên quan nhƣ: văn tự học, thi học, văn
học sử, thi pháp học, từ vựng ngữ nghĩa học, ngữ pháp học, phong cách học,…để
tiếp cận và giải mã thông tin trong phân tích đối tƣợng.
4.6. Thao tác xây dựng phả hệ văn bản bằng phần mềm PAUP V4:
Christopher Howe đã hệ thống hóa thao tác xây dựng phả hệ văn bản bằng
phần mềm PAUP V4 trong bài giảng Phả hệ văn bản chép tay Trung đại [161].


trong

MacClade hoặc PHYLIP (Lee
AR), nhờ đó các văn bản sẽ
đƣợc hiển thị trên cây phả hệ
và mối quan hệ giữa chúng
đƣợc biểu hiện một cách nhanh
chóng, khoa học và rõ ràng.
Phầm mềm đồng thời cũng cho
ta một bảng tỉ lệ dị văn sai
khác và số lƣợng sai khác giữa
các văn bản
[162].

[160], [161],


6

Một số ví dụ về sơ đồ phả hệ văn bản văn học:

Ví dụ 1: Sơ đồ phả hệ 14 văn bản kịch Hà Lan Lanseloet van Denemerken xây
dựng bằng phần mềm PAUP [160]

Ví dụ 2: Sơ đồ phả hệ 20 bản chép tay trường thi Parzival của Volfram von
Eschenbach [169].
Hƣớng đi này có thể áp dụng để nghiên cứu văn bản học Hán Nôm trong
trƣờng hợp các bản hiện tồn không còn bản gốc, bản khắc in hoặc những yếu tố
giúp xây dựng sơ đồ truyền bản bị khuyết thiếu. Thành quả thu đƣợc sau khi xây

đối hiệu tỉ mỉ chi tiết 80 bài đầu của 8 văn bản đƣợc đối hiệu. Bảng dữ liệu này là
tƣ liệu tham khảo quan trọng với những ngƣời không có điều kiện tiếp xúc với cả
8 văn bản NCTT (phụ lục 1).
5.3. Thông qua hiệu khám, biện ngụy cụ thể chi tiết 5 quyển hiện tồn, luận án lần
đầu tiên xác lập thiện bản cho văn bản NCTT của Phùng Khắc Khoan ngõ hầu làm
cơ sở cho các nghiên cứu Ngữ văn học về sau (phụ lục 2).
5.4. Luận án cung cấp phần biện ngụy cho từng trƣờng hợp dị văn, đây là công cụ
tra cứu hữu ích đối với việc nghiên cứu NCTT nói riêng và những nghiên cứu Ngữ
văn học, lịch sử, thƣ tịch, văn hóa,... nói chung (phụ lục 3).
5.5. Trên cơ sở kết quả thống kê tần số sử dụng văn tự, luận án phân tích, đánh giá
đặc điểm kết hợp, đặc điểm ý nghĩa của văn tự từ đó chỉ ra giá trị biểu đạt của
ngôn ngữ văn tự mang phong cách riêng của Phùng Khắc Khoan trong NCTT.


8
5.6. Bảng thống kê các chữ xuất hiện trong NCTT (phụ lục 4) là dữ liệu để xây
dựng từ điển, tự điển ngôn ngữ văn tự của NCTT, góp phần hoàn thiện hồ sơ tác
giả Phùng Khắc Khoan nói riêng và các tác giả văn học Trung đại nói chung.
6. Cấu trúc của luận án
Luận án đƣợc cấu trúc làm 6 phần: mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục
các công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến đề tài luận án, thƣ mục tham
khảo và phụ lục. Phần nội dung của luận án đƣợc triển khai thành bốn chƣơng nhƣ
sau:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Chƣơng 2: Xác định bản nền văn bản Ngôn chí thi tập
Chƣơng 3: Xác lập và đánh giá thiện bản Ngôn chí thi tập
Chƣơng 4: Đặc điểm sử dụng chữ Hán của Phùng Khắc Khoan trong Ngôn
chí thi tập



trình văn học sử đánh giá cao với vai trò là tác giả tiêu biểu cho một thời đại (cuối
thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII). Có thể tìm thấy những bài viết, chuyên luận công
phu, giới thiệu toàn diện về nội dung, tƣ tƣởng và nghệ thuật sáng tác của Phùng


10
Khắc Khoan nhƣ: Sơ thảo lịch sử Văn học Việt Nam (Quyển II) của các tác giả
Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi (Nxb Văn Sử Địa, H, 1958)
[107]; Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (Tập 2) của Bùi Văn Nguyên (Nxb
Giáo dục, H, 1963) [78]; Văn học Việt Nam: Thế kỷ thứ X đến nửa đầu thế kỷ
XVIII của các tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chƣơng (Nxb Đại
học & Trung học chuyên nghiệp, H, 1979) [38]. Trong sách giáo trình Văn học
Việt Nam (thế kỷ X- nửa đầu thế kỷ XVIII) nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân dành trọn
một chƣơng để giới thiệu về Phùng Khắc Khoan nhƣ một tác giả tiêu biểu của giai
đoạn thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XVIII [38]; hai chuyên luận quan trọng của
học giả Bùi Duy Tân là Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tác giả- tác phẩm, Sở văn
hóa thông tin Hà Tây xuất bản năm 2000 và Thơ văn Trạng Bùng Phùng Khắc
Khoan (khảo cứu - biên soạn - dịch chú), Nxb ĐHQG, 2007 [103], [106] đã khai
thác khá đầy đủ về quê hƣơng, hành trạng, sự nghiệp của Phùng Khắc Khoan.
Tuy nhiên những nghiên cứu sâu về văn bản, ngôn ngữ thơ Phùng Khắc
Khoan còn hiếm, thảng hoặc có ngƣời đề cập tới trong bài viết riêng lẻ chứ chƣa
có chuyên luận nào đánh giá một cách toàn diện 2 vấn đề lớn này. Riêng đối với
Ngôn chí thi tập 言志詩集 (NCTT), tình hình nghiên cứu cũng không mấy khác
biệt. Ngoại trừ một bài khảo chung về văn bản sáng tác của Phùng Khắc Khoan
của tác giả Bùi Duy Tân đăng trên tạp chí Hán Nôm [104] thì mảng văn bản của
thi tập này vẫn còn bỏ ngỏ. Bên cạnh đó, những nghiên cứu về ngôn ngữ văn tự
gần nhƣ chƣa có. Đó là những mảng khuyết thiếu trong nghiên cứu về NCTT nói
riêng và sáng tác của Phùng Khắc Khoan nói chung.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu văn bản Ngôn chí thi tập
NCTT đƣợc giới nghiên cứu nhận định là tập thơ thành công nhất về mặt nội

khẳng định tính chân ngụy của văn bản.
Năm 1943, học giả Dƣơng Quảng Hàm ra mắt bộ Việt Nam văn học sử yếu,
sách này gọi tên NCTT là Phùng Công thi tập giống Phan Huy Chú (luận án căn
cứ theo bản in lại năm 2005 của Nhà xuất bản Trẻ): “Phần nhiều các tập thơ xuất
hiện trong thời kì ấy là những tập của các thi gia làm trong khi đi sứ Tàu nhƣ
Phùng Công thi tập 馮公詩集 hoặc Nghị Trai thi tập 毅齋詩集 của Phùng Khắc
Khoan” [27, 396].
1

Nguyên văn 有使華言志訓多識行于世 hữu Sứ hoa, Ngôn chí, Huấn đồng, Độc thi đa thức tập hành vu

thế. (Có Sứ Hoa, Ngôn chí, Huấn đồng, Độc thi đa thức tập lƣu hành ở đời) [133, 1a].


12
Học giả Dƣơng Quảng Hàm không nhắc tới tên gọi NCTT, đồng thời cho rằng
Phùng Công thi tập 馮公詩集 và Nghị Trai thi tập 毅齋詩集 đều “làm trong khi
đi sứ Tàu”. Ông cũng đã gộp cả thơ Ngôn chí và thơ đi sứ vào một. Cuối sách, tại
Biểu liệt kê các tác giả và tác phẩm theo thứ tự thời gian, mục Phùng Khắc Khoan,
phần thơ chữ Hán chỉ kể tới Nghị Trai thi tập 毅齋詩集 [27, 614]. Căn cứ vào
cách giới thiệu của Dƣơng Quảng Hàm ta thấy, bài tựa do Phùng Khắc Khoan
soạn năm 1586 chính là bài tựa trong NCTT còn 2 bài tựa do Lí Tối (Túy) Quang
soạn năm 1597 và Đỗ Uông soạn năm 1599 là bài tựa tập thơ đi sứ Mai Lĩnh sứ
hoa thi tập 梅嶺使華詩集. Việt Nam văn học sử yếu cũng không nói rõ số quyển,
số bài trong từng tập của Ngôn chí thi tập.
Năm 1962 sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, Nxb Văn hóa, tập 2, ghi:
“Ông có để lại nhiều thơ chữ Hán gồm lại trong Phùng công thi tập và một tập thơ
quốc âm (Nôm) là Ngư phủ nhập đào nguyên truyện. Tiếc rằng tập thơ quốc âm
hiện nay chƣa tìm ra” [37, 514]. Nhƣ vậy, tới năm 1962 các học giả vẫn thống
nhất cách gọi theo LTHCLC là Phùng công thi tập 馮公詩集, tuy nhiên nhóm tác

梅嶺使華詩集, Phùng công thi tập 馮公詩集, Ngôn chí 言志 và do đó Ngôn chí
言志 và Phùng công thi tập 馮公詩集 đƣợc xem là hai tập thơ riêng biệt. Cách
gọi Phùng công thi tập 馮公詩集 trùng với tên gọi mà Phan Huy Chú sử dụng,
Ngôn chí 言志 trùng với cách gọi của Lê Quý Đôn. Tuy nhiên, sách này cũng
cũng không cho chúng ta thêm thông tin gì về văn bản đƣợc sử dụng hay số
quyển, số bài thuộc Ngôn chí 言志.
Năm 1985, nhà nghiên cứu Trần Lê Sáng ra mắt chuyên luận Phùng Khắc
Khoan cuộc đời và thơ văn. Đây là chuyên luận độc lập đầu tiên về tác giả Phùng
Khắc Khoan. Trần Lê Sáng giới thiệu văn bản VHv.1442 là bản NCTT tốt nhất.
VHv.1442 xếp chung thơ đi sứ (Mai Lĩnh sứ hoa thi tập) vào thành phần 2 của
NCTT: “Ngôn chí thi tập có 2 phần, phần 1 là Ngôn chí thi phần thứ 2 là Sứ Hoa
thi”. Phần Ngôn chí thi chia làm 2 quyển, quyển 1, 40 bài; quyển 2, 103 bài. Ông
kết luận thơ Ngôn chí gồm 143 bài [91, 167]. Nhƣ vậy cho tới thời điểm này (năm
1985) tên NCTT chính thức đƣợc sử dụng, tuy nhiên phần nội dung tác phẩm vẫn
đƣợc giới nghiên cứu xếp chung với thơ sứ trình. Phần thơ Ngôn chí thƣờng đƣợc
thống nhất là 2 quyển, nhƣng số lƣợng các bài không thống nhất.
Năm 2000 - 2001 có lẽ là khoảng thời gian những nghiên cứu về phƣơng
diện văn bản của Ngôn chí thi tập 言志詩集 nói riêng và trƣớc tác của Phùng
Khắc Khoan nói chung đạt đƣợc nhiều thành tựu nhất, với những đóng góp vô
cùng quan trọng của nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân. Trong sách Trạng Bùng Phùng
Khắc Khoan tác gia - tác phẩm, học giả Bùi Duy Tân lần đâu tiên giới thiệu văn
bản VHv.1951 chép 5 quyển NCTT với khoảng 260 đơn vị tác phẩm. Phát hiện


14
này của ông có thể nói là một thành tựu vô cùng quan trọng, góp phần thay đổi
diện mạo các nghiên cứu về văn bản cũng nhƣ giá trị văn học của sáng tác thơ ca
1

Phùng Khắc Khoan . Từ đó, Bùi Duy Tân phác thảo lại tƣơng đối mạch lạc diện

mục đề ghi nhầm thành VHv.1591, đây vốn là kí hiệu của cuốn Cổ văn hợp tuyển. Nhầm lẫn này cản trở


15
tập 多識集), cách phân chia này tƣơng đồng với nhà bác học Lê Quý Đôn - ngƣời
gần Phùng Khắc Khoan nhất về niên đại – đã giới thiệu trong TVTL [133, 1a]. Tuy
nhiên, do đặc điểm các công trình của Bùi Duy Tân đều mang tính chất lƣợc khảo,
“không đặt vấn đề khảo cứu từng văn bản, chỉ lược khảo để có cái nhìn tương đối
về số lượng tác phẩm [106, 450] nên ông còn bỏ ngỏ nhiều vấn đề đặc biệt là công
tác khảo cứu chi tiết đối với từng văn bản. Công tác hiệu khám, chỉnh lí văn bản
cũng chƣa đƣợc thực hiện. Bùi Duy Tân đề xuất thiện bản NCTT là văn bản
VHv.1951 và VHv.1442, nhƣng chƣa hoàn thiện các bƣớc cần yếu để hai văn bản
này có thể thực sự trở thành thiện bản.
Ngoài ra, trong những công trình của Bùi Duy Tân vẫn còn nhiều đơn vị
tác phẩm còn ở dạng tồn nghi, chƣa thể khẳng định đúng là của Phùng Khắc
Khoan hay không. Cụ thể, bài Bạng chỉ xuất hiện ở văn bản A.555 một trong các
văn bản có chất lƣợng sao chép khá thấp, các bài Đề ngư tiều đồ nhị thủ 題魚樵圖
二首 kỳ nhất, Nhàn trung ngẫu hứng tứ thủ 閑中偶興四首 kỳ nhị, kỳ tứ; chùm 2
bài thuộc La sơn thập vịnh 羅山十咏, kỳ nhất, kỳ lục, Đinh Dậu phụng sứ thuật
hoài 丁酉奉使述懷, Sinh niên tự thuật 生年自述, không xuất hiện trong các văn
bản chép NCTT hiện tồn. Nhóm tác giả biên soạn cũng không chú thích nguồn
gốc, không đƣa ra căn cứ mà chỉ xếp những bài thơ này vào NCTT [103]. Thiết
nghĩ, để khẳng định những đơn vị tác phẩm này có đúng là của Phùng Khắc
Khoan không hoặc có thuộc NCTT không thì phải thêm bằng cứ, luận án sẽ trở lại
vấn đề này ở mục 2.1.
Năm 2007, Luận văn thạc sĩ Chữ Hán trong Ngôn chi thi tập của Phùng
Khắc Khoan [55] đã mô tả khái quát tồn bản của NCTT, tuy nhiên luận văn chƣa
lập đƣợc sơ đồ truyền bản cũng nhƣ chƣa thực sự xây dựng đƣợc thiện bản. Luận
văn khi đó mới dừng ở việc lựa chọn một bản (VHv.1951) làm bản nền để tiến
hành khảo sát.

điểm cách sử dụng văn tự của tác phẩm chƣa đƣợc nhắc tới mà chỉ manh nha một
chút về khí chất giọng điệu thơ: “thơ ông … có nội dung lạc quan, có khí sắc, gân
guốc”, “thơ Phùng Khắc Khoan không phải là loại thơ khô khan, đơn điệu, mặc
dầu mang tính chất đạo lí, mặc dầu cái đạo mạo, cái mực thƣớc của nhà nho đôi
khi đã làm mất đi phần nào chất tƣơi trẻ, phóng khoáng rất cần thiết trong thơ”
[38, 472].
Chuyên luận đáng chú ý về cuộc đời và sáng tác Phùng Khắc Khoan là của
tác giả Trần Lê Sáng. Về đặc điểm thơ văn Phùng Khắc Khoan, Trần Lê Sáng
nhận định: “…thơ văn Phùng Khắc Khoan không mang tính kinh viện nặng nề mà
có nét hồn nhiên, dí dỏm của cá tính ông…” [91, 195]. Tuy nhiên, tác giả Trần Lê
Sáng cũng chỉ dựa vào một số trƣờng hợp đơn lẻ mà không căn cứ trên cơ sở
thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ văn tự


17
trong thơ Phùng Khắc Khoan do đó khẳng định trên mới chỉ dừng ở cảm nhận cá
nhân ngƣời viết chứ chƣa thực sự có luận cứ thuyết phục.
Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tác gia tác phẩm do Bùi Duy Tân làm chủ
biên là chuyên luận thành công thứ hai về Phùng Khắc Khoan [103], cuốn này sau
đƣợc kế thừa và phát triển trong sách Thơ văn Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
(khảo cứu - biên soạn - dịch chú) [106].
Không viết riêng về NCTT nhƣng tác giả có phần nói riêng về thơ ngôn chí
trong toàn bộ sáng tác của Phùng Khắc Khoan. Mặc dù vậy, toàn bộ dẫn chứng
đều đƣợc chọn dẫn trong NCTT. Nhà nghiên cứu chủ yếu khai thác ở 2 khía cạnh:
thứ nhất là chí khí nam nhi - nhập thế - an nguy trị loạn. Ông tổng kết “từ những
bài thơ đầu tay lúc đầu xanh tuổi trẻ, đến những bài viết khi tóc bạc, mắt hoa, bao
giờ cũng bày tỏ chí khí, bộc lộ can trƣờng, an nguy, trị loạn, dựng lại kỉ cƣơng,
vãn hồi đạo nghĩa” [106, 46]. Khía cạnh thứ hai là Danh nho - thi sĩ, văn chương
lo nước - thương đời tác giả cuốn sách khẳng định: “với tất cả điển chế, quy phạm
của quan niệm văn chƣơng nhà Nho, Phùng Khắc Khoan vì “đƣa thơ nhập cuộc”,

(Trần Lê Sáng); Thể chế chính trị đầu thời Lê Trung Hưng và vị trí của Phùng
Khắc Khoan (Trần Thị Vinh); Phùng Khắc Khoan một tài năng, một nhân cách
cao quý (Phan Khanh); Phùng Khắc Khoan qua góc nhìn của người dân trong
truyền thuyết dân gian (Nguyễn Hữu Thức); Đời và thơ Phùng Khắc Khoan trong
bối cảnh văn hóa Đại Việt thế kỉ XVI - Đầu thế kỉ XVII (Trần Hữu Sơn) [29].
Nhƣ đã đề cập ở trên, nhóm bài viết này chủ yếu nghiên cứu về cuộc đời,
sự nghiệp, tƣ tƣởng, hành trạng của Phùng Khắc Khoan mà ít nói tới giá trị văn
học càng không đề cập tới đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ, văn tự của tác giả.
Năm 2004, khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Văn học của sinh viên
Phùng Minh Hiếu, trƣờng Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn làm theo hƣớng
khảo sát ngôn ngữ thơ Phùng Khắc Khoan. Tên đề tài là Khảo sát ngôn ngữ thơ
Phùng Khắc Khoan qua 88 bài thơ trong Ngôn chí thi tập. Tác giả lựa chọn 88 bài
thơ thuộc NCTT mà học giả Bùi Duy Tân tuyển chọn trong sách Trạng Bùng
Phùng Khắc Khoan - tác giả tác phẩm [103] đã đề cập ở trên. Không đi vào tìm
hiểu cấu trúc ngữ pháp hay cách dùng từ, tác giả khóa luận quan tâm tới thông tin
về tần số sử dụng, độ phong phú từ vựng, số lƣợng điển tích, điển cố, qua đó đánh
giá giá trị phong cách ngôn ngữ thơ Phùng Khắc Khoan nói chung và NCTT nói
riêng. Có thể nói khóa luận này là công trình đầu tiên khảo sát chi tiết ngôn ngữ
thơ Phùng Khắc Khoan. Tuy nhiên ở đây tác giả không thực hiện các thao tác văn
bản học mà chỉ dựa trên 88 bài thơ đƣợc học giả Bùi Duy Tân tuyển chọn giới
thiệu. Nhƣ đã nói ở trên, do tính chất công trình của Bùi Duy Tân là khảo lƣợc
nên chƣa đi sâu vào công tác hiệu khám văn bản. Lựa chọn một văn bản chƣa
đƣợc chỉnh lí chi tiết để nghiên cứu ngôn ngữ văn tự khiến cho tính thuyết phục
của công trình sẽ giảm đi. Ngoài ra, ngay trong sách này, tồn tại gần 10 đơn vị tác


19
phẩm còn ở dạng tồn nghi, chƣa thể khẳng định là có thuộc NCTT hay không, do
đó những kết luận đƣa ra có lẽ cần phải thận trọng. Hơn nữa tác giả khóa luận
cũng khẳng định “không đi vào cấu trúc ngữ pháp hay cách dùng từ” chỉ quan tâm



20
Phần giới thuyết về các khái niệm đƣợc sử dụng trong luận án dƣới đây là
cơ sở lí thuyết của các phƣơng pháp đƣợc áp dụng để triển khai đề tài, nhằm giải
quyết những khoảng trống trong nghiên cứu nói trên.
1.2. Giới thuyết khái niệm thuộc cơ sở lí luận của luận án
1.2.1. Bản nền
Bản nền (Để bản 底本) là thuật ngữ chuyên dùng trong công tác nghiên
cứu văn bản học. Lựa chọn bản nền rất quan trọng, nó ảnh hƣởng lớn tới công tác
nghiên cứu văn bản và giá trị sử dụng của văn bản khi đƣợc công bố. Lựa chọn sai
bản nền dẫn tới phải hiệu khám nhiều, dùng nhiều hiệu khám kí, văn bản khi đƣợc
công bố gây bất tiện cho ngƣời sử dụng.
Hoàng Vĩnh Niên trong sách Cổ tịch chỉnh lí khái luận cũng cho rằng: Lựa
chọn bản nền không phải là một phƣơng pháp chỉnh lí thƣ tịch mà chỉ là một bƣớc
nhƣng nó là bƣớc trọng yếu, có tính chất quyết định. Thƣ tịch cổ dù là đƣợc chỉnh
lí theo phƣơng pháp nào thì vẫn cần phải chọn đƣợc một bản nền tốt [201]. Ông
không nói rõ tiêu chí lựa chọn bản nền, chỉ phát biểu “cố hết sức tuyển bản tốt làm
bản nền”1 [201, 12] còn nhƣ thế nào là “tốt” và các tiêu chuẩn để một bản đƣợc
gọi là “bản tốt” thì tác giả không trình bày rõ ràng.
Nhà nghiên cứu thƣ tịch học Trung Quốc Quản Tích Hoa cho rằng một văn
bản đƣợc gọi là bản nền khi bản đó phải “gần với bản gốc nhất”. Bản nền có thế là
bản “cổ nhất” trong các bản hiện tồn, bởi vì bản cổ nhất có thể tiếp cận gần nhất
với bản lai diện mục của bản gốc. Nếu nhƣ bản cổ nhất bị tàn khuyết thì phải lấy
một “bản khác gần với bản lai diện mục”, “bản gốc nhất” trong số còn lại, không
bị tàn khuyết để bổ sung [207, 4].
Ở Việt Nam, giới nghiên cứu Hán Nôm còn sử dụng khái niệm “bản trục”,
“bản cơ sở” để gọi bản nền. Nhà nghiên cứu Trịnh Khắc Mạnh đƣa ra nhiều lựa
chọn cho ngƣời chỉnh lí thƣ tịch và kết luận “tùy vào từng trƣờng hợp cụ thể,
ngƣời khảo cứu văn bản có nhiều dị bản sẽ đƣa ra phƣơng pháp tối ƣu về việc

ngành liên quan tới chỉnh lí thƣ tịch phát triển, khái niệm thiện bản cũng đƣợc
khái quát lại. Học giả đời Thanh Trƣơng Chi Đỗng trong Du hiên ngữ, ngữ học đệ
nhị, thông luận độc thư: “Thiện bản có 3 nghĩa: một là bản đầy đủ (không khuyết
quyển, không mất sách), hai là tinh bản (một là tinh hiệu, hai là tinh chú), ba là
cựu bản (một là cựu khắc, hai là cựu sao)” [199, 56].
Các nhà thƣ tịch học hiện đại của Trung Quốc cũng có nhiều quan niệm
khác nhau về thiện bản.
Tào Thuận Khánh phê phán quan niệm của Trƣơng Chi Đỗng, ông cho
rằng: khái niệm của ngƣời xƣa về thiện bản vừa không khoa học vừa không
nghiêm cẩn bởi vì khái niệm “cựu” vốn rất mơ hồ, có những thứ hôm nay là mới
nhƣng sau này là cũ [194, 313]. Ông cho rằng thiện bản phải đảm bảo 3 tiêu
chuẩn: thứ nhất phải tiếp cận với diện mạo của nguyên bản (nguyên mạo), thứ hai
có nội dung hoàn chỉnh, thứ ba đƣợc hiệu khám cẩn thận hoặc đƣợc học giả bình



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status