BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
PHÙNG DIỆU LINH
NGHIÊN CỨU VĂN BẢN VÀ ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CHỮ HÁN
TRONG NGÔN CHÍ THI TẬP CỦA PHÙNG KHẮC KHOAN
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số:62.22.40.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI- 2017
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
1.1. Phùng Khắc Khoan là tác giả văn học lớn ở cuối thế kỷ XVI
đầu thế kỷ XVII. Tuy vậy, cho tới nay những khảo cứu về Phùng
Khắc Khoan lại chƣa thực sự đầy đủ. Khuyết thiếu nhiều nhất chính
là những nghiên cứu chuyên sâu về văn bản và đặc điểm ngôn ngữ
văn tự trong sáng tác thơ chữ Hán Phùng Khắc Khoan.
1.2 Ngôn chí thi tập 言志詩集 (NCTT)- tập thơ đƣợc đánh giá là
thành công nhất của ông- lại chƣa có một chuyên luận nào khảo sát
nghiên cứu toàn diện về các vấn đề văn bản cũng nhƣ ngôn ngữ văn
tự của tác phẩm; chƣa có một sơ đồ truyền bản nào đƣợc thiết lập
cũng chƣa có một thiện bản nào đƣợc đƣa ra trên cơ sở hiệu khám tỉ
mỉ văn bản ngõ hầu có thể làm căn cứ cho những nghiên cứu khác.
Ngoài ra, đặc điểm sử dụng ngôn ngữ văn tự của tác giả trong tác
phẩm vẫn gần nhƣ bị bỏ ngỏ. Luận án này của chúng tôi cố gắng bổ
sung phần nhỏ vào mảng khuyết thiếu đó.
đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ văn tự Hán trong 227 bài thơ chữ
Hán của Phùng Khắc Khoan trong NCTT, chủ yếu tập trung ở đặc
điểm kết hợp, ý nghĩa và giá trị biểu đạt của chúng.
-Về tƣ liệu, nghiên cứu của luận án tập trung ở 09 văn bản hiện
tồn có sao chép NCTT hiện đang lƣu trữ tại Thƣ viện Quốc gia Việt
Nam và Thƣ viện Viện nghiên cứu Hán Nôm.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu đặc thù của
ngành Văn bản học.
4.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản: Nghiên cứu văn bản ở đây
đƣợc dùng với nghĩa hẹp, vốn đƣợc dịch từ thuật ngữ Bản bản học (
版本学). Bản bản học (版本学) lấy hình thái vật chất của sách vở
làm đối tƣợng nghiên cứu, lấy giám định và khảo đính văn bản làm
nội dung trung tâm, lấy công bố giá trị văn hiến của thƣ tịch làm
mục tiêu khoa học cuối cùng [225,49].
4.2 Phương pháp Hiệu khám: “Bản chất của hiệu khám chính là lấy
dị văn của cổ thƣ làm đối tƣợng khảo sát, đối với những thay đổi lịch
đại của văn bản cần “cầu đồng tồn dị”, không ngừng truy cầu văn
bản có tính ổn định tƣơng đối [225,75].
4.3 Phương pháp nghiên cứu Tân Phả hệ văn bản (Newstemmatics):
Tân phả hệ văn bản (New- stemmatics) ứng dụng thành tựu
ngành Phân loại học phân tích nhánh (Cladistic) trong Sinh học để
phân tích dị văn giữa các văn bản bằng những phƣơng pháp khoa
học, chính xác. [177] Dựa trên cơ sở lí luận ngành Phả hệ văn bản,
tận dụng thành tựu của Tân phả hệ văn bản, chúng tôi xây dựng sơ
đồ phả hệ văn bản NCTT bằng phần mềm PAUP V4.
4.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): NCTT đƣợc
chúng tôi lựa chọn nhƣ một trƣờng hợp đại diện cho toàn bộ sáng tác
thơ chữ Hán của Phùng Khắc Khoan. Ngoài ra, phƣơng pháp nghiên
cứu trƣờng hợp cũng đƣợc dùng trong khai thác các chữ có số lần
di truyền học (PAUP V4) để xây dựng phả hệ văn bản, phác thảo
mối liên hệ giữa các văn bản hiện tồn của NCTT.
Bảng dữ liệu đầu vào của phần mền PAUP V.4 (phụ lục 2)
chính là bảng đối hiệu tỉ mỉ chi tiết 80 bài đầu của 8 văn bản đƣợc
đối hiệu.
5.3 Thông qua hiệu khám, biện ngụy cụ thể chi tiết 5 quyển hiện tồn,
luận án lần đầu tiên xác lập thiện bản cho văn bản NCTT của Phùng
Khắc Khoan ngõ hầu làm cơ sở cho các nghiên cứu ngữ văn học về
sau.
5.4 Luận án cung cấp phần biện ngụy cho từng trƣờng hợp dị văn,
đây là công cụ tra cứu hữu ích đối với việc nghiên cứu NCTT nói
riêng và những nghiên cứu Ngữ văn học, lịch sử, thƣ tịch, văn hóa...
nói chung. (xem phụ lục 3).
5.5 Trên cơ sở kết quả thống kê tần số sử dụng văn tự, luận án phân
tích, đánh giá đặc điểm kết hợp, đặc điểm ý nghĩa của văn tự từ đó
chỉ ra giá trị biểu đạt của ngôn ngữ văn tự mang phong cách riêng
của Phùng Khắc Khoan trong NCTT.
5.6 Bảng thống kê các chữ xuất hiện trong NCTT (phụ lục 4) là dữ
liệu bƣớc đầu để xây dựng từ điển, tự điển ngôn ngữ văn tự của
NCTT.
6. Cấu trúc luận án
Luận án đƣợc cấu trúc làm 6 phần: phần mở đầu, phần nội
dung, phần kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả
liên quan đến đề tài luận án, thƣ mục tham khảo và phụ lục. Nội
dung chính của luận án đƣợc triển khai thành bốn chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Chƣơng 2: Xác định bản nền văn bản Ngôn chí thi tập
Chƣơng 3: Xác lập và đánh giá thiện bản Ngôn chí thi tập
Ngôn chí thi tập 言志詩集 tốt nhất. VHv.1442 xếp chung thơ đi sứ
(Mai Lĩnh sứ hoa thi tập) vào thành phần 2 của NCTT [91,167].
Năm 2000, trong sách Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tác
giả- tác phẩm học giả Bùi Duy Tân lần đâu tiên giới thiệu bản văn
bản VHv.1951 chép 5 quyển NCTT với hơn 260 đơn vị tác
phẩm[105]. Bùi Duy Tân đề xuất thiện bản NCTT là văn bản
VHv.1951 và VHv.1442, nhƣng chƣa hoàn thiện các bƣớc cần yếu
để hai văn bản này có thể thực sự trở thành thiện bản. Ngoài ra,
những công trình của Bùi Duy Tân vẫn còn nhiều đơn vị tác phẩm
còn ở dạng tồn nghi, chƣa thể khẳng định đúng là của Phùng Khắc
Khoan hay không.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ thơ Ngôn chí thi tập
Cho tới nay chƣa có một chuyên luận nào nghiên cứu sâu về
các vấn đề ngôn ngữ, văn tự… của NCTT nhƣ một đối tƣợng độc lập
mà phần lớn chỉ đƣợc trích dẫn trong những nghiên cứu chung về tác
giả và sự nghiệp sáng tác của Phùng Khắc Khoan.
Chuyên luận đáng chú ý về cuộc đời và sáng tác Phùng Khắc
Khoan là của tác giả Trần Lê Sáng và Bùi Duy Tân (đã đề cập ở
trên). Tuy nhiên về đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ của Phùng
Khắc Khoan thì hầu nhƣ không đƣợc nói tới.
Số lƣợng các bài viết riêng lẻ về Phùng Khắc Khoan nói riêng
tƣơng đối phong phú. Những bài viết có giá trị đều đƣợc tổng hợp
trong cuốn sách Phùng Khắc Khoan-hợp tuyển thơ văn- Nxb Hội
nhà văn, 2012 [33]. Nhóm bài viết trong hai hội thảo này chủ yếu
nói tới tiểu sử, tƣ tƣởng, cuộc đời, giá trị sáng tác văn học, mà không
đề cập tới đặc điểm cách sử dụng ngôn ngữ, văn tự của tác giả.
Tổng kết lại tình hình nghiên cứu văn bản và ngôn ngữ trong
NCTT chúng tôi nhận thấy còn một số tồn tại sau:
túc, kỹ lƣỡng, tỉ mỉ.
Đây cũng chính là nội hàm thiện bản mà chúng tôi hƣớng tới
trong luận án của mình.
1.2.3 Phả hệ văn bản (stemma/stemmatics)
Stemma vốn xuất phát từ tiếng Latin với nghĩa là cành cây,
nhánh cây. Stemma đƣợc dịch ra tiếng Việt là “cây gia đình” “cây
phả hệ” chuyên dùng để biểu thị mối quan hệ giữa các loài hay sự
phát sinh chủng loại trong sinh vật học. Trong ngành Phê bình văn
bản học, “stemma nhƣ là một công cụ để phục nguyên văn bản.
Không thể thiếu một phả hệ hay một stemma của các văn bản hiện
tồn, phả hệ đó hiển thị mối quan hệ lẫn nhau giữa các văn bản và
cũng đƣợc sử dụng để tìm ra dấu vết của bản gốc”[160,10].
Phả hệ văn bản học (Stemmatics, stemmology hay
stemmatology) là một cách tiếp cận trong Phê bình văn bản học, chỉ
những nỗ lực nhằm tái hiện lại lịch sử sao chép của một văn bản
(đặc biệt là bản chép tay) dựa trên mối quan hệ giữa các văn bản
hiện tồn. [160], [176], [177], [179].
1.2.4 Tân phả hệ văn bản (New- stemmatics/ Cladistic textual
criticism)
Tân phả hệ văn bản dựa trên thành tựu
ngành phân loại học phân tích nhánh, mượn kĩ
thuật nghiên cứu phát sinh loài của di truyền
học để xây dựng phả hệ văn bản nhằm nghiên cứu
lịch sử sao chép văn bản. Thông qua phần mềm
xây dựng phả hệ, các dị văn của một văn bản
được nhập vào máy tính, sự khác biệt giữa
chúng được phân tích, đánh giá, sau đó được
nhóm lại dựa trên các đặc điểm chung và riêng.
Thứ nhất: Dựa vào cơ sở lí luận ngành văn bản học chúng tôi
khảo sát, mô tả, đánh giá các bản NCTT hiện tồn; ứng dụng thành
tựu ngành Tân phả hệ văn bản để xác lập sơ đồ phả hệ biểu thị mối
liên hệ giữa các văn bản, từ đó lựa chọn bản nền, bản đối hiệu và
các bản tham khảo.
Thứ hai: Trên cơ sở lí luận ngành hiệu khám học chúng tôi tiến
hành hiệu khám văn bản hoàn thiện việc xác lập thiện bản và công
bố văn bản NCTT
Thứ ba: Căn cứ vào thiện bản đã xác lập, tìm hiểu đặc điểm
cách sử dụng chữ Hán trong NCTT của Phùng Khắc Khoan.
Tiểu kết
Trong chƣơng này chúng tôi điểm lại những nghiên cứu liên
quan tới luận án, cụ thể là các nghiên cứu về văn bản và đặc điểm
cách sử dụng chữ Hán trong NCTT của Phùng Khắc Khoan. Những
đánh giá tổng quan này đƣa tới cái nhìn toàn diện về những thành
tựu và khoảng trống mà các nghiên cứu trƣớc chƣa giải quyết triệt
để, từ đó có thể kế thừa và phát triển trong luận án của mình. Tổng
quan về phƣơng pháp nghiên cứu đánh giá những khả năng ứng
dụng cụ thể của phƣơng pháp đƣợc lựa chọn trong triển khai đề tài.
CHƢƠNG 2 XÁC ĐỊNH BẢN NỀN VĂN BẢN NGÔN CHÍ
THI TẬP
2.1. Các bản Ngôn chí thi tập hiện tồn
Các văn bản hiện tồn chúng tôi sƣu tầm đƣợc có chép NCTT
đƣợc khảo sát trong luận án: (1) Bản VHv.1951 (kí hiệu là bản A),
(2) Bản VHv 1442 (Bản B), (3) Bản VHb.264 (bản C), (4) Bản A.
555 (bản D), (5) Bản A.1364 (Bản E), (6) Bản A.431(Bản F), (7)
Bản VHv.2163 (bản G), (8) Bản R7 (Bản H), (9) Toàn Việt thi lục
A. 132 (Bản I)
lục và tựa, gồm một quyển 146 trang. Bìa cứng, láng nhựa cậy màu
nâu sậm. Mép sách phía trên ghi Phùng Khoan thi tập 馮寬詩集.
Chữ viết đều đặn, sắc nét trên giấy dó khổ 30x 20,5 cm, chất liệu
còn mới (Trong Đề yếu ghi khổ giấy là 30x25 cm). Lƣợng tác phẩm
thiếu hụt nhiều chỉ gồm 80 bài, trong đó có bài bạng 螃 không xuất
hiện ở tất cả các bản còn lại.Từ tờ 16b chép thơ đi sứ của Phùng
Khắc Khoan, những trang cuối chép lẫn thơ của tác giả khác. Đánh
giá sơ bộ ban đầu chúng tôi cho rằng độ khả tín của văn bản này
không cao.
2.1.5. Bản A.1364 (bản E): Tên sách Ngôn chí thi tập 言志詩集.
Sách dày 106 trang, khổ 31x 20 cm; có tựa, không có mục lục. Nội
dung sách gồm 2 phần: Phần I: Chép quyển 1, quyển 2 Ngôn chí thi
tập 言志詩集 gồm 143 bài (Từ Tự thuật 自述 đến Đông hậu sinh
xuân 冬厚生春); Phần II: chép thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan.
2.1.6. Bản A.431(bản F)
Tên sách: Phùng Thái phó thi 馮太付詩. Sách gồm một tập,
dày 64 trang, không có mục lục và tựa, bìa cũ đƣợc thay bằng bìa xi
măng vàng, chữ thảo viết trên giấy dó khổ 25x15cm. Chính giữa
trang đầu sách ghi: Phùng thái phó trạng nguyên thi 馮太付狀元詩.
Sách có dấu của trƣờng Viến Đông Bác Cổ và dấu kiểm của thƣ viện
các năm 1967, 1974, 1980, 1991. Sách gồm 3 phần: Phần I (tờ 1a
đến 18a): chép 80 bài thơ thuộc Ngôn chí thi tập 言志詩集 quyển 1,
quyển 2 bỏ sót rất nhiều so với các bản khác; Phần II (tờ 18a đến
22a): Chép thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan; Phần III (từ trang 22b
tới hết): Chép gia phả dòng họ nào đó. Các chú thích, dẫn giải đều bị
bỏ đi. Chúng tôi cho rằng đây là một bản ít có giá trị.
2.1.7. Ngôn chí thi tập chép trong Danh gia thi tập truyện
VHv.2163 (bản G)
Sách gồm một bản viết tay, dày 114tr, khổ 26x14, có chữ
Nôm, chép thơ thù vịnh cảm tác, thơ thù vịnh Đƣờng thi, truyện các
Các văn bản lƣợc khảo phía trên có tên gọi không thống nhất.
Phùng Khắc Khoan trong bài tựa đã đặt tên tập thơ là Ngôn chí thi
tập 言志詩集: “Xem thơ của cổ nhân, trộm muốn vụng dại bắt
chƣớc nhân thế mới đem thơ của mình tập hợp biên soạn lại đặt tên
là Ngôn chí thi tập” vì thế Ngôn chí thi tập 言志詩集 là tên gọi
chính thức của văn bản.
2.2.2. Số quyển, số bài:
Trong số các văn bản trên, chỉ có VHv.1951 là chép riêng
Ngôn chí còn lại đều chép cùng với Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập 梅領使
華詩集. Bản đầy đủ nhất hiện tại là VHv. 1951 gồm 5 quyển, do đó
tạm thời xem Ngôn chí thi tập 言志詩集 của Phùng Khắc Khoan có
5 quyển. Các bản còn lại chia làm hai nhóm: Nhóm 1: chép đầy đủ
và thống nhất số lƣợng bài ở 2 quyển đầu: bản VHv.1951,
VHv.1442, A.1364, R7; Nhóm 2: lƣợc tuyển: A.132; VHv.2163
chép thiếu: A.555; A.431; VHb.264.
2.2.3 Thời gian sao chép, người sao chép
- Xét về thời gian sao chép: việc xác định thời điểm sao chép các
văn bản vẫn chƣa thể khẳng định đƣợc bởi còn quá ít dữ liệu.
-Về ngƣời sao chép, bản VHv.1442 do hội Khai trí Tiến Đức tổ chức
sao chép, không ghi cá nhân chấp bút; bản R7 ghi ngƣời sao chép
tuy nhiên cũng chỉ ghi tên mà không có chú thích gì thêm.
Nếu căn cứ vào những kết quả trên VHv.1951 tạm thời đang là
bản đầy đủ nhất. Tuy nhiên để lựa chọn một cách chính xác và khoa
học bản nền chúng tôi sẽ căn cứ vào sơ đồ phả hệ văn bản đƣợc lập
dƣới đây.
2.3. Phả hệ văn bản Ngôn chí thi tập xây dựng bằng phần mềm
PAUP V4.
2.3.1 Cách thức tiến hành:
Văn VHv.
tự
1951
VHv.
1442
VHb.
264
A.
555
A.
1364
A.
431
VHv.
2163
R7
1
1
0
0
0
1
0
1
0
0
1
Cột 1: Địa chỉ dị văn, 1,1,7 nghĩa là bài 1, câu 1 chữ thứ 7.
Cột 2: Chữ xuất hiện ở dị văn
- Phương pháp phân tích số liệu: Phân tích dữ liệu và xây dựng sơ
đồ phả hệ dựa trên dị văn bằng phƣơng pháp Maximum Parsimony
(Robinson and O’Hara, 1996) với đƣợc phần mềm Paup 4.0
(Swofford, 2002) theo mô hình tiến hóa mặc định của phần mềm.
2.3.2. Kết quả và thảo luận
Kết quả: Kết quả phân tích dị văn bằng phƣơng pháp Maximum
Parsimony cho mô hình liên hệ giữa các văn bản duy nhất đƣợc đƣa
ra (Hình 2.1) :
Hình 2.1: Phả hệ văn bản Ngôn chí thi tập.
Bảng 2.8. Tỷ lệ dị bản sai khác (%) (phía phải trên) và số lượng dị
bản sai khác (phía trái dưới) giữa các văn bản nghiên cứu
VHv. VHv.
VHb.
A. 555 A.
A. 431
1951
35.4
A. 431
910
1050
1071
1179
893
VHv. 2163 941
1008
1152
1070
922
1323
R7
411
732
797
887
153
914
Mối liên hệ giữa các văn bản dựa trên phân tích dị văn bằng phƣơng
pháp Maximum Parsimony. Số ở gốc là giá trị Bootstrap1 đƣợc phân
tích từ 100 lần lặp lại của sơ đồ
Thảo luận: Căn cứ vào kết quả sơ đồ phả hệ, các văn bản đƣợc chia
thành 04 nhóm:
1
Bootstrap: là tần số xuất hiện của một nhóm trên số lần giản đồ đƣợc thiết lập. Bootstrap là một chỉ
2163 cùng nhóm).
- Nhóm 2: VHb. 264, A. 431 Giá trị Bootstrap là 88 (88%).
- Nhóm 3: A. 1364, R 7. Giá trị Bootstrap là 100 (100%).
- Nhóm 4: Riêng văn bản VHv. 1951 đứng thành một nhóm đặc biệt.
Gia trị Bootstrap của các nhóm đều rất cao (thấp nhất 84%), điều đó
thể hiện độ tin cậy lớn của sơ đồ phả hệ đƣợc đƣợc xây dựng.
Sơ đồ phả hệ này biểu thị mối quan hệ gần gũi giữa các văn
bản chứ không biểu thị quan hệ truyền bản.
2.4. Bản nền, bản đối hiệu, bản tham khảo văn bản Ngôn chí thi
tập
Bản nền đƣợc Luận án lựa chọn là văn bản “đầy đủ nhất” và
“gần với bản lai diện mục của bản gốc nhất”. Bản đối hiệu là những
bản đại diện cho mỗi nhóm văn bản đã đƣợc nhóm lại trên sơ đồ phả
hệ ở mục 2.3. Các bản còn lại đƣợc xem là bản tham khảo trong
trƣờng hợp cần thiết.
2.4.1. Bản đầy đủ nhất
Trong số các bản hiện tồn, duy nhất VHv.1951 là bản có mục
lục, các bản còn lại đều không có. Duy nhất VHv.1951 tồn tại 5
quyển đƣợc cho là chép Ngôn chí thi tập của Phùng Khắc Khoan.
VHv.1951 cũng là bản duy nhất có chú thích các chữ khó đọc, tình
trạng sách cũng tƣơng đối tốt, chữ tàn khuyết không đáng kể. Từ
nhiều yếu tố chúng tôi thấy rằng VHv.1951 là bản đầy đủ nhất trong
số các bản hiện tồn của NCTT đƣợc khảo sát trong Luận án.
2.4.2. Bản gần với bản lai diện mục của bản gốc nhất
Sơ đồ phả hệ (hình 2.1) và Bảng tỉ lệ dị văn sai khác và số
lượng dị văn sai khác giữa các văn bản (bảng 2.8) thuộc mục 2.3
đƣa tới kết quả khách quan để hoàn thiện việc xác định bản nền một
cách khoa học.
Bản đại diện cho mỗi nhóm sẽ là bản có tỉ lệ, số lƣợng dị văn
sai khác nhỏ nhất trong nhóm đồng nghĩa với việc nhánh biểu thị
đứng riêng; VHv. 1442, A. 555 cùng nhánh và có quan hệ gần gũi
với VHv. 2163; VHb. 246 và A. 431 cùng nhánh; A. 1364 và R 7
cùng nhánh.
3. Văn bản dùng để hiệu khám là các bản đại diện cho các
nhóm khác nhau, bản đó có số lƣợng dị văn sai khác và tỉ lệ dị văn
sai ít hơn các bản khác trong cùng nhóm. Qua phân tích, ba bản
đƣợc dùng làm bản hiệu khám sẽ là VHv.1951, A.1364 và
VHv.1442 trong đó VHv.1951 là bản nền, các bản A. 1364 và VHv.
1442 là bản đối hiệu. Những văn bản còn lại của Ngôn chí thi tập 言
志詩集 đƣợc dùng làm bản tham khảo.
CHƢƠNG 3 XÁC LẬP VÀ ĐÁNH GIÁ THIỆN BẢN NGÔN
CHÍ THI TẬP
3.1. Hiệu khám và biện ngụy quyển 1, 2 văn bản Ngôn chí thi tập
3.1.1 Kết quả hiệu khám
Tổng hợp các loại dị văn sau khi đối hiệu 2 quyển đầu của 3
bản VHv.1951, VHv.1442 và A.1364 luận án có kết quả sau:
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp dị văn qua đối hiệu 2 quyển đầu của VHv.
1951 với VHv. 1442 và A. 1364
STT
Phân loại
Số lƣợng
Tỉ lệ (100%)
1.
Sai khác
494
49.2
2.
Bản đối hiệu thừa
20
10
0
Sai khác
Bản đối
hiệu thừa
Bản đối
hiệu thiếu
Bản đối
hiệu đảo
Bản nền tàn
khuyết
Hình 3.2: Biểu đồ tỉ lệ các loại dị văn qua đối hiệu 2 quyển đầu của
A với B và E
Biểu đồ trên thể hiện số lƣợng và tỉ lệ các loại dị văn thông
qua đối hiệu hai quyển đầu thuộc bản nền A với hai bản đối hiệu B
và E. Loại dị văn xuất hiện nhiều nhất thuộc về nhóm sai khác với
tổng số 494 dị văn, chiếm 49.2%, tức gần một nửa số dị văn xuất
hiện trong quá trình hiệu khám. Đứng ở vị trí thứ hai là trƣờng hợp
bản đối hiệu thiếu so với bản nền: có 192 điểm bản đối hiệu thiếu so
với bản nền, chiếm 19.1% tổng số lƣợng dị văn. Số lƣợng văn tự bản
đối hiệu thừa và đảo so với bản nền không chênh lệch nhiều. Văn tự
đảo xảy ra 156 lần chiếm 15.6% trong khi văn tự thừa xảy ra 117 lần
chiếm 11.7%. Trƣờng hợp có số lƣợng thấp nhất là bản nền
VHv.1951 tàn khuyết. Loại này chỉ xảy ra tại 44 điểm, chiếm 4.4%.
Ở đây xuất hiện điển chiết mai 折梅. Nhân Giang Nam vào
tiết Thanh minh mà Phƣơng Bắc thì chƣa, có một năm hoa mai
Giang Nam nở, Lục Khải bèn gửi ngƣời sứ dịch trạm một nhành mai
mang tới cho bạn tri kỉ là Phạm Diệp đồng thời tặng bạn một câu
thơ: Giang Nam không có gì, tạm gửi 1 nhành xuân.(江南无所有,
聊寄一枝春 giang nam vô sở hữu, liêu kí nhất chi xuân). Đặt trong
ngữ cảnh, bài thơ là Viễn kí hữu nhân (xa gửi thƣ cho bạn) chúng tôi
cho rằng bản A, E chép chữ dị 肄 hợp lí hơn, bản B do nhầm với
chữ gần tự dạng mà chép thành 肆 tứ.
Trên đây là một vài ví dụ biện ngụy dị văn của chúng tôi.
Những trƣờng hợp còn lại của 574 dị văn cần biện ngụy chúng tôi
trình bày chi tiết tại Phụ lục 2 của Luận án.
3.2. Hiệu khám và biện ngụy quyển 3, 4, 5 văn bản Ngôn chí thi
tập
Nhƣ đã giới thiệu ở trên, thực tế là, chỉ có VHv.1951 chép 5
quyển của Ngôn chí thi tập 言志詩集 còn các bản khác chỉ chép
quyển 1, 2 do đó quyển 3, 4, 5 trở thành độc bản. Trƣớc hết cần tìm
hiểu tính chân ngụy của văn bản, kế đó hiệu khám độc bản để hoàn
thiện thao tác xây dựng thiện bản văn vản.Với độc bản, không thể áp
dụng đối hiệu khám mà chỉ có thể áp dụng bản hiệu khám, tha hiệu
khám, lí hiệu khám.
3.2.1 Tính chân ngụy của ba quyển 3, 4, 5 thuộc văn bản VHv.
1951
3.2.1.1 Hình thức
Về hình thức, cách ghi chú thích ở các quyển 3,4,5 thuộc bản
Vhv. 1951 thống nhất với cách ghi chú thích trong quyển 1, 2 của
các bản còn lại.
Cấu trúc chú thích về thời gian thƣờng là: Thời cái + …(1)
Khoan ở 2 quyển đầu của thƣ tịch. Đó là sự xuất hiện dày đặc của hệ
thống từ vựng có nguồn gốc từ Kinh Dịch nhƣ hào, quẻ, các cặp
phạm trù triết học nhƣ âm dƣơng, tiêu trƣởng, khuất thân, động tĩnh,
tân cựu…
Từ những căn cứ trên về hình thức, về thông tin và về đặc
điểm ngôn ngữ tạm thời cho phép chúng tôi tin rằng ba quyển 3, 4, 5
chép trong văn bản VHv.1951 là sáng tác thuộc NCTT của Phùng
Khắc Khoan.
3.2.2 Hiệu khám 3 quyển 3, 4, 5 thuộc văn bản VHv.1951
3.2.2.1 Hiệu khám tiêu đề
Tiêu đề bài thơ đƣợc hiệu khám so với mục lục ghi ở đầu sách
(1). Bài 150: Mục lục ghi: Ngã đăng 我燈, kèm chữ nhỏ phụ họa thi
附和詩., phần nội dung chỉ chép tiêu đề là ngã đăng 我燈 và sau bài
Ngã đăng 我燈 là bài Phụ Vũ Thanh Lâm 附武青林 gieo cùng vần.
Nhƣ vậy nhiều khả năng bài họa không phải của Phùng Khắc Khoan
mà là của 1 ngƣời tên là Vũ Thanh Lâm. Bài này chúng tôi để ở
dạng tồn nghi.
Ngoài ra luận án hiệu khám tiêu đề các bài 161 Vịnh xuân
thiếp 詠春帖; Bài 166, phụng họa đề Hồ công động 奉和題壺公洞;
Bài 169 Xích thổ trú doanh trừ tịch 赤土駐营除夕; Bài 177 Tín tửu
信酒; Bài 202 Mộng kiến Hoàng Giang Nguyễn công lai hạ 夢見黃
江阮公来賀; Bài 259 Mai 梅; Bài 260 Đăng hóa báo hỉ 登花報喜.
3.2.2.2 Hiệu khám nội dung
a) Các trƣờng hợp độc bản mất chữ: 28 trƣờng hợp độc bản mất chữ
chƣa khôi phục đƣợc (bảng 3.5 chính văn)
b) Các trƣờng hợp độc bản thiếu: VHv.1951 có một số bài thơ chỉ
còn lại tiêu đề, một trong số đó là Sinh niên tự thuật 生年自述.
Trong toàn bộ các văn bản đã khảo sát ở 2.1, chỉ có duy nhất Toàn
Việt thi lục 全越詩錄 kí hiệu A.132/4 chép nội dung bài thơ này.
Chúng tôi dùng văn bản này để bổ khuyết cho VHv.1951.
trung thi)
Tác phẩm thực chép của Phùng Khắc 232
Khoan
Sáng tác của ngƣời thân, bạn bè
29
Tồn nghi
1
Chữ tàn khuyết chƣa khôi phục
28
Tiểu kết
Chƣơng 3 của Luận án đã tiến hành xác lập và công bố thiện
bản văn bản Ngôn chí thi tập 言志詩集. Thiện bản đƣợc xác lập
trong Luận án của chúng tôi là bản nền VHv. 1951 đã đƣợc hiệu
khám tỉ mỉ với 574 trƣờng hợp dị văn biện ngụy, 44 văn tự và 1 đơn
vị tác phẩm đƣợc bổ khuyết, 7 tiêu đề đƣợc hiệu chỉnh, 28 trƣờng
hợp tàn khuyết chƣa đƣợc khôi phục. Sách có mục lục, có 1 bài tựa,
tổng 5 quyển chép 263 bài thơ (2 bài chỉ còn tiêu đề), 233 bài của
Phùng Khắc Khoan (thực tế còn 231 bài có nội dung), 29 bài của
ngƣời thân, bạn bè, 1 bài tồn nghi.
CHƢƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CHỮ HÁN
CỦA PHÙNG KHẮC KHOAN TRONG NGÔN CHÍ THI TẬP
4.1 Đặc điểm tần số xuất hiện trung bình của chữ Hán trong
Ngôn chí thi tập
4.1.1 Các quy ước thống kê văn tự
Luận án dùng khái niệm tự 字 để chỉ chung cả văn 文 và tự 字.
Những trƣờng hợp chữ dùng để ghi tên ngƣời, tên địa danh, khi tìm
hiểu đều có lƣu ý riêng. Trong NCTT trƣờng hợp từ đơn đa tiết nhƣ
úng khê 甕鸂 (giòi bọ) bài 2, tri thù 蜘蛛 (nhện) bài 27,...) chiếm
một số lƣợng rất nhỏ, không ảnh hƣởng tới kết quả thống kê, về cơ
bản mỗi tự ứng với một từ do đó, khi phân tích đặc điểm kết hợp,
4.2 Đặc điểm kết hợp và ý nghĩa của một số từ có số lần xuất
hiện cao trong NCTT
4.2.1 Nhóm từ chỉ thời gian
Đƣợc ghi chép theo dạng biên niên kí bằng thơ, mỗi năm, mỗi
sự kiện đều đƣợc tác giả ghi lại, do đó nhóm văn tự chỉ thời gian có
số lần sử dụng cao. Tiêu biểu là: xuân 春 (111), nhật 日 (86), thời 時
(92), niên 年 (80), kim 今 (56), thế 世 (48).
4.2.2 Nhóm từ chỉ không gian
Ngôn chí thi tập có một số lƣợng lớn các bài hoàn thành trên
đƣờng đi, cụ thể là chuyến đi vào Thanh Hoa đầu quân cho nhà Lê,
những chuyến Phùng Khắc Khoan đi theo quân đội Trịnh Kiểm hoặc
trên đƣờng đi chiêu dụ dân chúng…do đó, số lƣợng đơn vị tác phẩm
đề cập tới các địa danh, quang cảnh, thiên nhiên… cũng rất phong
phú. Vì thế, tất yếu số lƣợng từ ngữ chỉ không gian, cảnh vật tự
nhiên cũng tăng cao hơn so với các nhóm khác. Tiêu biểu: Nhóm
văn tự chỉ không gian, cảnh vật tự nhiên: phong 風 (53), quang 光
(43), sơn 山 (47), nguyệt 月 (44).
4.2.3 Nhóm từ chỉ tư tưởng, đạo lí, tình cảm
Hệ thống từ ngữ trong NCTT có sự xuất hiện dày đặc của
nhóm từ chỉ tƣ tƣởng, đạo lí, ý chí, tình cảm. Nhóm từ này khiến cho
thi tập mang đậm màu sắc triết lí, suy tƣởng. Đặc điểm này phần nào
phản ánh hệ tƣ tƣởng và quan niệm thẩm mĩ của tác giả một ngƣời
chịu ảnh hƣởng sâu sắc của Tống Nho, ngôn ngữ thơ vì thế cũng
đậm chất triết lí. Nhóm văn tự chỉ tƣ tƣởng, tình cảm, đạo lí có mật
độ xuất hiện cao: thiên 天(135), nhân 人 (72) tâm 心 (62), đạo 道
(56), chí 志 (20).
4.3. Giá trị biểu đạt của nhóm từ có tần số xuất hiện cao trong
NCTT
Phùng Khắc Khoan có một cái nhìn rất mới, rất lạc quan về
thời gian. Không hối tiếc quá khứ, không hoảng hốt với sự chảy trôi
của thời gian, ông hân hoan và tin tƣởng vào ngày mới, năm mới,
mùa mới với những đổi thay tích cực về vận mệnh.
4.3.2 Không gian nghệ thuật cổ điển
Cũng giống nhƣ những tác phẩm thi ca trung đại khác, không
gian nghệ thuật truyền thống trong Ngôn chí thi tập 言志詩集 ngập
đầy phong 風, hoa 花, 雪 tuyết, nguyệt 月, sơn 山…
Phong 風 đƣợc nhắc tới nhiều lần trong Ngôn chí thi tập 言志詩
集(53 lần). Kết hợp thƣờng gặp nhất của phong là xuân phong 春風
và đông phong 東風(9 lần).Các kết hợp của chữ phong 風 đa số đều
để miêu tả cảnh sắc tự nhiên. Sáu lần tác giả dùng phong quang 風光
chỉ chung cảnh vật, thời tiết.
Sơn 山 đƣợc nhắc tới 47 lần, gấp gần 8 lần TSTB khiến cho hình
tƣợng núi trở đi trở lại quen thuộc và gần gũi với ngƣời đọc. Đa số
hình ảnh núi xuất hiện trong những bài thơ tái hiện cung đƣờng Tây
hành của ông. Đƣờng vào xứ Thanh núi tiếp núi, trƣớc tiên đó là
hình ảnh thật phản chiếu không gian có thật. Hình ảnh núi đƣợc tác
giả tái hiện bằng các kết hợp chính phụ: viễn sơn 遠山(núi xa), thanh
sơn 青山(núi xanh), dao sơn 遥山(núi xa), sơn kính 山徑(con đƣờng
mòn trong núi), sơn trung (山中 trong núi)....
Nguyệt 月(trăng) cũng nhiều lần đƣợc nhắc tới trong Ngôn chí thi
tập, nét riêng của ông chính là cách lựa chọn từ ngữ trong kết hợp
dùng miêu tả trăng. Thơ Ngôn chí vốn khô khan nhƣng những vần
thơ tả trăng hay mƣợn trăng tả tình của Phùng Khắc Khoan luôn làm
ngƣời đọc mềm lòng bởi những ấn tƣợng dịu dàng mà nó gợi ra. Thơ
tả trăng là những vần thơ hiếm mang nỗi u hoài của Phùng Khắc
Khoan
4.3.3 Ý chí, hoài bão kiên định
Trong Ngôn chí thi tập hai nội dung nổi bật nhất thể hiện tình
tƣởng Ngôn chí thi tập 言志詩集 tạo nên 1 khía cạnh trong phong
cách ngôn ngữ Phùng Khắc Khoan.
4.4 Vài nét về đặc điểm phong cách sử dụng ngôn ngữ trong Ngôn
chí thi tập
4.4.1 Ngôn ngữ sâu sắc, giàu triết lí
Phùng Khắc Khoan nói nhiều về triết lí, về sự chiêm nghiệm nên
trong ngôn ngữ thơ xuất hiện nhiều những căp phạm trù đối lập: âm
dương 陰阳, tiêu trưởng 肖長, vãng lai 往来, khuất thân 屈申,…
hoặc các các mệnh đề nhƣ: tiểu vãng đại lai 小往大來, bĩ cực thái
lai 否極泰來. Các quẻ trong Kinh Dịch nhƣ Bác, Phục, Bĩ, Thái,
Càn, Khôn...hoặc các thuật ngữ thuộc Kinh Dịch cũng đƣợc Phùng
Khắc Khoan thƣờng xuyên sử dụng
4.4.2 Diễn đạt trực tiếp, giản dị
NCTT thƣờng sử dụng lối diễn đạt bộc trực, hiển lộ. Đặc điểm
này thể hiện ở 3 điểm sau: thứ nhất thƣờng không dùng lối nói hàm
ẩn mà nói thẳng ra suy nghĩ, cảm nhận của mình; thứ 2: sử dụng lối
diễn đạt gần với khẩu ngữ; thứ 3: số lƣợng hình dung từ thấp.
Hai điểm tiêu biểu nhất trong phong cách của ông đó là thƣờng
nói tới triết lí sâu sắc nhƣng lại đƣợc diễn đạt đơn giản, mộc mạc.
Tiểu kết
1. Tần số xuất hiện trung bình của 01 văn tự trong NCTT là 6 lần/ 1
văn tự. Trong đó, số chữ có số lần xuất hiện bằng và thấp hơn
TSXHTB là 1414 chữ (khoảng 75,9%). Trƣờng hợp các chữ có số
lần xuất hiện cao hơn TSXHTB không nhiều, chỉ có 449 chữ, chiếm
24,1% số đơn vị. Tuy nhiên trong số 449 chữ này lại có những chữ
xuất hiện với số lần xuất hiện cực cao (gấp gần 22,5 lần TSXHTB)
khiến cho 449 chữ này tạo nên 73% độ dài văn bản.
2. Tập trung khảo sát một số nhóm từ có số lần xuất hiện cao trong