LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Mọi thông tin thu thập
hoàn toàn đúng sự thật và chính xác. Các số liệu trong đề tài là do tôi nghiên cứu, thu
thập và phân tích.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đồ án tốt nghiệp đều đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đồ án đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
Phùng Thị Thu Hằng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được
nhiều sự quan tâm giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Môi
Trường, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, các bác, các cô chú, các
anh chị ở địa phương cùng bố mẹ và bạn bè.
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo
Khoa Môi trường và TS. Hoàng Lưu Thu Thủy, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ
Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đồ
án tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cấp lãnh đạo và cán bộ môi trường tại Ủy ban nhân
dân xã Vĩnh Sơn cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Vĩnh Tường đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên
và quan tâm trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, do điều kiện về thời gian, tài chính và trình độ
nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khi thực hiện đề tài khó tránh khỏi những
thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo và các bạn để đồ án tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TW
: Trung ương
HNTW
: Hội nghị trung ương
BTP
: Bộ tư pháp
BVHTT
: Bộ văn hóa thể thao
UBND
: Ủy ban nhân dân
BCH
: Ban chấp hành
TTLT
: Thông tư liên tịch
BVMT
trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ
biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ
biến và ngày càng nghiêm trọng.
Xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc cũng đang là một vùng phát triển
kinh tế trọng điểm của huyện với làng nghề nuôi rắn nổi tiếng đem lại nguồn thu nhập
tương đối cao cho người dân. Bên cạnh việc phát triển kinh tế hàng đầu của huyện,
Vĩnh Sơn cũng là nơi có thực trạng môi trường đang ở mức đáng báo động
Song song với việc khuyến khích, tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân trong
công tác bảo vệ môi trường thì rất cần thiết đưa ra những quy tắc giúp việc thực hiện
công tác bảo vệ môi trường được hiệu quả hơn như xây dựng hương ước, quy ước về
bảo vệ môi trường. Để soạn thảo Hương ước bảo vệ môi trường của một làng, xã phải
căn cứ vào Luật Bảo vệ môi trường và các quy định của nhà nước, đồng thời phải xem
xét đến điều kiện về truyền thống, phong tục tập quán của địa phương, như vậy Hương
ước mới có tính khả thi cao.
Việc xây dựng hương ước quy ước bảo vệ môi trường tại xã Vĩnh Sơn là rất cần
thiết. Hương ước giúp cho người dân nâng cao được nhận thức và trách nhiệm của
mình trong công tác bảo vệ môi trường, thu hút được đông đảo quần chúng hưởng ứng
bảo vệ môi trường nơi đang sinh sống, làm việc và tạo được sự đồng thuận cao về bảo
vệ môi trường trong cộng đồng. Do đó, đề tài “ Xây dựng bản hương ước, quy ước
bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh
Tường, tỉnh Vĩnh Phúc ” được lựa chon nghiên cứu như một đồ án tốt nghiệp.
7
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được bản hương ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng
nhằm thực hiện thành công xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường từ cấp trung ương
đến cấp địa phương tại xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
3. Nội dung nghiên cứu
luật”. [5]
Hương ước, quy ước có vai trò quan trọng trong đời sống và sinh hoạt cộng đồng
dân cư. Cùng với pháp luật, hương ước, quy ước giúp duy trì an ninh trật tự, vệ sinh
môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, phát triển sản xuất, khuyến khích học
hành, giải quyết các tranh chấp, vi phạm nhỏ trong nhân dân, xoá đói, giảm nghèo, góp
phần duy trì và phát huy thuần phong mỹ tục, đề cao các chuẩn mực đạo lý và đạo đức
truyền thống dân tộc. Gần đây, nhiều nội dung của hương ước, quy ước còn góp phần
thực hiện chính sách dân số, bài trừ các hủ tục và tệ nạn xã hội. Hương ước, quy ước
góp phần hình thành trong địa phương và người dân sinh sống tại địa phương truyền
thống đoàn kết quý báu và nâng cao ý thức của mỗi cá nhân trong công việc chung của
cộng đồng. Hơn vậy, ngoài việc quy định nghĩa vụ của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng thì
hương ước, quy ước còn định rõ trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ, giúp đỡ
lẫn nhau giữa các thành viên trong đời sống thường nhật; hương ước khuyên răn mọi
người ăn ở hòa thuận theo đúng đạo hiếu gia đình, giữ gìn tình làng nghĩa xóm, giúp
đỡ nhau lúc hoạn nạn, túng thiếu hay gặp công to việc lớn. Những trường hợp gây ảnh
hưởng xấu tới người khác và lợi ích chung của cộng đồng đều bị phạt nặng. Mọi người
dân đều thấy được những nguyên tắc, quy tắc xử sự đồng nhất, công bằng, dân chủ,
chỗ dựa về vật chất và tinh thần ở nơi mình sinh sống thông qua hương ước, quy ước
của địa phương.[5]
Hương ước, quy ước là kết ước của người dân, được thể hiện bằng một loại văn bản
với nhiều tên gọi khác nhau như: hương ước làng, quy ước làng,… Trong dân gian
9
cũng còn nhiều loại hình kết ước của người dân được thể hiện bằng các câu tục ngữ,
lời nói có vần, phương ngôn, ngạn ngữ truyền miệng, không được thực hiện bằng văn
bản thì không phải là hương ước. Do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra trên cơ
sở sự nhất trí của cộng đồng dân cư. Đây cũng là một trong những nguyên tắc xây
dựng hương ước, quy ước, bất cứ một cá nhân hay một cơ quan, tổ chức nào xây dựng
dựng trên cơ sở những quy phạm. Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, quy phạm trong
hương ước, quy ước là quy phạm xã hội, do nhân dân xây dựng nên và nhân dân tự
nguyện thực hiện; quy phạm trong văn bản quy phạm pháp luật là quy phạm pháp luật
do các cơ quan nhà nước xây dựng nên và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà
nước. Ở đây cũng cần nói thêm rằng, mặc dù chính quyền địa phương có thực hiện
việc phê duyệt hương ước, quy ước sau khi văn bản này được nhân dân xây dựng
nhưng đó chỉ là hành vi mang tính chất hành chính, thể hiện quan điểm thống nhất của
chính quyền và nhân dân với nội dung của hương ước, quy ước, còn trong thực tế việc
xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước đều thể hiện sự tự nguyện, tự quản và tính
nhất trí cao trong cộng đồng dân cư. [5]
Với vị trí, vai trò của mình, hương ước, quy ước là thành tố quan trọng trong hệ
thống thể chế quản lý ở nông thôn, là một bộ phận hỗ trợ đắc lực pháp luật trong việc
điều chỉnh các quan hệ xã hội tại cộng đồng dân cư đối với những vấn đề, những nội
dung mà pháp luật không điều chỉnh, mặt khác, hương ước, quy ước còn thực hiện tối
đa tinh thần mở rộng dân chủ ở cơ sở, giúp nhân dân trong tiến trình tham gia giám sát
hoạt động của cơ quan nhà nước.
1.1.2. Nội dung và hình thức thể hiện của hương ước
- Nội dung:
Nội dung của hương ước, quy ước thường đề ra các biện pháp, phương thức thích
hợp giúp dân cư trên địa bàn tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo đảm và
phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân dân; động viên và tạo điều kiện để nhân dân
thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của công dân; Đề ra các biện pháp góp phần bảo
vệ tài sản Nhà nước, tài sản công cộng và tài sản của công dân, bảo vệ môi trường
sống; Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn; Đề ra các biện pháp
khuyến khích và không khuyến khích trong hương ước, quy ước nhằm thực hiện chính
sách dân số - kế hoạch hoá gia đình.
Các nội dung, biện pháp nhằm bảo đảm, giữ gìn và phát huy thuần phong, mỹ tục,
thực hiện nếp sống văn minh trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt các chính sách xã
hội của Đảng và Nhà nước. Hơn nữa, trong hương ước, quy ước còn đề cập đến các
biện pháp bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc
cư (sau
đây gọi
chung là Trưởng thôn) chủ trì
Bước
Thảocụm
luận dân
và thông
qua hương
ước.
cùng Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận thống nhất các nội dung cơ bản cần
soạn thảo, đồng thời chỉ định các thành viên Nhóm soạn thảo. Thành viên Nhóm soạn
Bước
duyệt
hươngsống,
ước có trình độ văn hoá, hiểu biết về
thảo là những người có uy
tín 4.
vàPhê
kinh
nghiệm
pháp luật và phong tục tập quán ở địa phương, có phẩm chất đạo đức tốt. Nhóm soạn
thảo cần có sự tham gia của đại diện một số cơ quan, tổ chức và đại diện của các thành
phần trong cộng đồng dân cư như: cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, các chức sắc tôn
12
giáo, già làng, trưởng bản, trưởng tộc và những người khác có uy tín, trình độ trong
cộng đồng.
nửa số người dự họp tán thành. Trưởng thôn phối hợp với Ban công tác Mặt trận chủ
13
trì Hội nghị. Hội nghị quyết định hình thức biểu quyết thông qua hương ước bằng cách
giơ tay biểu quyết trực tiếp hoặc bỏ phiếu.
Bước 4. Phê duyệt hương ước:
Sau khi hương ước được thông qua, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cùng Chủ tịch
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã xem xét nội dung của hương ước bảo đảm phù hợp
với pháp luật, thuần phong mỹ tục và trao đổi thống nhất với Chủ tịch Hội đồng nhân
dân cấp xã về nội dung của hương ước trước khi trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện phê duyệt.
Hương ước chính thức trình phê duyệt cần có chữ ký của Trưởng thôn, Bí thư chi
bộ, Trưởng ban công tác Mặt trận và già làng (nếu có) kèm theo Biên bản thông qua tại
Hội nghị.
Hương ước gửi lên Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phải có công văn đề nghị
của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, phê duyệt hương ước trong thời hạn
30 ngày, kể từ ngày nhận được bản hương ước và công văn đề nghị phê duyệt.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định phê duyệt hương ước. Hương
ước đã được phê duyệt phải có dấu giáp lai.
Trong trường hợp hương ước không được phê duyệt thì Phòng Tư pháp chủ trì phối
hợp với Phòng Văn hoá - Thông tin hướng dẫn để cơ sở chỉnh lý, hoàn thiện các
hương ước đó để trình lại.
- Tổ chức thực hiện và sửa đổi, bổ sung hương ước:
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm chuyển hương ước đã được phê duyệt để
Trưởng thôn niêm yết tuyên truyền, phổ biến đến từng thành viên trong cộng đồng dân
cư và tổ chức thực hiện hương ước.
Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã
Bước 7: Giám sát và đánh giá
15
Bước 8: Nâng cao nhận thức
Bước 1: Họp với xã, phường/thôn
Cuộc họp đầu tiên cần được tổ chức với sự tham gia của lãnh đạo cấp xã, phường
nhằm giới thiệu mục tiêu và các bước của dự án. Cuộc họp này sẽ thảo luận việc triển
khai dự án để đảm bảo rằng những người tham gia thống nhất với mục đích và các
bước đã đề xuất. Giải thích lợi ích của cộng đồng và những kết quả mong muốn.
Tại cuộc họp này, có thể thảo luận một số ý kiến ban đầu về những quy định trong
hương ước.
Bước 2: Hội thảo với trưởng thôn/ lãnh đạo xã
Cần tổ chức một buổi hội thảo/tập huấn cho lãnh đạo xã, phường về bảo vệ môi
trường và vệ sinh môi trường địa phương. Buổi hội thảo/tập huấn một ngày sẽ giúp
chuẩn bị cho các lãnh đạo phường trước khi thực hiện nhiệm vụ.
Buổi tập huấn gồm:
- Trình bày về các vấn đề môi trường quan trọng nhất của địa phương (rác thải sinh
hoạt, rác thải nguy hại, nước uống, nước thải, tiết kiệm nước, vệ sinh, đa dạng sinh
học, nông nghiệp, làm vườn…).
- Trình bày một số ví dụ về các hương ước của những địa phương khác để lấy ý
kiến.
- Các phương pháp và công cụ để các thành viên trong cộng đồng tham gia xác định
các vấn đề và giải pháp (ví dụ, sử dụng phương pháp phân tích sơ đồ vấn đề).
Bước 3: Thu thập thông tin
Mỗi lãnh đạo xã cần lập một nhóm khoảng 10 người. Nhiệm vụ của các nhóm là thu
thập ý kiến của người dân và xây dựng dự thảo hương ước trên cơ sở các ý kiến và ưu
tiên của phường. Nhóm này nên có số lượng bình đẳng nam nữ và cố gắng có sự tham
gia của các thành viên đại diện cho các nhóm xã hội và độ tuổi khác nhau.
các thôn/phường. Đây là một sự kiện quan trọng khi các hộ gia đình chính thức phê
duyệt và cam kết thực hiện hương ước.
Mỗi hộ gia đình sẽ nhận và ký vào một bản sao của hương ước như một sự cam kết
chính thức. Bản sao cần được treo trong từng gia đình.
Bước 7: Giám sát và đánh giá
17
Mỗi thôn cần thành lập một ban giám sát triển khai và tuân thủ hương ước. Ban này
có thể đề xuất một số hoạt động cần thiết trong quá trình triển khai.
Ban giám sát gồm có lãnh đạo thôn và một số người dân đáng tin cậy trong thôn.
Họ có nhiệm vụ xây dựng một báo cáo ngắn về việc triển khai hương ước theo quý.
Họ cũng chịu trách nhiệm ghi nhận những khiếu nại và xử phạt các vi phạm hương
ước. Số tiền phạt sẽ được đưa vào quỹ môi trường của địa phương. Hương ước cũng
cần xác định xem số tiền đó sẽ được sử dụng làm gì, ví dụ, để lắp đặt thùng rác, nhà vệ
sinh công cộng hoặc để trồng cây.
Có thể sử dụng những chỉ số sau để đánh giá dự án:
-
% số người biết về hương ước
% người có thể nêu ít nhất hai điều của hương ước
% người cho rằng bảo vệ môi trường là quan trọng
% người nghĩ rằng hương ươc có thể góp phân bảo vệ môi trường và cải thiện môi
trường sống.
- % người nghĩ rằng hương ước đã có tác động tích cực đến thôn.
Bước 8: Nâng cao nhận thức
Toàn bộ quá trình tham gia xây dựng hương ước có một chức năng nâng cao nhận
thức quan trọng. Tuy nhiên, việc có thêm các hoạt động nâng cao nhận thức cũng rất
quan trọng để đảm bảo rằng cộng đồng có thể biết và tuân thủ nội dung hương ước.
- xã hội, tổ chức xã hội, các phương tiện truyền thông trong hoạt động bảo vệ môi
trường.
Phát hiện các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường để
khen thưởng, phổ biến, nhân rộng; duy trì và phát triển giải thưởng môi trường hàng
năm. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hoá và vào tiêu chuẩn xét khen thưởng.
-
Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số
41 của Bộ Chính Trị “ về về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa - hiện đại hóa đất nước”:
Tăng cường và đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ về nhận thức và hành động trong các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc,
19
đoàn thể, cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về trách nhiệm, ý thức bảo vệ môi
trường.
Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm cụ thể
hóa và hướng dẫn đầy đủ Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đa dạng sinh học; sửa đổi, bổ
sung các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ Luật Hình sự. Quy định các chế
tài xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng và ban hành
quy định bồi thường thiệt hại về môi trường.
Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế, chính sách khuyến
khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Xây dựng và phát triển
lực lượng tình nguyện viên bảo vệ môi trường. Tăng cường sự giám sát của cộng đồng,
các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với bảo vệ môi trường của
các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.
- Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày
Trong chế độ phong kiến, hương ước, quy ước tồn tại song song với pháp luật của Nhà
nước phong kiến Việt Nam, góp phần giữ gìn bản sắc và sự phát triển của dân tộc.
Khi nói đến hương ước, quy ước là đề cập đến một thành tố quan trọng trong thể
chế quản lý nông thôn, đề cao tính tự quản, tự trị của thôn, làng, ấp, bản, là một nét
văn hóa quản lý truyền thống có tính phổ biến ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có
Việt Nam.
Thực tế xây dựng và phát triển nông thôn ở nước ta trong những năm qua đã chứng
minh rằng, nếu chỉ sử dụng thuần túy pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội - dân
sự ở nông thôn thì chưa đầy đủ và không đạt hiệu quả. Việc xóa bỏ hương ước, quy
ước, xóa bỏ vai trò của nó với tư cách là một công cụ quan trọng góp phần quản lý xã
hội ở nông thôn là đã bỏ qua một nét văn hóa truyền thống, hạn chế sự phát triển thuần
phong mỹ tục, để lại những khoảng trống mà pháp luật cho dù có hoàn thiện đến mấy
cũng không thể bao quát hết được.
Từ Nghị quyết số 05 - NQ/HNTW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VII ngày 10 tháng 6 năm 1993 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã
hội ở nông thôn, hương ước, quy ước được thừa nhận trở lại, chứng tỏ sự tồn tại bất
diệt của nó và đang trở thành một công cụ hữu hiệu trong thể chế quản lý ở nông thôn.
Chủ trương “khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, các quy chế về nếp
sống văn minh ở các thôn, xóm” mà Hội nghị lần này đặt ra đã trở thành nền móng
21
vững chắc cho việc xây dựng hệ thống thể chế về hương ước, quy ước và phong trào
xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước ở nhiều địa phương trong cả nước.
Về phía Nhà nước đã có một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về hương
ước, quy ước như: Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 19
tháng 6 năm 1998 quy định việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng,
bản, thôn, ấp, cụm dân cư, Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT….
Hương ước, quy ước có ý nghĩa giáo dục và động viên nhân dân hành động, gắn bó
a. Điều kiện tự nhiên
• Vị trí địa lý
Xã Vĩnh Sơn là xã nằm ở xã nằm ở phía Bắc của huyện Vĩnh tường, diện tích tự
nhiên 327.34 ha, với 1.304 hộ và trên 5.906 nhân khẩu. Trong đó diện tích đất nông
nghiệp là 236,27 ha, chiếm tỉ lệ 72,18%; Đất phi nông nghiệp 91,07 ha, chiếm tỉ lệ
27,82. [10]
Nằm cách quốc lộ 2 khoảng 3 km về phía Tây Nam, Vĩnh Sơn có đường biên giới
tiếp giáp với 5 xã.
- Phía Bắc giáp Đại Đồng,
- Phía Tây giáp Thổ Tang và Thượng Trưng,
- Phía Nam giáp Vũ Di,
- Phía Đông giáp Bình Dương.
Hình 1.1: Vị trí địa lý xã Vĩnh Sơn
•
Địa hình địa mạo
Xã Vĩnh Sơn là một xã thuộc vùng đồng bằng nên có địa hình bằng phẳng, đất đai
của xã tương đối màu mỡ thuận lợi cho phát triển trồng trọt không những đáp ứng nhu
cầu của người dân mà còn góp phần cung cấp thức ăn cho phát triển ngành chăn nuôi
của xã.
•
Khí hậu
23
Xã Vĩnh Sơn nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều. Khí hậu
bão (vào tháng 7 – 8) như đổ nhà cửa, tàn phá hoa màu gây thiệt hại không chỉ tới kinh
tế mà tới cả đời sống người dân.
•
Các nguồn tài nguyên
−
Tài nguyên đất
Xã Vĩnh Sơn là một xã thuộc vùng đồng bằng nên có địa hình bằng phẳng, đất đai
của xã tương đối màu mỡ thuận lợi cho phát triển trồng trọt không những đáp ứng nhu
cầu của người dân mà còn góp phần cung cấp thức ăn cho phát triển ngành chăn nuôi
24
của xã. Xã Vĩnh Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 327,34 ha, trong đó diện tích
nuôi rắn là 9,1 ha chiếm 14,41% diện tích đất thổ cư. [10] Tình hình phân bổ và sử
dụng đất của xã trong năm 2016 được thể hiện ở bảng 1.1:
Bảng 1.1: Tình hình phân bố và sử dụng đất của xã Vĩnh Sơn năm 2016
Chỉ tiêu
Tổng diện tích đất tự nhiên
1. Đất nông nghiệp
Đất canh tác
Đất nuôi trồng thủy sản
Đất nông nghiệp khác
2. Đất phi nông nghiệp
Đất thổ cư
Trong đó diện tích đất nuôi rắn
thế có giá trị rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội và đời sống nhân dân, nếu
được khai thác và sử dụng hợp lý sẽ đáp ứng đủ nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp,
ngư nghiệp, công nghiệp, đời sống của nhân dân giúp môt phần không nhỏ cho sự phát
triển kinh tế của xã.
b. Điều kiện kinh tế - xã hội
- Tình hình hộ khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn
Lao động là một nhân tố quan trọng trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội trong
sản xuất cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Tình hình biến động về
nhân khẩu và lao động của xã Vĩnh Sơn được thể hiện ở bảng 1.2:
25