TRƯỜNGĐẠI
ĐẠIHỌC
HỌCTÀI
TÀINGUYÊN
NGUYÊNVÀ
VÀMÔI
MÔITRƯỜNG
TRƯỜNGHÀ
HÀNỘI
NỘI
TRƯỜNG
KHOA
KHOAMÔI
MÔITRƯỜNG
TRƯỜNG
NGUYỄNSƠN
SƠNLONG
LONG
NGUYỄN
ĐỒÁN
ÁNTỐT
TỐTNGHIỆP
NGHIỆP
ĐỒ
XÂYDỰNG
DỰNGHƯƠNG
HƯƠNGƯỚC,
ƯỚC,QUY
QUYƯỚC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo-Trường Đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
Khoa môi trường
Hội đồng chấm đồ án tốt nghiệp
Tên em là: Nguyễn Sơn Long- Sinh viên chuyên nghành quản lý tài nguyên và
môi trường, Trường đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm đồ án một cách khoa học và
chính xác, trung thực
Các kết quả, số liệu nêu trong đồ án đều có thật, thu được trong quá trình
nghiên cứu và chưa từng được công bố trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào.
Hà Giang, ngày 14 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Sơn Long
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội đã tạo điều kiện cho em được làm đồ án tốt nghiệp,
xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa môi trường đã chỉ dạy
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................45
Xin cảm ơn sự hợp tác của Ông/Bà!..............................................................52
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Chất lượng nước dùng cho sinh hoạt
Bảng 2: Hiện trạng sử dụng nguồn nước
Bảng 3: Chất lượng nước sinh hoạt
Bảng 4: Các nguồn phát sinh nước thải
Bảng 5: Tỷ lệ Hộ gia đình thải nước thải sinh hoạt
Bảng 6: Hiện trạng sử dụng các kiểu nhà vệ sinh
Bảng 7 Mục đích sử dụng đất tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 8: Hiện trạng chất lượng đất tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 9: Hiện trạng chất lượng môi trường không khí tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 10: Chất lượng không khí tại xã Vĩnh Phúc
Bảng 11: Thải lượng CTR sinh hoạt ở các đô thị và nông thôn trên địa bàn
huyện Bắc Quang
Bảng 12: Nguồn tiếp nhận thông tin về của hộ dân
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 : Bản đồ hành chính xã Vĩnh Phúc
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nguồn nước
Hình 3: Biểu đồ tỷ lệ chất lượng nước sinh hoạt của người dân
Hình 4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các nguồn phát sinh nước thải
Hình 5: Biểu đồ tỷ lệ các nguồn tiếp nhận nước thải sinh hoạt
Hình 6: Biểu đồ các kiểu nhà vệ sinh được người dân sử dụng
Hình 7: Biểu đồ mục đích sử dụng đất tại xã Vĩnh Phúc
Hình 8: Biểu đồ hiện trạng chất lượng đất tại xã Vĩnh Phúc
Hình 9: Biểu đồ chất lượng không khí tại xã Vĩnh Phúc
tổ chức cụ thể nào mà đó là nhiệm vụ đối tới toàn xã hội, theo đó ở tất cả các địa
phương phải đồng loạt triển khai các chính sách, các chương trình nhằm phổ biến
1
và cụ thể hóa các quy định, chính sách pháp luật của nhà nước về bảo vệ môi trường
nhằm thực thi công tác này có hiệu quả, trong đó người viết cho rằng việc xây dựng
hương ước bảo vệ môi trường là rất cần thiết, đây được coi là công cụ hữu hiệu, phổ
biến nhất nhằm cụ thể hóa cũng như truyền tải các quy định của pháp luật về môi
trường đến người dân, thông qua đó đảm bảo công tác bảo vệ môi trường được thực
hiện có hiệu quả tại các địa phương.
Thực tế hiện nay, xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang là một
trong những xã đang triển khai thực hiện chỉ tiêu về xây dựng nông thôn mới, do đó
một trong những chỉ tiêu quan trong cần phải đạt được đó là chỉ tiêu về cấp nước
sạch và đảm bảo vệ sinh môi trường trên địa bàn xã, vì vậy với việc xây dựng
hương ước về bảo vệ môi trường sẽ góp phần thực hiện công tác này được hiểu quả
và triệt để hơn, các nội dung của bản hương ước sẽ tập trung vào việc quy định rất
cụ thể về việc bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường nước, đất, không khí, chất
thải….tại khu vực xã Vĩnh Phúc trên cơ sở các quy định của pháp luật môi trường,
qua đó đảm bảo đáp ứng chỉ tiêu về cấp nước sạch, và vệ sinh môi trường trong
chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Từ những lí do nêu trên, em lựa chọn đề tài: “Xây dựng hương ước, quy ước
bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại xã Vĩnh phúc, Huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà Giang”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được Bản hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia
của cộng đồng nhằm thực hiện công tác xã hội hóa bảo vệ môi trường từ cấp trung
ương đến cấp địa phương tại xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
3. Nội dung nghiên cứu
công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới.
- Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có
lúc đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn
nước suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng;
khối lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài
nguyên thiên nhiên trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có
quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi
trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi không bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát
triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá, sự gia tăng dân số trong khi
mật độ dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được khắc phục tại một
số vùng nông thôn, miền núi, các thảm hoạ do thiên tai và những diễn biến
xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi
trường, đặt công tác bảo vệ môi trường trước những thách thức gay gắt.
3
Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do chưa có nhận thức
đúng đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận
thức, trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng
người cho việc bảo vệ môi trường; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển
kinh tế với bảo vệ môi trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế
mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi
trường của nhà nước, của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư rất hạn chế;
công tác quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều yếu kém, phân công, phân
cấp trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm[2].
2) Chỉ thị số 29/ CT-TW Chỉ thị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết
41/ NQ-TW của Bộ chính trị
- Tổ chức kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TW
của Bộ Chính trị; xác định rõ những ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân,
dựng và phát triển lực lượng tình nguyện viên bảo vệ môi trường. Tăng cường
sự giám sát của cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại
chúng đối với bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Phát
triển các dịch vụ thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ
khác bảo vệ môi trường với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế. Hình
thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám định, chứng nhận về bảo vệ
môi trường; thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường đủ mạnh để giải
quyết các vấn đề môi trường lớn, phức tạp của đất nước[3].
3) Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTTBTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hoá Thông
tin và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối
hợp hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản,
thôn, ấp, cụm dân cư[4].
1.1.2. Nội dung và hình thức thể hiện của hương ước
Để khắc phục những hạn chế và tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực
hiện hương ước ở cơ sở, theo Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTPBVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hoá
Thông tin và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
phối hợp hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng,
bản, thôn, ấp, cụm dân cư như sau:
a. Nội dung của hương ước
5
Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử
sự chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan
hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những
phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản,
thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước
bằng pháp luật.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ
hoá;
- Xây dựng tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, vận
động các thành viên trong gia đình, họ tộc, xóm làng đoàn kết nhau để xoá
đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến
nghề ở địa phương; vận động các thành viên trong cộng đồng tham gia tổ hợp
tác, hợp tác xã nhằm phát triển sản xuất. Khuyến khích phát triển các làng
nghề; đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng:
điện, đường, trường học, trạm xá, nghĩa trang, các công trình văn hoá thể thao
trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp
khả năng đóng góp của nhân dân;
- Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn, góp phần
phòng chống tệ nạn xã hội như ma tuý, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại
dâm và các hành vị khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong
sạch. Phát động trong nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật về tạm trú, tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp
đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng dân cư. Đề ra các biện pháp cần thiết
hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật trên địa bàn;
bảo đảm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức tự quản ở
cơ sở như tổ chức, hoạt động của Tổ hoà giải, Ban an ninh, Tổ bảo vệ sản
xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;
- Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương
ước:
Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá
nhân, hộ gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước
như: lập sổ vàng truyền thống nêu người tốt, việc tốt, ghi nhận công lao,
thành tích của tập thể, cá nhân; bình xét, công nhận gia đình văn hoá, và các
hình thức khen thưởng khác do cộng đồng tự thoả thuận hoặc đề nghị các cấp
chính quyền khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.
7
8
Tuỳ theo đặc điểm và yêu cầu tự quản của từng địa bàn mà hương ước
có thể quy định bao quát toàn bộ hoặc một số điểm thuộc các nội dung được
hướng dẫn tại điểm 1 Phần a nói trên.
1.1.3. Quy trình xây dựng và triển khai hương ước, quy ước BVMT
Cũng giống như các hương ước khác, hương ước bảo vệ môi trường (gọi
tắt là hương ước môi trường) do chính người dân là “tác giả”, đồng thời là
người thực hiện và giám sát nhau thực hiện. Trước hết, họ phát hiện và xác
định các vấn đề môi trường tại địa phương mình (có sự đóng góp của các cán
bộ chuyên môn), đưa ra phương hướng giải quyết và văn bản hóa các yêu cầu
đối với mỗi người dân của cộng đồng trong công tác vệ sinh và bảo vệ môi
trường.
Những người soạn thảo hương ước tại địa phương là người hiểu hơn ai
hết vấn đề của chính quê hương mình, điều kiện xã hội cụ thể của làng xã
cũng như khả năng thực hiện, một bản hương ước được xây dựng nên có tính
hiện thực rất cao, rất sát với địa phương, phù hợp với các đặc thù về cơ sở vật
chất, nếp sống văn hoá, phong tục tập quán của địa phương mình.
Trước khi trở thành một văn bản chính thức, bản dự thảo sẽ được gửi đến
từng gia đình góp ý rồi cũng nhau tổng hợp lại, bàn bạc, chỉnh sửa và thông
qua. Bản hương ước đã được đồng thuận có sự cam kết bằng chữ ký của các
thành viên của cộng đồng (đơn vị thường là gia đình) và các tổ chức xã hội
(chi bộ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội phụ lão, hội cựu chiến binh, các
trường học ở địa phương) có giá trị như các “lệ làng” thời hiện đại.
Để có sự ràng buộc về mặt pháp lý, các bản hương ước có sự xác nhận
của Chính quyền địa phương (UBND xã, huyện…). Hương ước chỉ bổ sung
hoặc thay đổi trong trường hợp pháp luật Việt Nam có thay đổi, bổ sung hoặc
chính địa phương cần có những thay đổi bổ sung cho phù hợp với cách sống,
Bước 2. Tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và nhân dân vào dự
thảo hương ước.
Dự thảo hương ước được gửi đến cơ quan chính quyền, cấp uỷ, lãnh đạo
các tổ chức chính trị - xã hội ở cấp xã; nếu điều kiện cho phép thì gửi đến
từng hộ gia đình để lấy ý kiến đóng góp.
Việc thảo luận đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện dự thảo hương ước có
thể được tổ chức bằng các hình thức thích hợp như họp thảo luận ở tổ, đội sản
10
xuất, tổ dân phố, ngõ xóm, nhóm các hộ gia đình, họp thảo luận ở các tổ chức
đoàn thể ở thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư, niêm yết, phát trên đài truyền
thanh, mở hộp thư để thu thập ý kiến đóng góp.
Dự thảo hương ước có thể được Hội đồng nhân dân hoặc Ủy ban nhân
dân cấp xã thảo luận, tham gia ý kiến nhưng không thông qua như một nghị
quyết của Hội đồng hoặc quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Bước 3. Thảo luận và thông qua hương ước.
Trên cơ sở những ý kiến đóng góp trên, Nhóm soạn thảo chỉnh lý, hoàn
thiện dự thảo và gửi tới các thành viên sẽ được dụ kiến mời tham gia Hội nghị
để thảo luận và thông qua hương ước.
Dự thảo hương ước phải được thảo luận kỹ, thực sự dân chủ và thông
qua tại Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu hộ gia đình ở làng, bản, thôn,
ấp, cụm dân cư. Đại biểu hộ gia đình là chủ hộ hoặc người có năng lực hành
vi dân sự được chủ hộ uỷ quyền. Hội nghị này chỉ tiến hành khi có ít nhất là
hai phần ba tổng số thành phần cử tri hoặc đại biểu hộ gia đình tham dự.
Hương ước được thông qua khi có ít nhất quá nửa số người dự họp tán thành.
Trưởng thôn phối hợp với Ban công tác Mặt trận chủ trì Hội nghị. Hội nghị
quyết định hình thức biểu quyết thông qua hương ước bằng cách giơ tay biểu
quyết trực tiếp hoặc bỏ phiếu.
định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên và Hội đồng nhân dân cùng cấp
việc thực hiện hương ước ở địa phương.
Hàng năm, cần tổ chức kiểm điểm việc thực hiện hương ước. Trong
trường hợp cần sửa đổi, bổ sung thì do Hội nghị cử tri hoặc Hội nghị đại biểu
hộ gia đình thảo luận. Việc sửa đổi, bổ sung hương ước cũng phải tuân theo
trình tự, thủ tục như khi soạn thảo hương ước mới. Không được tuỳ tiện sửa
đổi, bổ sung hương ước sau khi đã được phê duyệt.
1.1.3.2 Các bước triển khai xây dựng hương ước bảo vệ môi trường
Từ những quy định hướng dẫn theo Thông tư liên tịch số
03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ
Tư Pháp, Bộ Văn hoá Thông tin và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam về việc hướng dẫn xây dựng và thực hiện hương ước,
quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư. Đồng thời kế thừa những bài
học thu được từ một số dự án thí điểm trong Chương trình SEMLA. Trong
12
chuyên đề này chúng tôi đề xuất 8 bước triển khai xây dựng hương ước bảo
vệ môi trường. Những bước này mô tả cách làm thế nào để xây dựng và triển
khai các quy định cùng với sự tham gia tích cực của cộng đồng trong đó nhấn
mạnh sự tham gia và tầm quan trọng của việc lồng ghép các hoạt động truyền
thông như một phần trong thiết kế dự án.
Bước 1: Họp với xã, phường/thôn
Cuộc họp đầu tiên cần được tổ chức với sự tham gia của lãnh đạo cấp xã,
phường nhằm giới thiệu mục tiêu và các bước của dự án. Cuộc họp này sẽ
thảo luận việc triển khai dự án để đảm bảo rằng những người tham gia thống
nhất với mục đích và các bước đã đề xuất. Giải thích lợi ích của cộng đồng và
những kết quả mong muốn.
Tại cuộc họp này, có thể thảo luận một số ý kiến ban đầu về những quy
định trong hương ước.
- Ai chịu trách nhiệm?
- Vấn đề có thể được giải quyết như thế nào?
- Cần có những hành động nào để giải quyết vấn đề?
- Lợi ích của việc thay đổi hành vi là gì?
- Có những cản trở nào? Chi phí?
Bước 4: Tổ chức họp dân
Khi đã có bản dự thảo hương ước lần thứ nhất, mỗi phường cần tổ chức
một buổi họp dân. Tại cuộc họp này, có mời các hộ gia đình đến để thảo luận
và điều chỉnh dự thảo hương ước nếu cần. Điều quan trọng là thông tin rõ
ràng cho mọi người về lý do và lợi ích của việc xây dựng hương ước.
Nếu có thể, có thể bỏ phiếu thông qua hương ước tại cuộc họp này. Nếu
như có sự bất đồng hoặc có nhiều ý kiến về nội dung hương ước, có thể phải
tổ chức một buổi họp thứ hai.
Bước 5: Phê duyệt hương ước
Các nhóm cần sửa đổi dự thảo hương ước theo những ý kiến phản hồi từ
buổi họp dân.
Sau đó, hương ước có thể được trình lên cơ quan có thẩm quyền (UBND
huyện) để mjjphê duyệt. Cơ quan có liên quan sẽ xem xét và ban hành quyết
14
định phê duyệt hương ước môi trường, phù hợp với quy định của pháp luật
Việt Nam.
Bước 6: Lễ ký cam kết
Ngay khi hương ước được chính thức thông qua, cần tổ chức một lễ ký
cam kết tại các thôn/phường. Đây là một sự kiện quan trọng khi các hộ gia
đình chính thức phê duyệt và cam kết thực hiện hương ước.
Mỗi hộ gia đình sẽ nhận và ký vào một bản sao của hương ước như một
sự cam kết chính thức. Bản sao cần được treo trong từng gia đình.
Vĩnh Phúc là xã vùng II của huyện Bắc Quang, có tọa độ 22°15′4″B 104°47′28″Đ
, cách trung tâm huyện 43 km về phía Tây Nam.
+ Phía Bắc giáp xã Tiên Kiều và xã Hương Sơn (huyện Quang Bình).
+ Phía Nam giáp xã Đồng Yên và xã Đông Thành.
+ Phía Tây giáp xã Vĩ Thượng huyện Quang Bình.
+ Phía Đông giáp xã Vĩnh Hảo.
Hình 1 : Bản đồ hành chính xã Vĩnh Phúc
Xã có địa hình lòng chảo tương đối bằng phẳng, xung quanh có đồi núi bao
bọc, khí hậu nhiệt đới mưa nhiều, lượng mưa hàng năm trên 600mm thuận lợi cho
sản xuất nông lâm nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên là 3.895,61 ha. Toàn xã có
10 thôn bản với 1.822 hộ với 7.776 nhân khẩu với 6 dân tộc cùng sinh sống (Tày,
Kinh, Mông, Nùng, Dao, Cao Lan). Thu nhập bình quân đầu người đạt 29,3 triệu
đồng/người/năm.
16
Vĩnh Phúc là xã có điều kiện thiên nhiên ưu đãi, thuận lợi cho việc chăn nuôi
và trồng trọt; trong đó phát triển mạnh sản xuất lúa hàng hóa. Là xã thuần nông
nhưng điều kiện kinh tế xã hội của xã Vĩnh Phúc phát triển tương đối đồng bộ. Giá
trị sản xuất trên 1ha canh tác đạt 60 triệu đồng/ha/năm; thu nhập bình quân đầu
người: 17 triệu đồng/người/năm; số hộ giàu 170 hộ, chiếm 10%; số hộ khá 327 hộ,
chiếm 19%; Hộ trung bình 887 hộ chiếm 52%
Năm 2009 xã Vĩnh Phúc được tỉnh chọn xây dựng thí điểm xây dựng nông thôn
mới và được huyện là một trong năm xã điểm về xây dựng nông thôn mới; đến hết
năm 2011 xã đã hoàn thành 11/19 tiêu chí, xã Vĩnh Phúc cũng là xã đi đầu hoàn
thành quy hoạch nông thôn mới cấp xã.
- Về địa hình:
Xã Vĩnh Phúc có địa hình chia thành 2 dạng địa hình chính như sau: