Nghiên cứu kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang. - Pdf 29

I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
PHAN HNG DIU Tờn ti:
Nghiên cứu kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của
xã Vĩnh Phúc, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

khóa luận tốt nghiệp ĐạI HọC
H o to : Chớnh quy
Chuyờn ngnh : Phỏt trin nụng thụn
Lp : K42 - PTNT
Khoa : KT&PTNT
Khoỏ hc : 2010-2014
Ging viờn hng dn : PGS.TS. Dng Vn Sn

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Tình hình sử dụng đất đai của xã Vĩnh Phúc năm 2013 27
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện và chỉ tiêu phát triển kinh tế của xã Vĩnh Phúc
giai đoạn 2011-2013 29
Bảng 4.3. Kết quả sản xuất kinh tế hộ của xã Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2013 30
Bảng 4.4. Cơ cấu thu nhập theo ngành nghề của xã Vĩnh Phúc năm 2013 31
Bảng 4.5. Kết quả thực hiện và phát triển một số chỉ tiêu trồng trọt và chăn
nuôi của xã Vĩnh Phúc giai đoạn 2011-2013 32
Bảng 4.6. Diện tích, dân số, mật độ dân số của xã Vĩnh Phúc chia theo thôn
năm 2013 34
Bảng 4.7. Tình hình dân số và lao động của xã Vĩnh Phúc qua 3 năm 35
Bảng 4.8. Thông tin cơ bản về chủ hộ 41
Bảng 4. 9. Thông tin cơ bản về nhóm hộ 42
Bảng 4.10. Cơ cấu lao động của nhóm hộ điều tra (Đvt: %) 43
Bảng 4.11. Thực trạng cơ cấu đất đai của nông hộ (Đvt:%) 44
Bảng 4.12. Tình hình sử dụng vốn của nhóm hộ (Đvt: %) 45
Bảng 4.13. Kết quả sản xuất ngành trồng trọt của nhóm hộ 47
Bảng 4.14. Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi của nhóm hộ 48
Bảng 4.15. Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp của hộ 50
Bảng 4.16. Cơ cấu thu nhập và thu nhập bình quân của các hộ tại địa bàn
nghiên cứu 51 DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Cơ cấu kinh tế xã Vĩnh Phúc năm 2013(%) 31

CNH, HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
NTM Nông thôn mới
TW Trung ương
NQ/TW Nghị quyết trung ương
NQ/CP Nghị quyết chính phủ
TTLT Thông tư liên tịch
BNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BKHĐT Bộ Kế hoạch - Đầu tư
BTC Bộ Tài chính
XDNTM Xây dựng nông thôn mới
KH/BCĐ Kế hoạch ban chỉ đạo
ĐVT Đơn vị tính
LĐNN Lao động nông nghiệp
BQ Bình quân
QĐ/UBND Quyết định uỷ ban nhân dân
TT Thông tư
HĐND Hội đồng nhân dân
LĐ Lao động MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU 1

1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2. Mục tiêu chung 2

1.3. Mục tiêu nghiên cứu 2



3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 21

3.2. Nội dung nghiên cứu 21

3.3. Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 223.3.1. Tiếp cận nghiên cứu 22

3.3.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 23

3.4. Phương pháp thu thập số liệu 23

3.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp 23

3.4.2. Thu thập số liệu sơ cấp 23

3.5. Phương pháp phân tích xử lý số liệu 24

3.6. Phương pháp nghiên cứu chung 24

3.7. Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu đề tài 24

3.7.1. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của nông hộ 24
3.7.2. Các chỉ tiêu phản ánh đời sống thu chi của nông hộ 25


4.4.1. Điểm mạnh 51

4.4.2. Điểm yếu 52

4.4.3. Cơ hội 52

4.4.4. Thách thức 53

4.5. Định hướng và giải pháp phát triển kinh tế hộ 53

4.5.1. Phương hướng, nhiệm vụ năm 2014 53

4.5.2. Giải pháp phát triển kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới tại Xã
Vĩnh Phúc 54

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 57

5.1. Kết luận 57

5.2. Khuyến nghị 58

5.2.1. Đối với nhà nước 58

5.2.2. Đối với địa phương 59

5.2.3. Đối với hộ nông dân 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61


hầu hết tất cả các xã trong đó có xã Vĩnh Phúc. Phát triển sản xuất và thu
nhập của hộ đã từng bước có nhiều chuyển biến, nhưng ở các hộ vẫn chủ yếu
là sản xuất tự cung, tự cấp, tâm lý tiểu nông vẫn còn tồn tại, sản xuất theo

2
hình thức trang trại còn ít, đã có sự chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa
nhưng còn chưa phổ biến và chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của xã.
Trong xây dựng nông thôn mới thì việc phát triển sản xuất và thu nhập trong
kinh tế hộ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần cải thiện đời sống
của hộ và thay đổi bộ mặt nông thôn ở xã nói riêng, cả huyện và cả tỉnh nói
chung. Phát triển kinh tế hộ cũng là vấn đề được các cấp, các ngành ở địa
phương quan tâm đặc biệt để góp phần phát triển kinh tế của xã nhanh, bền
vững, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của xã Vĩnh Phúc, đặc biệt là trong
xây dựng nông thôn mới hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu kinh tế hộ trong xây dựng nông thôn mới của xã Vĩnh Phúc,
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang".
1.2. Mục tiêu chung
Đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế hộ tại xã, từ đó đề xuất giải
pháp nhằm phát triển kinh tế hộ của xã trong xây dựng NTM.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã có liên quan đến
phát triển kinh tế hộ;
- Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp và thu nhập của hộ trên
địa bàn nghiên cứu;
- Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất phi nông nghiệp và thu nhập
của hộ tại địa bàn nghiên cứu;
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức trong phát triển
kinh tế hộ nông thôn trong xây dựng nông thôn mới ở địa bàn nghiên cứu;
- Đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hộ nông thôn trong xây dựng

2.1.1.1.Khái niệm hộ
Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về hộ, có thể hiểu hộ theo
định nghĩa sau:
"Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội, có liên quan đến sản xuất, tái sản
xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác" (Thảo luận quốc tế lần thứ
4 về Quản lý nông trại tại Hà Lan, 1980)[8].
Giáo sư T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu á thuộc
trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, khi khảo sát “kinh tế hộ trong
quá trình phát triển” ở một số nước Châu á đã nêu lên rằng: “Ở các nước
Châu á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết
tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một
mâm cơm và có chung một ngân quỹ”.
Raul Iturna, Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Liobon khi nghiên cứu
cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước Châu á đã chứng
minh: “Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật
thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân
họ và cộng đồng”.
* Hộ có 4 chức năng cơ bản đó là:
- Chức năng kinh tế
- Chức năng tiêu dùng
- Chức năng tái sinh sản nguồn nhân lực
- Chức năng giáo dục đào tạo.
2.1.1.2. Khái niệm hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa
rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn.
Theo Ellis - 1988 thì "hộ nông dân là các nông hộ, thu hoạch các
phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản

5
xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản


6
kinh tế hộ nông dân là một phương thức sản xuất tồn tại trong mọi chế độ xã
hội. Mỗi phương thức sản xuất có những quy luật phát triển riêng của nó, và
trong mỗi chế độ, nó tìm cách thích ứng với cơ chế kinh tế hiện hành. Mục
tiêu của hộ nông dân là có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc
nào, trồng trọt, chăn nuôi hay ngành nghề đó là kết quả chung của lao động
gia đình.
Dandekar (1970) cho rằng có hai kiểu nông dân, một kiểu sản xuất
hàng hóa, chỉ đầu tư lao động đến lúc lãi bằng tiền lương và một kiểu tự túc,
chủ yếu đầu tư lao động nhằm tăng sản lượng đủ sống.
Nhiều công trình nghiên cứu (Vergopoulos - 1978), Taussig - 1978 cho
thấy nông trại nhỏ gia đình hiệu quả hơn nông trại lớn tư bản chủ nghĩa, và
chính hình thức sản xuất này có lợi cho chủ nghĩa tư bản hơn vì khai thác
được cao nhất thặng dư lao động ở nông thôn và giữ được giá nông sản thấp.
Hayami và Kikuchi (1981) nghiên cứu sự thay đổi của kinh tế nông
thôn Đông Nam Á và thấy rằng, áp lực dân số trên ruộng đất ngày càng tăng,
lãi do đầu tư thêm lao động ngày càng giảm mặc dù có cải tiến kỹ thuật,
nhưng giá ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng.
V.I.Lênin cho rằng: “Cải tạo tiểu nông không phải là tước đoạt của họ
mà phải tôn trọng sở hữu cá nhân của họ, khuyến khích họ liên kết với nhau
một cách tự nguyện để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của chính
họ”. Khi phân tích kết cấu xã hội nông dân nước Nga, V.I.Lênin đã lưu ý, hộ nông
dân khai thác triệt để năng lực sản xuất đáp ứng những nhu cầu đa dạng của gia
đình và xã hội. Ông đã chỉ ra “năng lực tự quyết định của quá trình sản xuất của
hộ nông dân trong nền kinh tế tự cung tự cấp, là mầm mống của những chiều
hướng phát triển hàng hóa khác nhau, chính nó sẽ tự phá vỡ các quan hệ khép kín
của hộ dẫn đến những quá trình sự vỡ kết cấu kinh tế”.
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ
trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan,

- Nông hộ chuyên: Là loại hộ chuyên làm các ngành nghề như cơ khí,
mộc, nề, rèn, sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, thủ công mỹ nghệ, may, dệt,
làm dịch vụ kỹ thuật cho nông nghiệp.
- Nông hộ buôn bán: Có quầy hàng riêng, bán hàng ở chợ, nơi đông
dân cư.
Các loại nông hộ trên không ổn định mà có thể thay đổi khi điều kiện
cho phép. Vì vậy xây dựng công nghiệp nông thôn, phát triển cơ cấu hạ tầng
sản xuất và xã hội ở nông thôn, mở rộng mạng lưới thương mại dịch vụ,

8
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn để chuyển hộ độc canh
thuần nông sang đa ngành hoặc chuyên môn hóa. Từ đó làm cho lao động
nông nghiệp giảm, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn hay làm lao động phi
nông nghiệp tăng lên.

Căn cứ vào mức thu nhập của nông hộ bao gồm
+ Hộ giàu
+ Hộ khá
+ Hộ trung bình
+ Hộ nghèo
+ Hộ đói.
Sự phân biệt này thường dựa vào quy định chung hoặc quy định của
từng địa phương.

Căn cứ vào tính chất ổn định của tình trạng ăn ở và canh tác
+ Hộ du canh, du cư
+ Hộ định canh, du cư
+ Hộ định cư, du canh
+ Hộ định canh, định cư.
Sự phân loại này còn tồn tại ở các huyện vùng cao phía Bắc,

chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của vùng, đất nước, nông nghiệp
phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học,
công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Nông nghiệp, nông thôn
phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng còn yếu kém, môi trường ô nhiễm.
Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn
cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn phát sinh
nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Không thể có một nước công nghiệp nếu nông
nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp. Vì vậy,
XDNTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước; đồng thời góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần cho người dân nông thôn.
2.1.3. Khái niệm sinh kế
Phát triển kinh tế hộ và hoạt động sinh kế có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về sinh kế. Theo một số tác giả, sinh kế bao
gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa

10
hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần
thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người (Scoones, 1998).
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể
hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt (Lúa, ngô, khoai, sắn, lạc,
cây ăn quả, rau màu,…); chăn nuôi (Lợn, gà, trâu, bò, cá,…) và lâm nghiệp
(trồng cây keo, bạch đàn, mỡ, rừng,…)
Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ,
buôn bán và các ngành nghề khác.
2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế hộ
2.1.4.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai

- Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là
điều kiện đảm bảo cho các hộ về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như
thuê nhân công để tiến hành sản xuất. Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu
tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm.
- Công cụ sản xuất
Trong quá trình sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng,
công cụ lao động có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các biện pháp
kỹ thuật sản xuất. Muốn sản xuất có hiệu quả, năng suất cao cần phải sử dụng
hệ thống công cụ phù hợp. Ngày nay, với kỹ thuật canh tác tiên tiến, công cụ
sản xuất nông nghiệp đã không ngừng được cải tiến và đem lại hiệu quả cao
cho các hộ trong sản xuất. Năng suất cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng
lên, chất lượng sản phẩm tốt hơn, do đó công cụ lao động có ảnh hưởng rất
lớn đến kết quả và hiệu quả sản xuất của hộ.
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng chủ yếu trong nông nghiệp nông thôn bao gồm: Đường
giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, nhà xưởng, trang thiết bị nông
nghiệp đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế của hộ. Thực
tế cho thấy, nơi nào cơ sở hạ tầng phát triển thì sản xuất phát triển, thu nhập
tăng, đời sống của hộ cũng được cải thiện và nâng cao.
- Thị trường
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì với số lượng
bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm như thế nào? Trong cơ chế

12
thị trường các hộ hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần
trong điều kiện sản xuất của họ, từ đó kinh tế hộ mới có điều kiện phát triển.
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất
kinh doanh
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường về sản phẩm hàng hóa, các hộ phải

2.2.1. Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở các nước trên thế giới
Trên thế giới, kinh tế hộ cũng được chú trọng phát triển theo hướng
phát triển kinh tế hàng hóa, tạo thu nhập cao.
2.2.1.1. Kinh tế nông hộ ở các nước Châu Á
- Thái Lan: một nước trong khu vực Đông Nam châu Á, Chính phủ
Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hậu trở thành
nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến. Một số chính sách có liên quan đến
việc phát triển kinh tế vùng núi ban hành (từ 1950 đến năm 1980). Thứ nhất:
xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Mạng lưới đường bộ bổ sung cho
mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc, Đông Bắc, Nam, ),
đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng. Thứ hai: chính sách mở rộng diện tích
canh tác và đa dạng hoá sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía,
bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc. Thứ ba: đẩy mạnh công
nghiệp hóa chế biên nông sản để xuất khẩu như ngô, sắn sang các thị trường
châu Âu và Nhật Bản. Thứ tư: thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và
chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ. Nhà nước
cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân
vay tiền với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản
phẩm với giá định trước cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng
núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Hàng năm có 95% sản
lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra. Song trong quá
trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: đó là việc mất cân bằng
sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai. Kinh tế
vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành
thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo mùa vụ ngày càng gia tăng.
- Đài Loan: ý thức được xuất phát điểm của mình có vị trí quan trọng là
nông nghiệp nhưng ở trình độ thấp, nên ngay từ đầu Đài Loan đã coi trọng và
chú ý đầu tư cho nông nghiệp. Trong những năm 1950 đến 1960 chủ trương
"Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp".
Từ năm 1951 đã có chương trình cải cách ruộng đất theo 3 bước: giảm tô, giải

Anh, vì vậy trong thế kỷ XIX xu hướng tăng dần nông trại nhỏ là phổ biến. Năm
1982 nông dân chiếm 27% dân số nông thôn. Các nông trại nhỏ đều có thu nhập
phi nông nghiệp cao hơn thu nhập nông nghiệp, năm 1980 có 29% số nông trại có
hoạt động phi nông nghiệp, 2/3 số nông trại có nguồn thu nhập ngoài nông nghiệp.

15
- Hà Lan: Quy mô đất canh tác bình quân một nông trại là 10ha, họ sử
dụng lao động gia đình là chủ yếu, chỉ thuê 1-2 lao động những lúc mùa vụ
căng thẳng, nông trại có đủ công cụ máy móc cần thiết, có 17% số trang trại
nuôi từ 50-200 con lợn và chiếm 43,7% đàn lợn của cả nước, một lao động
nông nghiệp nuôi được 112 người. Quy mô bình quân đất canh tác của một
nông trại là 31,7ha, 87% số trang trại sử dụng lao động gia đình là chủ yếu,
khoảng 13% số trang trại có thuê từ 1 đến 2 lao động, một lao động nông
nghiệp nuôi được 160 người.
* Từ thực tế phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số nước với trình độ
phát triển và chế độ chính sách khác nhau cho thấy:
- Ở các nước phát triển, trong giai đoạn đầu có số lượng nông trại lớn
với quy mô nhỏ. Theo bước tiến của công nghiệp hóa, số lượng nông trại
giảm dần, quy mô nông trại tăng lên. Nông sản phẩm hàng hóa tăng lên nhanh
chóng. Do đó, đã thúc đẩy những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, về cơ giới hóa,
điện khí hóa và ngày này là tin học hóa đang ngày càng xâm nhập nông
nghiệp, nông thôn.
- Ở các nước đang phát triển, kinh tế nông nghiệp gia đình ở dạng kinh
tế nông hộ tự cấp, tự túc còn chiếm một bộ phận quan trọng. Bộ phận kinh tế
nông hộ chuyển sang kinh tế nông trại sản xuất hàng hóa ngày một nhiều. Sự
chuyển dịch này là một bước đi tất yếu, một quy luật khách quan. Bước đi
nhanh hay chậm là tùy thuộc vào trình độ dân trí, tiến bộ khoa học kỹ thuật,
thể chế nhà nước và các chính sách khuyến khích có hiệu lực.
2.2.2. Kinh nghiệm và tình hình phát triển kinh tế hộ ở Việt Nam
Nền văn minh nông nghiệp đã trải qua hàng vạn năm, qua mỗi giai

hàng đầu, có vai trò quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định mục tiêu
XDNTM là: "Xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công
bằng, văn minh, có cơ cấu hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp, kết cấu hại tầng
kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại".
Quán triệt nghị quyết đại hội X, Hội nghị TW lần thứ 7 (khóa X) ra
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 đã nêu một cách toàn
diện quan điểm của Đảng ta về XDNTM. Nghị quyết khẳng định nông
nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn, có vị trí quan trọng trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước. Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông

17
thôn không chỉ là nhiệm vụ của nông dân ở khu vực nông thôn mà còn là
nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Xây dựng nông thôn mới là
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại ở nông thôn; xây dựng cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xây dựng giai cấp
nông dân, củng cố liên minh công nhân, nông dân, trí thức vững mạnh; không
ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa
các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông
dân được đào tạo, có trình độ phát triển cao, đóng vai trò làm chủ NTM.
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị
quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành một chương trình hành động của Chính
phủ về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức,
hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu
Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Nội dung chính của Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới là: Xây dựng, tổ chức cuộc sống của dân cư nông thôn theo hướng
văn minh, hiện đại, giữ gìn bản sắc văn hóa và môi trường sinh thái gắn với
phát triển đô thị, thị trấn, thị tứ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status