Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người dân địa phương tham gia vào phát triển du lịch sinh thái tại rừng dừa bảy mẫu cẩm thanh - Pdf 43

Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

ĐẠI HỌC HUẾ
KHOA DU LỊCH
------------------

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌM HIỂU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG THAM GIA VÀO
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TẠI RỪNG DỪA BẢY MẪU CẨM THANH

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

ThS. LÊ VĂN HOÀI

TRẦN THỊ THƯƠNG
Lớp: K47 - HDDL

Huế, tháng 04 năm 2017
SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học


Từ lâu du lịch là ngành kinh tế mang lại nguồn lợi lớn cho mỗi quốc gia. Nó là
ngành kinh tế mũi nhọn kéo theo các ngành kinh tế khác phát triển. Trong những năm
gần đây du lịch thực sự đang trên đà cất cánh, những tiềm năng du lịch được đánh
thức, lần lượt được khai thác và đưa vào phục vụ hoạt động du lịch. Với nguồn tài
nguyên du lịch đa dạng và phong phú, nước ta có đầy đủ khả năng để trở thành một
điểm đến nổi tiếng đối với cả du khách nội địa và quốc tế. Với chiến lược phát triển du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là kim chỉ nam định hướng cho các
ngành, các cấp, các thành phần kinh tế - xã hội, phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn của đất nước.
Phố cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam trong nhiều năm qua đã không ngừng
nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển và vươn lên trở thành
một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của Việt Nam nói riêng và Châu Á nói chung,
thu hút hơn 1 triệu lượt khách mỗi năm – với nhiều loại hình du lịch: Du lịch biển, du
lịch khám phá,… Đặc biệt có một loại hình du lịch mới cũng đang phát triển, đó là Du
lịch cộng đồng (Community Based Tourism). Đây là loại hình du lịch bền vững,
không chỉ góp phần phát triển kinh tế địa phương, khuyến khích bảo tồn các giá trị
truyền thống, cảnh quan thiên nhiên,… mà còn giúp cho khách du lịch hòa mình vào
cuộc sống của người dân địa phương, được sinh hoạt cùng với người dân để họ có thể
hiểu hơn về con người và vùng đất mà họ đến du lịch.
Ở Cù Lao Chàm, loại hình du lịch này bắt đầu thực hiện từ năm 2009 với loại
hình homestay ở Bãi Hương, đến nay đã lan rộng đến các cụm dân cư trên đảo. Vài
năm trở lại đây, du lịch cộng đồng tiếp tục mở rộng đến 2 thôn Vạn Lăng và Thanh
Tam Đông (xã Cẩm Thanh) với loại hình du lịch sinh thái gắn với rừng dừa nước mà
du khách thường gọi với cái tên là Rừng dừa Bảy Mẫu. Rừng dừa Bảy Mẫu đang trở
thành một điểm du lịch đang được quan tâm tại Quảng Nam. Là khu du lịch sinh thái
rộng lớn với sông nước cùng những rừng dừa bát ngát.Ông Nguyễn Văn Dũng - Chủ
tịch UBND TP.Hội An cho biết: “UBND thành phố chỉ đạo các ngành xây dựng các
SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL

Hai là, đánh giá sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác phát triển
du lịch sinh thái cộng đồng tại Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh.

SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

Ba là, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa sự tham gia của cộng
đồng địa phương trong công tác phát triển du lịch sinh thái cộng đồng tại Rừng dừa
Bảy Mẫu Cẩm Thanh.
Từ việc nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng địa phương trong công tác phát
triển du lịch sinh thái, căn cứ vào các chính sách phát triển của Nhà nước, các quan
điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của cộng đồng địa phương, thứ nhất, tôi muốn
có thể chuyển tải những nguyện vọng từ phía người dân để các nhà quản lý điều chỉnh
kịp thời cũng như việc chia sẻ lợi ích kinh tế hợp lý vì mục tiêu ban đầu của du lịch
cộng đồng là mang lại lợi ích về mặt kinh tế - xã hội cho người dân địa phương hướng
đến sự phát triển bền vững. Thứ hai, thông qua việc xác định những khó khăn,
mong muốn của người tham gia cũng như chưa tham gia tôi đề xuất những giải pháp
nhằm phát huy vai trò, nâng cao mức độ tham gia của người dân trong hoạt động du
lịch, đặc biệt là trong công tác phát triển loại hình du lịch còn nhiều mới mẻ này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Người dân, chính quyền địa phương thuộc 2 thôn đó là Thanh Tam Đông và Vạn
Lăng của xã Cẩm Thanh - những người đã, đang và sẽ tham gia vào du lịch sinh thái
tại Rừng dừa Bảy Mẫu.

nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Việc có mặt tại thực địa để trực tiếp quan sát và tìm hiểu thông tin từ những người
được điều tra là việc rất cần thiết. Quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu thập được
phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao và có tầm nhìn
khách quan để nghiên cứu đề tài. Đây cũng là một trong những phương pháp vô cùng
quan trọng giúp cho thông tin trở nên xác thực hơn. Phương pháp này giúp cho người
nghiên cứu có cái nhìn khách quan hơn và có những đánh giá đúng đắn về vấn đề
nghiên cứu. Hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tính phiến diện trong khi
nghiên cứu.
5. Cấu trúc của khóa luận tốt nghiệp
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung.
Chương 2: Thực trạng tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch
sinh thái tại Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh.
Chương 3: Giải pháp thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt
động du lịch sinh thái tại Rừng dừa Bảy Mẫu Cẩm Thanh.

SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

B. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Các khái niệm cơ bản

Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục
vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động
chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác.
Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm
nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Nó vừa mang đặc
điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội.
1.1.2. Các loại hình du lịch
a) Du lịch di sản
Du lịch di sản là việc thực hành những trải nghiệm tại điểm đến bằng những câu
chuyện chân thực của quá khứ và hiện tại dựa trên các tài nguyên lịch sử, văn hóa và
thiên nhiên.
Du lịch di sản đóng vai trò quan trọng bởi nhiều lý do: nó có tác động tích cực
đối với kinh tế- xã hội, thiết lập và củng cố sự nhận dạng, giúp bảo tồn và gìn giữ các
di sản văn hóa; với văn hóa là một nhân tố giúp tăng hiểu biết và sự hòa hợp trong
cộng đồng, nó còn đóng vai trò hỗ trợ cho văn hóa và làm mới hoạt động du lịch
(Richards, 1996).
b) Du lịch bền vững
Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi
ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực
hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào.
Theo Hiệp hội bảo tồn thế giới (World Conservation Union,1996): Du lịch bền
vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm
với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn
hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn,
có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về
kinh tế -xã hội của cộng đồng địa phương.
Theo luật Du lịch Việt Nam ( 2006): Du lịch bền vững là việc đáp ứng được các
nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của
tương lai.
SVTH: Trần Thị Thương

làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế,
bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”.
Một định nghĩa khác của Honey (1999): “DLST là du lịch hướng tới những khu
vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại
và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó
trực tiêp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó
khuyên kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”.
SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc
gia về phát triển đã đưa ra định nghĩa DLST như sau: “DLST là hình thức du lịch thiên
nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc
bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng
đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn: “DLSTlà hình
thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia
của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”
e) Du lịch cộng đồng
Theo khái niệm trong tiêu chuẩn của ASEAN về du lịch cộng đồng, về mặt quốc
tế, kinh tế du lịch chủ yếu dựa vào doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp này
cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách du lịch tới tham quan. Du lịch cộng đồng là
một loại hình du lịch tìm kiếm cơ hội trao quyền cho cộng đồng trong việc quản lý
mức độ tăng trưởng của du lịch và đạt được những mục tiêu có liên quan tới phúc lợi

nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và văn hóa địa phương.
Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đã nhấn mạnh đến vai
tròchính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn
họquản lý với khái niệm: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ
yếulà người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được
từdu lịch sẽđọng lại nền kinh tế địa phương” (Nicole Hausler and Wolfang
Strasdas,Community Based Sustainable Tourism A Reader, 2000).
f) Phân biệt du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng
DLST và DLCĐ là hai loại hình du lịch đang ngày càng phổ biến và có vai trò
quan trọng trong việc hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đối với hoạt động du
lịch. Với loại hình DLST, nền tảng cho việc phát triển đó chính là dựa vào các tài
nguyên thiên nhiên sẵn có tại điểm đến cũng như việc kết hợp một phần của văn hóa
địa phương giúp tạo nên tính hấp dẫn cho loại hình du lịch này. Mục tiêu của DLST đó
là việc nâng cao nhận thức của DLST và DLCĐ là hai loại hình du lịch đang ngày
càng phổ biến và có vai trò quan trọng trong việc hướng đến mục tiêu phát triển bền
vững đối với hoạt động du lịch. Với loại hình DLST, nền tảng cho việc phát triển đó
chính là dựa vào các tài nguyên thiên nhiên sẵn có tại điểm đến cũng như việc kết hợp
một phần của văn hóa địa phương giúp du khách về các vấn đề môi trường, kêu goi
bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn các giá trị văn hóa bản địa. Với loại
hình DLCĐ, nền tảng cho sự phát triển nó chính là dựa vào cộng đồng địa phương, đặc
trưng và bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương tại điểm tổ chức hoạt động du
lịch. Tham gia loại hình du lịch này, du khách có điều kiện tìm hiểu về đời sống văn
hóa của người dân địa phương. Ngoài ra, trong loại hình DLCĐ cũng có kết hợp thêm
SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học



SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

Theo tổ chức Respondsible Ecological Social Tours (1997) thìdu lịch sinh thái
cộng đồng là "phương thức tổ chức du lịch đề cao về môi trường, văn hóa xã hội. Du
lịch sinh thái cộng đồng do cộng đồng sở hữu và quản lý, vì cộng đồng và cho phép
khách du lịch nâng cao nhận thức và học hỏi về cộng đồng, về cuộc sống đời thường
của họ".
Ý tưởng đằng sau vế "dựa vào cộng đồng" của chiến lược môi trường là tạo cơ
hội trao quyền cho cộng đồng, tăng cường sự tham gia của họ trong việc ra quyết định,
nhưng cũng chỉ đơn giản là những điều này sẽ khuyến khích sự tham gia từ bản thân
cộng đồng.
Tóm lại: Du lịch sinh thái cộng đồng là loại hình du lịch do cộng đồng tổ chức,
dựa vào thiên nhiên và văn hoá địa phương với mục tiêu bảo vệ môi trường. Du lịch
sinh thái cộng đồng đề cao quyền làm chủ, chú ý phân bổ lợi ích rộng rãi và nâng cao
chất lượng cuộc sống cho cộng đồng. Với khách du lịch, Du lịch sinh thái cộng đồng
tạo cơ hội tìm hiểu, nâng cao nhận thức về môi trường và giao lưu văn hoá, trải
nghiệm cuộc sống hàng ngày của cộng đồng.
Như vậy, du lịch sinh thái cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và
du lịch bền vững. Du lịch sinh thái cộng đồng nhấn mạnh vào cả ba yếu tố là môi
trường, du lịch và cộng đồng.
1.2.2. Tiêu chí của du lịch sinh thái cộng đồng
Theo UNWTO (2008) cho rằng những tiêu chí của một du lịch sinh thái cộng

Mọi hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng phải tôn trọng nền văn hoá và các
"cấu trúc xã hội" tại cộng đồng.



Có hệ thống, phương pháp để giúp người trong cộng đồng có thể "vượtqua"
những ảnh hưởng của những khách du lịch phương tây.



Hoạt động du lịch thường được giữ ở quy mô nhỏ nhằm hạn chế tối đa những
ảnh hưởng đến văn hoá và môi trường.



Hướng dẫn tổng quan cho khách du lịch về cộng đồng để giúp họ có những
hành động hợp lý trong quá trình du lịch.



Không yêu cầu người trong cộng đồng phải thực hiện những hoạt động trái với
văn hoá/tôn giáo của họ.



Không yêu cầu người dân trong cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch
nếu họ không muốn.

SVTH: Trần Thị Thương


- Quy mô hoạt động nhỏ, thị trường khách khá hẹp về đối tượng và ít về số
lượng. Các sản phẩm mang bản sắc địa phương.
- Các sản phẩm, dịch vụ du lịch được phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên,
văn hóa địa phương, giảm thiểu các tác hại.
b) Nguyên tắc phát triển
Theo Võ Quế (2008) cho rằng các nguyên tắc để phát triển du lịch dựa vào cộng
đồng bao gồm:

SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

- Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch, thực hiện
và quản lý, đầu tư và có thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng.
- Phù hợp với khả năng của cộng đồng.
- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng
- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với tài nguyên và văn hoá.
Theo tổ chức WTO (2004), các nguyên tắc để phát triển du lịch cộng đồng cần
phải dựa trên các nguyên tắc của du lịch bền vững:
- Sử dụng tối ưu nguồn môi trường, duy trì các tiến trình sinh thái học chủ yếu
và giúp bảo tồn nguồn tự nhiên và hệ sinh thái được thừa hưởng.
- Khía cạnh xác thực nền văn hoá - xã hội của cộng đồng địa phương, đảm bảo
họ đã xây dựng, kế thừa văn hoá và giá trí truyền thống, đồng thời góp phần vào sự
hiểu biết và thông cảm đối với các nền văn hoá khác nhau.
- Đảm bảo sự vận hành nền kinh tế lâu dài ổn định, cung cấp các lợi ích kinh tế xã hội đến tất cả những người có liên quan nhằm phân bổ công bằng.

Khi cộng đồng phát triển, các dịch vụ du lịch tại điểm đến được nâng lên, chất
lượng phục vụ du khách từ đó cũng được nâng cao, đem lại nguồn thu dồi dào cho
người dân và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch. Mối quan hệ hữu cơ giữa phát
triển du lịch với phát triển cộng đồng vì thế càng trở nên khăng khít, gắn bó hơn.
1.2.5. Lợi ích và hạn chế của du lịch sinh thái cộng đồng
a) Về mặt kinh tế
Lợi ích
- Giúp mang lại những khoản tiền cho
cộng đồng từ sự chi tiêu của du khách.
- Tạo công ăn việc làm cũng như góp
phần đem lại thu nhập nhờ việc mở rộng
hoạt động kinh doanh.
- Đa dạng hóa và ổn định nền kinh tế địa
phương.
- Thu hút nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức
và doanh nghiệp bên ngoài.
- Góp phần vào doanh thu thuế cho địa
phương.

Hạn chế
- Du lịch sinh thái cộng đồng có thể bị
ảnh hưởng bởi tính mùa vụ và do đó nó
nằm ngoài tầm kiểm soát của địa phương.
- Đòi hỏi có sự tập huấn và đào tạo cán
bộ.
- Lợi nhuận từ du lịch sinh thái cộng đồng
có thể chỉ làm lợi cho một số cá nhân.
- Đòi hỏi vai trò lãnh đạo, kiểm soát với
chi phí vận hành cao.
- Gia tăng tình trạng lạm phát nhà đất,

- Tăng cường trao đổi văn háo, nâng cao
nhận thức.
- Góp phần nâng cao lòng tự hào của
người dân địa đối với văn hóa địa
phương.
- Giúp cải thiện các vấn đề về chất lượng
dịch vụ, sản phẩm, cơ sở vaath chất hạ
tầng...

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài
Hạn chế
- Cư dân địa phương phải chia sẽ các nguồn
tài nguyên với người ngoài địa phương.
- Làm gia tăng các tệ nạ xã hội như buôn
lậu, nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, rượu chè...
- Gia tăng mối bất hòa giữa những người
được hưởng lợi với những người không
được hưởng lợi.
- Nguy cơ làm mất đi bản sắc văn hóa địa
phương do sự thu nhận từ nhiều loại du
khách đến từ những vùng miền khác
nhau.

1.3. Khái niệm cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng trong du lịch
1.3.1. Khái niệm cộng đồng
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng thường được dùng để chỉ nhiều đối
tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về qui mô và đặc tính xã hội. Ý nghĩa
rộng nhất của cộng đồng là tập hợp người với các liên minh rộng lớn như toàn thế giới
(cộng đồng thế giới), một châu lục (cộng đồng châu Âu,...), một khu vực (cộng đồng
Đông Nam Á ...). Cộng đồng còn được áp dụng để chỉ một kiểu xã hội, căn cứ vào

chính trị, tầng lớp hoặc đẳng cấp”. Ngoài những đặc điểm chung, cộng đồng là một
thực thể phức tạp và không đồng nhất. Trong cùng một cộng đồng, có người giàu và
người nghèo, người mới nhập cư và những cư dân bản địa, người có nhiều đất đai và
người không có đất. Sự phân hóa trong cộng đồng dẫn đến mức độ tham gia và hưởng
lợi khác nhau của các thành viên trong một cộng đồng trong các chương trình, dự án
phát triển cộng đồng, do đó ẩn chứa những xung đột trong cộng đồng.
1.3.2. Sự tham gia của cộng đồng trong du lịch
Tham gia – participation được dịch thành 2 từ tham dự và tham gia. Theo GS Tô
Duy Hợp thì tham gia dự là tham gia ở mức độ thấp còn tham gia là tham dự ở mức độ
cao. Và phương pháp luận tham gia là phương pháp luận đi từ dưới lên tức là đi từ
người dân và trở thành khoa học.
Định nghĩa thuật ngữ “Sự tham gia của cộng đồng” theo Clanrence Shubert là
quá trình trong đó các nhóm dân cư của cộng đồng tác động vào quá trình quy hoạch,
thực hiện, quản lý sử dụng hoặc duy trì một dịch vụ, trang thiết bị hay phạm vi hoạt
động. Các hoạt động cá nhân không có tổ chức sẽ không được coi là sự tham gia của
cộng đồng.
Sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch đã được quy định cụ
thể tại Điều 7 Luật Du lịch 2005.Theo đó, sự tham gia của cộng đồng trong phát triển
du lịch được quy định như sau:
1. Cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động
du lịch; có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương; giữ
gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch.
SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

trưng trong lịch sử của một địa phương, một khu vực, một quốc gia... cũng như thăm
SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

viếng những di sản văn hóa còn lưu giữ lại vì sự khác biệt trong lịch sử, văn hóa của
họ so với nơi họ đặt chân đến.
Đối với một số khách du lịch, kiến trúc của điểm đến cũng là một điều hết sức
thú vị mà họ mong được nhìn thấy tận mắt và tìm hiểu thêm về nó cũng như CĐĐP đã
tạo ra những giá trị kiến trúc độc đáo đó.
Bên cạnh đó, không thể không kể đến yếu tố âm nhạc, nghệ thuật. Đay cũng là
nét hấp dẫn đối với khách du lịch của CĐĐP. Qua quá trình sinh sống và làm việc đã
hình thành nên những loại hình nghệ thuật mạng nét đặc trưng riêng của từng vùng mà
CĐĐP là chủ thể xây dựng nên các loại hình nghệ thuật đó.
Tiếp theo đó chính là yếu tố về trang phục, phong tục. Rõ ràng có sự khác biệt
trong cách ăn mặc cũng như ứng xử ở mỗi vùng, mỗi khu vực, mỗi quốc gia... Khi
nhắc tới trang phục hay phong tục của một nơi nào đó thì người ta sẽ dễ dàng liên
tưởng đến ngay nơi đó. Ví dụ khi nói tới Áo dài là trang phục truyền thống của Việt
Nam, sườn sám là của Trung Quốc, Kimono là trang phục truyền thống của Nhật...
Sự khác biệt về tôn giáo, ngôn ngữ cũng là điều thú vị khiến du khách muốn
thâm nhập vào đời sống của CĐĐP để cảm nhận một cách chân thực nhất.
Trên đây là một số nét hấp dẫn, thu hút khách du lịch mà tự bản thân của mỗi
CĐĐP có được và cũng chính là những điểm tạo ra sự đặc trưng trong văn hóa, truyền
thống, lối sống... và là niềm tự hào của các CĐĐP sở hữu nó. Trong hoạt động du lịch
đây chính là một trong những nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của điểm đến và cũng như

2.1. Các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
a) Các nghiên cứu liên quan đến việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến đề tài
nghiên cứu
Theo Timothy (1999), trong một nghiên cứu về sự tham gia của người dân địa
phương về các lợi ích từ du lịch ở Inđônêxia đã chỉ ra rằng: để đảm bảo sự tham gia
của cộng đồng vào ngành công nghiệp du lịch, thì các cơ quan ban ngành của chính
phủ ở các cấp và địa phương hoạt động trong lĩnh vực du lịch cần phải nâng cao nhận
thức cộng đồng về du lịch thông qua các chiến dịch giáo dục, đồng thời tổ chức đào
tạo nghề cho người dân để họ có thể tham gia làm việc trong ngành du lịch dịch vụ.
Như vậy, theo Timothy thì yếu tố “sự hỗ trợ từ các cấp địa phương” là yếu tố quyết
định sự tham gia của người dân địa phương vào các hoạt động du lịch cộng đồng.
Theo nhóm nghiên cứu Nguyễn Quốc Nghi – Nguyễn Thị Bảo Châu – Trần
Ngọc Lành (Trường Đại học Cần Thơ): mục tiêu của nghiên cứu là xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh
An Giang. Ứng dụng mô hình hồi quy binary logistic, nhóm nghiên cứu này đã đưa ra

Trình độ học vấn

sơ đồ mô hình nghiên cứu để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia
tổ chức du lịch cộng đồng của người dân ở tỉnh An Giang.

Quy mô gia đình

Quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồn

SVTH: Trần Thị Thương

Lớp: K47-HDDL

Vốn xã hội


Lớp: K47-HDDL


Khóa luận tốt nghiệp Đại học

GVHD: ThS. Lê Văn Hoài

cộng đồng và chính phủ ủng hộ. Bởi lẽ rằng cách tham gia vào các hoạt động du lịch
cùng với người dân bản đại không những là một trải nghiệm thú vị mà còn tạo cơ hội
để khách quốc tế kết bạn với người bản xứ, tình bạn này có thể được duy trì bền vững
ngay cả sau chuyến đi, giúp cả hai bên chủ - khách đến với căn nhà chung thế giới.
Loại hình DLSTCĐ phát triển rộng rãi ở các vùng quê nghèo của Malaysia.
Chính phủ Malaysia đã hỗ trợ tiền cho họ nâng cấp, sửa sang lại nhà cửa để đón khách
du lịch muốn tham gia loại hình DLSTCĐ, nhưng họ không phải đóng bất kỳ một
khoản thuế nào cho Nhà nước. Mặt khác, Bộ du lịch Malaysia còn mở các lớp huấn
luyện trong vòng 7 ngày cho các chủ hộ tham gia. Các khóa huấn luyện này giúp
người dân biết cách làm vệ sinh ngôi nhà sạch sẽ, an ninh hơn... để phục vụ du khách,
thậm chí còn dạy cách sử dụng nguồn tiền thu được từ dịch vụ.
Được mệnh danh là “Vùng đất của Chim mỏ sừng”, Sakawak là bang lớn nhất
nước nằm ở phía Đông trong vùng Borneo. Đặc điểm của bang này là có nhiều nhóm
dân tộc sinh sống trong những khu vực ven sông.
James Brooke là vị tiểu vương da trắng đầu tiên cái trị Sarawak từ năm 1841 sau
khi giải quyết tranh chấp giữa vua Brunei và các thủ lĩnh địa phương. Di sản của triều
đại Brooke và người Anh chính là những tòa nhà theo kiểu thuộc địa ở Kuching.
Kuching, được gọi là “Thành Phố Mèo”, chính là thủ phủ cuat bang, tọa lạc dọc
theo sông Sarawak. Điểm thu hút du khách là Khu vực ven sông và Chợ trung tâm, nơi
đây tập trung các cửa hàng cũ chuyên bán tiêu, đồ tạo tác, đồ cổ, tổ chim yến và lâm
sản. Nhà thờ Hồi giáo của bang được xây trên cao bên bờ sông và các chợ gần đó thì
bán đủ các loại hàng hóa lạ kỳ. Oử phía đầu kia của chợ trung tâm là đền thờ Tua Pek


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status