Tương trợ tư pháp về hình sự tại việt nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 43

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn 5
6.Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn 6
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 6
8. Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP HÌNH SỰ 8
1.1.Khái niệm, đặc điểm tương trợ tư pháp về hình sự 8
1.2. Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự 11
1.3.Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự 16
1. 4. Vai trò của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự 17
CHƯƠNG 2
TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ HÌNH SỰ THEO ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
MÀ VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN VÀ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 21
2.1.Các điều ước quốc tế đa phương 21
2.2.Các điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp hình sự 30
2.3. Pháp luật Việt Nam về hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự 36
2.3.1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự


2.3.2. Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự 41
2.3.3. Hình thức tương trợ tư pháp về hình sự 45
2.3.4. Các trường hợp từ chối tương trợ tư pháp 48
2.3.5.Trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp về hình sự 54
CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN

các hình thức tinh vi hơn. Tình hình trên đây đã và đang làm phát sinh ngày
càng nhiều vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài đòi hỏi phải được giải quyết
kịp thời với sự giúp đỡ tương trợ về pháp luật và tư pháp giữa các cơ quan nhà
nước Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của các nước liên quan.
Hơn nữa, khác với luật dân sự, luật hình sự mang tính lãnh thổ rất triệt
để. Theo đó, luật hình sự mỗi quốc gia có hiệu lực đối với tội phạm xảy ra trên
lãnh thổ nước mình, không kể người phạm tội đó là công dân của quốc gia hay
người nước ngoài, người không quốc tịch, ngoại trừ những công dân nước
ngoài được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo luật quốc
tế. Như vậy, theo nguyên tắc này, sẽ rất khó để một quốc gia có thể truy cứu


trách nhiệm hình sự đối với những đối tượng không ở trong phạm vi lãnh thổ
nước mình nếu như không có sự giúp đỡ, hợp tác của các quốc gia khác.
Chính vì vậy, hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữ vai trò hết sức
quan trọng trong quan hệ giữa các nước từ trước tới nay và đặc biệt là trong
quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế.
Trong lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, nước ta đã đạt được
những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có tương trợ tư
pháp về hình sự. Tuy nhiên, hoạt động tương trợ tư pháp tại Việt Nam hiện
nay chưa thực sự mang lại hiệu quả do pháp luật trong nước còn nhiều bất
cập, chưa có sự tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời đội ngũ cán bộ
làm công tác tương trợ tư pháp còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.
Vì những lý do trên, nghiên cứu vấn đề :’Tương trợ tư pháp về hình sự
tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn mang tính cấp thiết không
những về lý luận mà còn là đòi hỏi thực tiễn’ nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động tương trợ tư pháp về hình sự ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, hợp tác quốc tế về đấu tranh phòng chống tội phạm nói
chung, tương trợ tư pháp về hình sự nói riêng là vấn đề được nhiều nhà nghiên


quốc tế đấu tranh phòng chống tội phạm.
Vì những lý do trên, nghiên cứu về lĩnh vực này hi vọng sẽ có những
khác biệt, mới mẻ hơn so với những công trình nghiên cứu kể trên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các khía cạnh
pháp lý liên quan đến tương trợ tư pháp hình sự với nguồn chủ yếu là các điều
ước quốc tế về tương trợ tư pháp và quy định của pháp luật Việt Nam về vấn
đề này. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn là tình hình thực tiễn
tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu, theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm
cả hoạt động dẫn độ và chuyển giao người bị kết án. Tuy nhiên, trong phạm vi
đề tài này, xin được đề cập đến các nội dung tương trợ tư pháp về hình sự theo
quy định của pháp luật Việt Nam và theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên. Theo đó, tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm:
- Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về
hình sự;
- Triệu tập người làm chứng, người giám định;
- Dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ
- Thu thập, cung cấp chứng cứ như lấy lời khai của người bị hại, người
làm chứng, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, xác minh lý lịch,
thu thập và cung cấp tài liệu…
- Truy cứu trách nhiệm hình sự


- Trao đổi thông tin
- Các hoạt động tương trợ tư pháp khác.
Hoạt động dẫn độ tội phạm tuy cũng là một hình thức tương trợ tư pháp
nhưng do đã được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học

tư pháp về hình sự và các vấn đề khác có liên quan vê mặt lý luận. Bên cạnh
đó, luận văn đặt ra các câu hỏi về thực tiễn tương trợ tư pháp ở Việt Nam để
thấy được những hạn chế, bất cập về pháp luật và thực tiễn hoạt động. Từ đó,
luận văn đưa ra những giải pháp phù hợp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự tại Việt Nam. Cụ thể các câu
hỏi của luận văn như sau:
-Tương trợ tư pháp về hình sự là gì?
-Pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế quy định như thế nào về
tương trợ tư pháp hình sự? Có sự tương thích hay không?
- Tương trợ tư pháp hình sự tại Việt Nam diễn ra như thế nào?
- Làm thế nào để khắc phục những khó khăn, hạn chế trong tương trợ tư
pháp hình sự tại Việt Nam?
6.Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ


nghĩa Mác-Lê nin luận về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước và pháp luật cũng như cơ sở lý luận của khoa học luật
hình sự và pháp luật quốc tế.
Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học như:
phương pháp phân tích, so sánh, mô tả, liệt kê. Phương pháp phân tích nhằm
đưa ra những nhận định và tìm hiểu sâu hơn về pháp luật điều chỉnh hoạt động
tương trợ tư pháp về hình sự, thực trạng tương trợ tư pháp hình sự tại Việt
Nam; phương pháp so sánh được sử dụng để đánh giá sự tương thích giữa
pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế; phương pháp mô tả, liệt kê dùng để
nêu ra những quy định của pháp luật hiện hành và mô tả thực trạng của hoạt
động tương trợ tư pháp hình sự ở Việt Nam.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Pháp luật điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự bao gồm
điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia, do đó một trong những mục đích và

Dưới đây là một số quan điểm về tương trợ tư pháp hình sự theo lý luận
pháp luật và thực tiễn tư pháp của một số nước :
Ở Cộng hòa liên bang Đức, tương trợ tư pháp hình sự được hiểu theo
truyền thống tư pháp Đức đó là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của
các nước khác nhau trợ giúp lẫn nhau trong tống đạt giấy tờ, tài liệu tư pháp
và thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt khác nhau để thu thập chứng cứ
trong một vụ việc tố tụng tư pháp. Pháp luật Nhật Bản, Italy và một số nước
khác thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa có cách hiểu về khái niệm
tương trợ tư pháp về hình sự tương tự cách hiểu nói trên của Đức1.
Ô-xtrây- lia có quan niệm về tương trợ tư pháp hình sự là việc các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trợ giúp lẫn nhau trong một số hoạt động tố
tụng hình sự như: thu thập chứng cứ của người làm chứng tại Ô-xtrây- lia phục
vụ quá trình tố tụng ở nước ngoài; sắp xếp cho người làm chứng (nếu tự


nguyện) đến nước khác để cung cấp chứng cứ trong quá trình tố tụng ở nước
ngoài; xin phê chuẩn và thực hiện lệnh tạm giữ và tịch thu tài sản do phạm tội
mà có.2
Liên bang Nga có quan niệm tương trợ tư pháp cơ bản tương tự giống
cách quan niệm về tương trợ tư pháp của các nước thuộc hệ thống pháp luật
1 Bộ tư pháp, Báo cáo tổng thuật cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật tương trợ tư
pháp năm 2007
2 Luật tương trợ tư pháp về hình sự năm 1987 của Australia
11
châu Âu lục địa. Phụ thuộc vào phạm vi nội dung các vấn đề được quy định
trong pháp luật của các nước và các điều ước quốc tế liên quan, tương trợ tư
pháp được hiểu là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước
khác nhau trợ giúp lẫn nhau trong việc thực hiện hành vi tố tụng riêng biệt để
thu thập chứng cứ trong một vụ việc tố tụng tư pháp, thực hiện ủy thác tư
pháp về dân sự và hình sự của Tòa án nước ngoài, tống đạt giấy tờ 3...

thẩm quyền tương ứng được quy định trong pháp luật mỗi quốc gia.
Thứ hai, về phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, nếu được hiểu theo
nghĩa hẹp thì chỉ bao gồm các hành vi tố tụng riêng biệt do các bên thỏa thuận
hợp tác giúp đỡ lẫn nhau. Điều này cũng đồng nghĩa với bản chất của vấn đề


tương trợ tư pháp là việc hỗ trợ cho nhau trong thực hiện các hành vi tố tụng
riêng biệt (như tống đạt giấy tờ, thực hiện ủy thác điều tra, thu thập chứng cứ,
dẫn độ tội phạm, thi hành án...). Còn hiểu theo nghĩa rộng thì các vấn đề
tương trợ tư pháp ở đây còn bao gồm cả dẫn độ, chuyển giao người bị kết án
và một số hoạt động khác hỗ trợ việc thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự.
Thứ ba, cơ sở pháp lý để thực hiện tương trợ tư pháp là điều ước quốc
tế (song phương hoặc đa phương) giữa các nước và pháp luật các nước liên
quan về tương trợ tư pháp. Điều ước quốc tế giữa các nước liên quan về tương
trợ tư pháp được ưu tiên áp dụng; nếu không có điều ước quốc tế liên quan thì
tương trợ tư pháp được thực hiện theo pháp luật của nước được yêu cầu thực
hiện, chủ yếu tuân theo nguyên tắc có đi có lại - nguyên tắc phổ biến trong đời
sống quốc tế được nhiều nước áp dụng.
Thứ tư, mục đích của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân của các
quốc gia trên lãnh thổ của nhau, đấu tranh có hiệu quả với tội phạm quốc tế,
tội phạm có tính chất quốc tế, góp phần củng cố và phát triển quan hệ hữu
nghị, hợp tác giữa nước ta và các quốc gia hữu quan.
1.2. Nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự
13
Việc xác định các nguyên tắc trong tương trợ tư pháp về hình sự có ý
nghĩa rất quan trọng để định hướng nội dung, hình thức hợp tác. Tương trợ tư
pháp về hình sự là một trong các hoạt động hợp tác quốc tế trong tố tụng hình
sự, là một phần quan trọng của quan hệ đối ngoại của mỗi quốc gia. Sự hợp


quyền lực trong phạm vi lãnh thổ. Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia có
quyền tự quyết định chính sách đối ngoại của mình mà không có sự áp đặt từ
chủ thể khác trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của mọi quốc gia. Điều này có
nghĩa là các quốc gia dù lớn hay nhỏ, gia trong cộng đồng quốc tế dù giàu
hay nghèo đều có quyền độc lập như nhau trong quan hệ quốc tế. Trong lĩnh
vực tương trợ tư pháp hình sự, việc các quốc gia áp dung nguyên tắc "có đi có
lại" đã thể hiện sự bình đẳng về chủ quyền trong hợp tác quốc tế. Ngoài ra,
nguyên tắc này còn được thể hiện qua việc các quốc gia có quyền từ chối các
yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự nếu việc thực hiện yêu cầu đó có thể làm
tổn hại đến chủ quyền, an ninh quốc gia.
Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác đòi hỏi các quốc gia có
nghĩa vụ tiến hành hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa,
xã hội và nhân đạo trong phạm vi quốc tế, đồng thời duy trì hòa bình và an
ninh quốc tế bằng cách tiến hành các biện pháp tập thể có hiệu quả. Trong lĩnh
vực tương trợ tư pháp về hình sự, nguyên tắc này là cơ sở để các quốc gia hợp
tác với các quốc gia khác để giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp, góp
phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế được hiểu là
khi các bên chủ thể trong quan hệ quốc tế tham gia vào ký kết các điều ước


quốc tế thì phải trên cơ sở của sự thỏa thuận và tự nguyện bình đẳng. Đồng
thời, khi đã tham gia vào điều ước quốc tế đó, các quốc gia phải có nghĩa vụ
tuân thủ nội dung mà mình đã cam kết. Tương trợ tư pháp về hình sự đòi hỏi
các quốc gia phải tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc này bởi cơ sở pháp lý của hoạt
động này chính là các điều ước quốc tế đa phương và song phương.
15
Song song với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, tương trợ tư pháp
về hình sự còn phải tuân theo những nguyên tắc được quy định trong pháp
luật quốc gia. Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Luật tương trợ tư pháp năm

chính sách đối ngoại của Việt Nam, bảo đảm uy tín của Việt Nam trên trường
quốc tế.
Trong trường hợp nếu các điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì theo quy định của Luật ký kết, gia
nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005, nay đã được thay thế bởi Luật
Điều ước quốc tế năm 2016 thì điều ước quốc tế sẽ được ưu tiên áp dụng5.
Thứ ba, tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện trên cơ sở nguyên
tắc có đi có lại.
“Có đi có lại” là một trong những nguyên tắc pháp lý quan trọng và phổ


biến. Theo nguyên tắc này, các quốc gia sẽ dành sự đối xử một cách tương
xứng với những gì quốc gia kia dành cho quốc gia mình. Nguyên tắc "có đi có
lại" được áp dụng trong quan hệ giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ khi giữa các
quốc gia đó chưa ký kết điều ước quốc tế song phương, hoặc không cùng
tham gia điều ước quốc tế đa phương nhưng có yêu cầu hợp tác trong lĩnh vực
nào đó.
Hiện nay, trong lĩnh vực tư pháp hình sự, các quốc gia trên thế giới
thường áp dụng nguyên tắc “có đi có lại”. Nguyên tắc này có ưu thế là trực
tiếp giải quyết nhanh chóng yêu cầu của cả hai bên nhưng phải được thực hiện
trên cơ sở thiện chí, đôi bên cùng hỗ trợ nhau, cùng có lợi. “Có đi có lại” được
áp dụng nhiều trong thực tiễn hợp tác quốc tế giữa các quốc gia và đã trở
thành một nguyên tắc. Tuy nhiên, khi áp dụng nguyên tắc này các quốc gia
5 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế năm 2016
17
phải cân nhắc rất thận trọng các yếu tố chính trị, pháp lý và đối ngoại sao cho
có lợi về mặt chính trị và không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
quốc gia, không gây phương hại đến an ninh trật tự của quốc gia mình.
Điều 340 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Điều 492 Bộ luật tố tụng
hình sự năm 20156, khoản 2 Điều 4 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 quy



hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tội phạm kép không có nghĩa là pháp luật của
quốc gia yêu cầu tương trợ và quốc gia được yêu cầu tương trợ phải quy định
hành vi phạm tội đó trong một nhóm tội hoặc cùng tội danh và điều quan
trọng là hành vi phạm tội đó có những yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản tương
đương theo quy định của pháp luật hai bên.
Bên cạnh đó, thực hiện hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự còn phải
tuân thủ nguyên tắc chỉ đạo về hợp tác quốc tế theo ngành, lĩnh vực do cơ
quan chủ quản xác định phù hợp với nguyên tắc chung do Đảng và Nhà nước
ta đã ban hành. Thực hiện các nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan tiến hành tố
tụng phải tuyệt đối tuân thủ quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước ta về đối ngoại; các quy định của bộ, ngành chủ quản
của cơ quan tiến hành tố tụng, về hợp tác quốc tế giữa cơ quan tiến hành tố
tụng Việt Nam với cơ quan tiến hành tố tụng các nước trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
Các nguyên tắc trên đây luôn luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau,
tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích chính đáng của
công dân, góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ hợp tác giữa các quốc gia.
1.3.Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự
Nội dung tương trợ tư pháp về hình sự là toàn bộ những vấn đề liên
quan đến việc thực hiện tương trợ tư pháp hình sự, được quy định trong pháp
7 Nguyễn Ngọc Anh (2014), Sổ tay về công tác tương trợ tư pháp về hình sự, NXB Lao
động, Hà Nội.
19


luật mỗi quốc gia cũng như các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.
Việc quy định rõ nội dung tương trợ tư pháp về hình sự giúp cho các quốc gia
xác định đúng thẩm quyền tương trợ tư pháp của mình, từ đó thực hiện hoạt

tế quốc tế. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều nước quan tâm đến các hoạt
động tương trợ tư pháp trong phát triển quan hệ với các nước và phát triển
kinh tế nước mình.
Tương trợ tư pháp về hình sự có ý nghĩa quan trọng về chính trị - xã hội
cũng như pháp lý, góp phần thể chế hoá và thực hiện đường lối đối ngoại đa
phương hoá, đa dạng hoá, tăng cuờng hội nhập, hợp tác quốc tế đã được ghi
nhận trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 49- NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị đã xác định: “Tổ chức thực hiện tốt các điều
ước quốc tế mà Nhà nước ta đã tham gia. Tiếp tục ký kết hiệp định tương trợ
tư pháp với các nước khác, trước hết là với các nước láng giềng, các nước
trong khu vực... Tăng cường sự phối hợp chung trong hoạt động phòng ngừa
và đấu tranh chống tội phạm có yếu tố quốc tế và khủng bố”... Tiếp đó, ngày
22/10/2010, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 48-CT/TW về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình
mới, trong đó nhấn mạnh: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong công tác


phòng, chống tội phạm, trước hết là với các nuớc láng giềng, các nước có
quan hệ truyền thống, các nước trong khu vực ASEAN. Tổ chức thực hiện tốt
các công ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định hợp tác phòng,
chống tội phạm mà Nhà nước ta đã ký kết hoặc gia nhập. Tiếp tục nghiên cứu
tham gia, ký kết các điều ưóc quốc tế khác liên quan đến công tác phòng,
chống tội phạm” .
Tương trợ tư pháp về hình sự có vai trò quan trọng không chỉ với mỗi
quốc gia mà còn có ý nghĩa quốc tế:
Thứ nhất, tương trợ tư pháp về hình sự góp đấu tranh phòng chống tội
phạm nói chung, tội phạm có yếu tố nước ngoài nói riêng.Thông qua tương trợ
tư pháp về hình sự góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động điều tra, truy tố,
21
xét xử và thi hành án đối với các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Điều

hợp tác cùng có lợi giữa các nước, thông qua đó, các cơ quan nhà nước và đội
ngũ công chức thực hiện công tác này có thể trao đổi, học tập kinh nghiệm,
mở rộng sự hiểu biết về công tác chuyên môn. Điều đó là hoàn toàn cần thiết
và có lợi cho công cuộc hội nhập quốc tế, củng cố và nâng cao vai trò và vị
thế của các cơ quan tư pháp của mỗi quốc gia trên trường quốc tế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status