ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở thế kỉ 21, con người không đơn thuần chỉ sử dụng thực phẩm với mục đích
là cung cấp nguồn năng lượng cho hoạt động sống mà còn quan tâm đến vấn đề
dinh dưỡng, vệ sinh, an toàn và thẩm mĩ . . .
Trong đó sữa được xem là nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chứa
nhiều protein, lipit, một số khoáng chất và vitamin… Sữa trước đây được xem là
mặt hàng sa xỉ nhưng bây giờ đã trở thành nguồn thực phẩm cần thiết và phổ biến
trong mọi bữa ăn của mỗi gia đình. Từ đó, ngành Công nghệ thực phẩm nói chung
và ngành Công nghệ chế biến sữa nói riêng không ngừng phát triển, với sự xuất
hiện của nhiều loại mặt hàng sữa trên thị trường như: sữa thanh trùng, sữa tươi tiệt
trùng, sữa cô đặc, sữa chua uống, sữa bột, kefir, phomai, bơ, kem ... Và sữa còn là
nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác như công nghệ chế biến bánh
kẹo và nước giải khát, y dược...
Tuy nhiên, ngành công nghệ chế biến sữa ở nước ta còn non trẻ, sản lượng
chưa nhiều và việc chăn nuôi chưa được quan tâm. Do đó, hàng năm nhà nước phải
bỏ ra một khoảng kinh phí lớn để nhập sữa từ nước ngoài dưới dạng sữa bột.
Nắm bắt được tình hình đất nước, nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất sữa đã ra đời: Vinamilk, Công ty cổ phần sữa quốc tế, công ty sữa TH true
milk, công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu với công nghệ ngày càng phát triển
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ sữa trong cả nước.
Đặc biệt, Mộc Châu là một tỉnh đã và đang còn rất nghèo ở miền núi phía
Bắc, là một tỉnh rất xa so với trung tâm Hà Nội, nên Công ty có những khó khăn
nhất định, nhưng nhìn vào những giải thưởng qua các đợt: Qủa cầu bạc, giải thưởng
chất lượng cao trong nhiều năm, giải sao vàng đất Việt, giải Cúp sen vàng và cùng
nhiều huy chương vàng, giấy khen các loại, các giải thưởng dành cho các sản phẩm
sữa tươi thanh trùng, tiệt trùng, các sản phẩm khác về các công nghệ sản xuất bảo
quản sữa tươi. Cho thấy, Mộc Châu là một điểm sáng trong cả nước về sản xuất và
chế biến sữa.
Tại sao công ty Cổ phần giống bò sữa Mộc Châu lại có những thành công như
vậy, mô hình này còn có những tồn tại gì? Cần những giải pháp gì để nâng cao chất
– 85% protein sữa. Casein có đầy đủ tất cả các acid amin cần thiết. Đặc biệt là
Lysin là một acid amin cần thiết cho sự phát triển của trẻ em [7].
Chất béo sữa có trạng thái nhũ tương có độ phân tán cao, chứa nhiều acid
béo chưa no. Chính vì vậy, chất béo sữa có độ tan chảy thấp và dễ đồng hóa, có giá
trị sinh học cao[7].
Đường của sữa chủ yếu là lactoza. Lactose hoà tan tốt trong nước, không bị
kết tinh ngay cả trong dung dịch đậm đặc. Người ta có thể dùng lactose làm mầm
kết tinh hoặc dùng trong dinh dưỡng cho trẻ em vì nó kích thích sự hoạt động của
Lactobacterium bifidum và có tác dụng tốt cho tiêu hoá ở ruột [7].
Hàm lượng đường lactose dao động trong khoảng 3,6 - 5,5%. Lactose ở
trong sữa có ý nghĩa to lớn đối với cơ thể trẻ em vì nó có khả năng làm tăng nhanh
quá trình trao đổi chất, đồng thời cung cấp nhiều năng lượng cho cơ thể. Đặc biệt
lactose thấm qua màng ruột già nó sẽ bị lên men tạo thành axit lactic làm hạn chế
quá trình thối rữa ở trong ruột.
Do trong sữa có mặt các cation K+, Na+, Mg+, Ca2+ và các anion của các acid
phosphoric, limonic, clohydric nên trong sữa có nhiều loại muối khác nhau.
- Các muối clorua: KCl, NaCl, CaCl2, MCl2 ...
- Các muối phosphate: KH2PO4, NaH2PO4, K2HPO4, Na2HPO4...
- Các muối citrate: K2(C6H6O7), Na2(C6H6O7), Ca3(C6H6O7)2...
Trong các muối trên, muối calcium có ý nghĩa lớn đối với người, đặc biệt là
trẻ em. Hai nguyên tố calcium và phospho trong sữa có tỷ lệ rất hài hoà Ca/P =
1/1,31 và ở dạng cơ thể dễ hấp thụ [7].
Muối calcium có ý nghĩa quan trọng trong công nghệ chế biến sữa. Khi sữa
có hàm lượng calcium thấp, sữa đó sẽ không bị đông tụ hoặc bị đông tụ rất chậm.
3
Ngược lại, nếu sữa có hàm lượng canxi cao thì sẽ bị đông tụ bởi renin nhanh hơn
nhưng quện sữa (gel đông tụ) lại không mịn. Trong sữa, canxi nằm trong các hợp
chất canxi caseinat, canxi phosphat, canxi limonat...
tăng từ 41 ngàn con/ năm 2001 lên trên 115 ngàn con năm 2009 và tương tự tổng
4
sản lượng sữa tươi sản xuất hàng năm tăng lên 4 lần từ 64 ngàn tấn/ năm 2001 lên
trên 278 ngàn tấn năm 2009[5].
Trong gần 10 năm thực hiện Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ về
phát triển bò sữa giai đoạn 2001 – 2010, số lượng đàn bò sữa của ta cũng có những
lúc thăng trầm khác nhau và đạt bình quân trên 30%/năm. Giai đoạn 2006 tốc độ
phát triển đàn bò và sản lượng sữa đạt trên 131% (197/150 ngàn tấn). Trong những
năm vừa qua, năm 2009 chăn nuôi bò sữa Việt Nam có nhiều thuận lợi và gặt hái
được nhiều thành quả tốt đẹp, chăn nuôi bò sữa thực sự có hiệu quả kinh tế so với
các vật nuôi khác.
Nhu cầu về sữa tươi sản xuất trong nước tăng cao, đây là cơ hội rất tốt để
phát triển nhanh hơn đàn bò sữa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã
hội. Giá thu mua sữa bò tươi trên phạm vi cả nước đang rất cao giao động 12-13
ngàn đồng/lít đang rất có lợi và khuyến khích người chăn nuôi đầu tư phát triển bò
sữa. Các công ty, như Công ty Vinamilk, Công ty sữa quốc tế IDP Hà Nội, Công ty
cổ phần sữa Lâm Đồng, Công ty sữa TH Milk Nghệ An...đang triển khai chương
trình phát triển vùng nguyên liệu và mở rộng cơ sở chế biến sữa góp phần đưa
ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa của Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới.
Những thành tự đạt được về chương trình sữa Việt Nam 2001 – 2010 của
Chính phủ đã khẳng định đường lối đúng đắn về phát triển chăn nuôi bò sữa của
Chính phủ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp tăng nhanh số lượng
và chất lượng sản phẩm chăn nuôi, giảm nhập siêu sản phẩm sữa, tạo việc làm, tăng
thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống cho cư dân nông nghiệp và nông thôn.
Phát triển số lượng và chất lượng giống bò sữa
Với quan điểm sản xuất giống bò sữa trong nước là chủ yếu, Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn chủ trương lai tạo và phát triển bò sữa trong nước thông qua
(%)
1
2001
41,241
17,89
2
2002
55,848
35,43
3
2003
79,225
41,84
4
2004
95,794
20,92
5
2005
104,120
8,70
6
2006
113,215
8,73
7
2007
98,659
-12,86
8
trình phát triển bò sữa của nước ta ở giai đoạn mới.
Phân bố đàn bò sữa theo các vùng sinh thái
Phát triển đàn bò sữa của nước ta phát triển trên tất cả các vùng sinh thái của
Việt Nam. Tuy nhiên, sự phân bố khác nhau về số lượng đã thể hiện sự phát triển
của bò theo vùng sinh thái và lợi thế của từng vùng. Đàn bò sữa Việt Nam tập trung
chủ yếu tại vùng Đông Nam Bộ 79 ngàn con, chiếm trên 68% tổng đàn bò sữa cả
nước, trong đó thành phố Hồ Chí Minh là nơi có đàn bò sữa nhiều nhất Việt Nam và
chiếm gần 60 % tổng đàn bò sữa Việt Nam.
Theo số liệu của Tổng Cục thống kê năm 2009 tổng đàn bò sữa cả nước có
trên 115 ngàn con. Năm tỉnh có đàn bò sữa lớn nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh
73.328 con, Hà Nội 6.800 con, Long An 6.104 con, Sơn La 5.136 con, Sóc Trăng
5.071 con.
Trong những năm gần đây nhu cầu về phát triển chăn nuôi bò sữa cao sản
quy mô công nghiệp là rất lớn, nhiều Công ty sữa và doanh nghiệp có dự án phát
triển chăn nuôi bò sữa trang trại: Vinamilk, Công ty sữa TH, sữa Mộc Châu, IDP…
Theo quy luật phát triển chăn nuôi bò sữa của nhiều nước trên thế giới và
khu vực thì việc phát triển vùng nguyên liệu sữa trên quy mô lớn và phương thức
chăn nuôi công nghiệp, khép kín và sản xuất hàng hóa là xu hướng tất yếu của
ngành sữa Việt Nam trong những năm của thập kỷ tới.
Tổng sản lượng sữa tươi
Tốc độ tăng trưởng về tổng sản lượng sữa tươi sản xuất trong nước trong
thời gian 10 năm qua trung bình trên 30% năm, tốc độ tăng sản lượng sữa cao hơn
tốc độ tăng đàn bò sữa cho thấy năng xuất sữa và chất lượng giống được cải thiện.
Hiện nay, sữa bò tươi sản xuất trong nước đang được người tiêu dùng Việt Nam ưa
chuộng hơn các sản phẩm sữa chế biến khác. Giá sữa tươi thu mua của các công ty
sữa đang ở mức cao có lợi cho người nuôi bò và khuyến khích cho người chăn nuôi
đẩy mạnh sản xuất.
7
2003
79,225
41,84
126,697
61,49
4
2004
95,794
20,92
151,314
19,43
5
2005
104,120
8,70
2008
107,983
9,45
262,160
11,82
STT
Năm
Số bò (1000
con)
1
2001
2
9
2009
114,461
6,00
278,190
2620
3130
3230
Năm
2002
2003
2004
2005
Kg/chu kì
3330
3430
3540
3640
Năm
2006
2007
2008
2011
Kg/chu kì
3740
3840
3945
4060
Nguồn: “Phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt nam”
-PGS.TS. Phan Văn Cải- 2009
F1 (50% HF)
2830 - 2970
287-288
3,24
9,9-10,4
F2 (75% HF)
2520 - 3220
263-290
3,36
9,6-11,0
F3 (87,5% HF)
2650 - 3250
290-298
3,18
8,9-11,2
Thị trường tiêu dùng sữa trong nước
Tâm lý người Việt Nam trong tiêu dùng thường thích hàng ngoại và sữa
ngoại, tuy nhiên sau bão về sữa Trung Quốc có Melanine vào cuối năm 2007 và đầu
2008 thì tâm lý về tiêu dùng sữa Việt Nam có thay đổi. Hiện nay, việc sử dụng sữa
tươi sản xuất trong nước được nhiều người ưa chuộng không chỉ giá mua rẻ hơn mà
chất lượng tốt và an toàn hơn. Mặt khác xu hướng người Việt Nam tiêu dùng hàng
Việt Nam cũng tác động đến đông đảo người tiêu dùng sản phẩm sữa Việt. Bình
quân sản lượng sữa tươi sản xuất trong nước trên đầu người hiện nay là 3,2 kg
chiếm khoảng 20% tổng lượng sữa tiêu dùng hàng năm.
9
Bảng 1.5. Tăng trƣởng tiêu thụ sữa của Việt Nam giai đoạn đến 2010 [5].
Năm
8,1
12,2
16,97%
8,60%
2006
1.056
12,7
4,01%
2007
1.239
14,7
16,04%
2008
1.257
14,8
0,38%
- Chăn nuôi nông hộ có hiệu quả kinh tế cao, thu nhập hỗn hợp và lãi trung
bình/con bò sữa/ năm tương ứng 16,6 triệu đồng. Về tỉ suất lợi nhuận (lãi/chi phí)
trong chăn nuôi bò sữa nông hộ ở hộ năm 2011 là 36%.
Qua nghiên cứu đã khẳng định rằng việc đầu tư tiền vốn vào để phát triển
chăn nuôi bò sữa hiện nay là một trong những lựa chọn đầu tư có tính khả thi cao.
Một số ý kiến đánh giá về chăn nuôi bò sữa Việt Nam
Sau gần 10 năm thực hiện Chương trình phát triển bò sữa theo Quyết định
167 của Chính phủ chúng ta có một số đánh giá và nhận xét về chăn nuôi bò sữa
trong thời gian như sau:
Thuận lợi và thành tựu: Chăn nuôi bò sữa Việt Nam đã và đang được
Chính phủ quan tâm. Các dự án giống bò sữa thông qua các chương trình tập huấn
đã giúp người chăn nuôi nâng cao trình độ và kỹ thuật chăn nuôi bò sữa.
Chất lượng đàn bò sữa ngày càng được cải thiện do quá trình chọn lọc và cải
tiến quy trình nuôi dưỡng và thông qua các dự án giống các nguồn gen bò sữa cao
sản. Đàn bò sữa của nước ta chủ yếu là bò lai HF được lai tạo trong nước 85%. Bò
thuần HF, bò ngoại chiếm 15% tổng đàn.
Năng suất và sản lượng sữa của bò sữa Việt Nam hiện nay 4000 – 4500 kg/
chu kỳ tương đương hoặc cao hơn với một số nước trong khu vực như Thái Lan,
Indonesia, Philipine và Trung Quốc.
Chăn nuôi bò sữa là một nghề có hiệu quả kinh tế cao, góp phần tạo việc
làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nông dân.
Khó khăn: Ngành chăn nuôi bò sữa là một nghề mới ở Việt Nam, một số
người chăn nuôi vẫn còn ít kinh nghiệm nên còn nhiều khó khăn, năng suất thấp và
chất lượng sữa chưa cao.
Quy mô chăn nuôi bò sữa còn nhỏ, phương thức chăn nuôi còn hạn chế, thức
ăn chăn nuôi tận dụng nên đa số nông dân chưa có điều kiện để áp dụng khoa học
công nghệ cao và phát triển chăn nuôi bò sữa.
Phần lớn nguồn nguyên liệu thức ăn tinh và các chất premix, vitamin...dùng
trong chăn nuôi bò sữa phải nhập khẩu nên chi phí đầu vào chăn nuôi bò sữa cao,
giá thành cao khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm còn hạn chế.
nghiệp
Năm
Năm
2000
2005
13
39
Năm
Năm
Tốc độ phát triển bình quân
(%/năm)
2007 20010 2001-2005
2006-2010
58
65
24,57
23
2000
2005
2007
2008
20012005
Ngành Sữa
3180,0
5349,8
6979,9
7083,4
10,96
9,81
10,53
Ngành SX
TP và đồ
uống
15,93
647231,
7
Sản phẩm chủ yếu của ngành bao gồm sữa đặc, sữa bột, sữa tiệt trùng và sữa
chua các loại. Ngoài ra còn có các sản phẩm khác như bột dinh dưỡng, kem, phô
mai, sữa đậu nành, nước ép trái cây, bánh sữa, kẹo sữa… Chi tiết sản lượng sản
phẩm của ngành xem bảng sau:
13
Bảng 1.8. Sản lƣợng các sản phẩm và tốc độ tăng trƣởng [5].
Tăng bq
(%/n)
Sản lƣợng
Sản phẩm
Đơn vị
20012005
20012008
23,50
25,25
2005
2007
2008
Sữa tươi tiệt
trùng
1000lít
72.50
8
208.31
5
430.50
3
439.11
3
Sữa đặc có
đường (sữa
hộp)
1000
hộp
40.07
8
49.924
40.127
46.500
Bơ
Tấn
Pho mát
Tấn
Kem các loại
Tấn
Các sản phẩm
sữa khác
Tấn
2,0
1,2
7.035
14
Bảng 1.9. Cơ cấu và sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm [5].
Cơ cấu sản phẩm, %
Sản phẩm
2000
2005
2007
Chuyển dịch cơ cấu
2005 2008 2008
2000
2000
34,93
9,21
23,38
Sữa tươi tiệt trùng
11,55
20,75
34,75
Sữa đặc có đường
36,18
36,27
34,84
30,89
đặc có xu hướng giảm dần tỷ trọng, sữa tiệt trùng và sữa chua tăng dần tỷ trọng.
Đến năm 2008 sự thay đổi này càng rõ nét hơn. Từ năm 2000 đến 2008, sữa bột
giảm 20,1 điểm %, sữa đặc giảm 5,3 điểm %, trong khi sữa tiệt trùng tăng 23,4 điểm
%, sữa chua tăng 1,7 điểm %.
Các doanh nghiệp không chỉ chú trọng về khẩu vị mà còn chú trọng về mặt
dinh dưỡng của sản phẩm nhằm mang đến sức khoẻ cho người tiêu dùng. Các sản
phẩm đa dạng và phong phú về chủng loại, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của từng
đối tượng, từng bệnh lý (cho bà mẹ mang thai, người cao tuổi, em bé, thanh thiếu
niên, trẻ biếng ăn, người ăn kiêng, bệnh nhân, bệnh nhân tiểu đường, …). Các
doanh nghiệp luôn đưa ra thị trường những sản phẩm mới được bổ sung dưỡng chất
như Taurine, can xi, DHA… hoặc mang hương trái cây mới, hoặc bao bì mới.
Mỗi một doanh nghiệp đều có những sản phẩm chủ lực, mang thương hiệu
của doanh nghiệp. Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) có hai nhãn hiệu chủ
lực là Vinamilk cho các sản phẩm sữa thanh trùng và tiệt trùng, sữa chua, kem, phô
mai và Dielac cho sản phẩm sữa bột. Công ty TNHH Thực phẩm & Nước giải khát
Dutch Lady Việt Nam có nhãn hiệu Dutch Lady cho sản phẩm sữa bột và Yomost
cho sản phẩm sữa chua. Công ty CP giống bò sữa Mộc Châu có nhãn hiệu Mộc
Châu, Công ty CP sữa Quốc tế có nhãn hiệu Ba Vì cho sản phẩm sữa tươi tiệt trùng.
Công ty CP sữa Hà Nội có nhãn hiệu IZZI, Công ty CP Tân Việt Xuân có nhãn hiệu
Vixumilk cho sản phẩm sữa tiệt trùng. Công ty CP thực phẩm dinh dưỡng Đồng
Tâm (Nutifood) có nhãn hiệu Nuti, Công ty Nestle’ Việt Nam có nhãn hiệu Nestle’
Gấu cho sản phẩm sữa bột…
15
Nhiều công ty đã nhận được Cúp vàng giải thưởng chất lượng, Cúp vàng
nhãn hiệu cạnh tranh nổi tiếng của năm. Mộc Châu luôn được bình chọn trong “Top
10 hàng Việt Nam chất lượng cao” từ năm 1995 đến nay.
20012007
%/năm
2000
2005
2006
344,8
430,3
552,9
14,0
4,53
-36,74
55,6
40,0
78,4
785,4
-6,38
quân
2001-2005,
%/năm
Ngành Sữa có hiệu quả kinh tế cao so với các ngành khác. Lợi nhuận năm
2007 tăng 3,9 lần (khoảng 1.161 tỷ đồng) so với năm 2000, tính cả giai đoạn 20012007 tăng bình quân 21,4%/năm.
Bảng 1.11. Lợi nhuận của ngành Sữa theo thành phần kinh tế từ năm
2000 đến 2007 [5].
Đơn vị: Tỷ đồng
2000
DN Nhà nước
2005
2006
2007
343,2
603,2
735,4
12,6
DN ngoài Nhà nước
-8,1
Đơn vị: Tỷ đồng
Tăng bq
2000
2005
2006
2007
2001-2007,
%/năm
DN Nhà nước
2895,8
5705,4
6755,3
223,3
-30,65
DN ngoài Nhà nước
365,6
951,4
936,0
8653,2
17
1.3. Tổng quan về ngành sữa trên thế giới
1.3.1. Số lượng bò sữa thế giới
Tốc độ tăng số lượng bò sữa có xu hướng giảm rõ rệt. Từ năm 2003 số lượng
bò sữa đạt 154,567 triệu con, đến năm 2010 số lượng bò sữa đạt 125,512 triệu con.
Các quốc gia có số lượng bò sữa lớn nhất và ổn định nhất thế giới là Ấn Độ, EU –
27, Brazil, Russia, United…
Bảng 1.13. SỐ lƣợng bò sữa thế giới 2003-2010 [5].
Quốc
2003
gia
India
36,500
EU-27
26,498
Brazil
15,300
Russia
11,700
United
States
9,081
China
4,466
Mexico
6,047
New
15,200
11,200
38,000 38,000 38,000 38,500 38,000 38,500
25,355 24,944 24,178 24,176 24,192 23,662
15,100 15,290 15,925 16,700 17,200 17,600
10,400 9,900 9,910 9,800 9,530 9,440
9,010
5,466
5,867
9,050
6,800
5,964
9,137
7,900
5,897
9,189
8,755
6,010
9,315
8,575
6,204
9,201
7,115
4,365
2,856
2,100
1,676
4,470
2,730
2,100
1,600
31,140 29,864 28,380 27,708 2,122 2,096 2,093
153,10 152,74 151,48 151,09 126,48 124,71 125,52
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sữa trên thế giới
Sản lượng sữa thế giới đã tăng khá nhanh từ năm 2001 đến năm 2008 với
mức tăng bình quân tăng 2%/năm . Từ năm 2008 đến năm 2010 tổng sản lượng sữa
thế giới lại có xu hướng giảm từ 640,783 triệu tấn năm 2007 xuống còn 510,904
triệu tấn trong năm 2010. Số lượng sữa bò có xu hướng giảm trung bình 8,5%/năm.
Các sản phẩm sữa khác như sữa dê, sữa cừu, sữa trâu có xu hướng tăng từ 53,701
triệu tấn năm 2001 lên 510,904 triệu tấn năm 2010.
18
Bảng 1.14. Sản lƣợng sữa tƣơi thế giới 2001-2010 [5].
Đơn vị: triệu tấn
Năm
2001
2002
68,317
621,676
68,567
627,020
72,500
640,783
67,079
502,038
68,967
501,247
71,502
510,904
Hiện tại, 3 trung tâm sản xuất sữa lớn trên thế giới là khu vực châu Âu, khu
vực Nam Á và Hoa Kỳ. Tuy nhiên khoảng 2/3 lượng sữa gia tăng trong giai đoạn
2000 - 2007 được sản xuất từ 3 nước châu Á là Trung Quốc, Ấn Độ và Pakixtan.
Sản xuất sữa cũng gia tăng ở một số nước như Thái Lan, Việt Nam, Kazacxtan,
Uzơbêkixtan, Braxin, khu vực Bắc Phi.
Bảng 1.15. Sản lƣợng sữa bò theo khu vực giai đoạn 1998 – 2010 [5].
Đơn vị tính: tỷ lít
Quốc gia/khu vực
Châu Phi
1998
38,5
2000
41,9
2005
16,2
Nam Mỹ
43,5
36,6
48,3
50,5
53,5
Châu Á
66,0
70,8
97,3
110,9
120,0
EU 27
150,8
541,3
24,6
551,50
27,8
594,6
19
Số lượng các trang trại bò sữa trên toàn thế giới năm 2005 khoảng 149 triệu
trang trại, trong đó Ấn Độ chiếm đến 50% tổng số trang trại bò sữa của thế giới. Số
lượng bò sữa của Ấn Độ hiện cũng dẫn đầu thế giới với trên 40 triệu bò sữa tuy
nhiên sản lượng sữa năm 2008 của Ấn Độ chỉ đạt khoảng 42 tỷ lít. Trong số các
quốc gia và khu vực sản xuất sữa hàng đầu thế giới thì EU27 có năng suất sữa cao
nhất vẫn thuộc về EU27 với 161,1 tỷ lít năm 2010 trên tổng số bò sữa gần 24 triệu
con. Mặc dù vậy, mức gia tăng sản lượng sữa của EU27 lại không đáng kể trong
thời gian qua.
Bảng 1.16. Số lƣợng bò sữa và sản lƣợng sữa của một số quốc gia/khu vực
sản xuất chính giai đoạn 2001-2010 [5].
Đơn vị tính: ngàn con - tỷ lít
2000
Quốc gia/Khu vực
EU27
2007
Bò
9.206
76,004
32.883
32,870
-
41,150
-
42,000
5.238
8,420
12.180
32,250
-
38,000
Nga
15,200
-
16,300
Thổ Nhĩ Kỳ
8.732
8,732
11.279
11,279
-
11,900
Ucraina
5.431
12,658
3.347
12,264
-
11,500
-
9,800
Áchentina
2.500
9,794
2.150
9,800
Úc
2.165
10,862
1.700
9,373
1.700
Quốc gia
Doanh thu
Xếp hạng
2000
2010
Nestlé
Thuỵ Sĩ
23,1
1
1
Danone
Pháp
14,0
3
3
Lactalis
10,4
17
4
Niu zi lân
10,4
-
6
Arla Foods
Đan Mạch/Thuỵ Điển
8,8
7
5
Kraft Foods
Mỹ
6,4
21
- Các nghiên cứu cho thấy nhu cầu tiêu dùng sữa nước đã xuống mức thấp
nhất ở một số khu vực tiêu thụ chính. Để khắc phục xu hướng trên, các nhà sản xuất
sữa đã nghiên cứu nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm bằng cách bổ sung thêm
các thêm các thành phần chức năng có lợi cho sức khỏe và các hương vị vào các sản
phẩm sữa. Nhu cầu về sữa hương vị đang gia tăng với tốc độ khoảng 2%/năm ở Tây
Âu đến 10%/năm ở Nam Mỹ.
- Hiện nay, nhiều tập đoàn sữa quốc tế lớn có xu hướng liên doanh hoặc mua
lại các doanh nghiệp địa phương ở các nước, vùng lãnh thổ mới phát triển - nới có
tốc độ tăng nhu cầu lớn để phát trển thị phần.
1.3.3. Nhu cầu thương mại và tiêu thụ sữa trên thế giới
Tổng lượng sữa thương mại toàn cầu đạt được 43 tỷ lít trong năm 2007, thấp
hơn 1 tỷ lít so với năm trước. Tổng sản lượng thương mại này được tính trên cơ sở
tổng xuất nhập khẩu của các quốc gia trên thế giới, không tính đến các giao dịch
thương mại của các quốc gia thành viên EU. Việc suy giảm còn do nguyên nhân mở
rộng của EU, khi mà số thanh viên của liên minh này tăng thêm đồng nghĩa với việc
trao đổi thương mại nội khối tăng.
New Zealand và EU vẫn là quốc gia và khu vực dẫn đầu về xuất khẩu sữa và
các sản phẩm từ sữa với lượng xuất khẩu tương đối ổn định trong 2 năm 2006 và
2007. Úc đã suy giảm lượng xuất khẩu 0,9 triệu tấn trong 2007 do sản lượng trong
nước sụt giảm. Argentina cũng sụt giảm lượng xuất khẩu 0,8 triệu tấn.
Bảng 1.18. Sản xuất, thƣơng mại và mức tiêu thụ sữa bình quân đầu
ngƣời trên thế giới giai đoạn 2005 – 2010 [5].
2005
Tổng số sữa sản xuất, triệu tấn
2006
31,6
32,1
Bơ, triệu tấn
55,8
58,4
60,3
62,3
64,0
Phomát, triệu tấn
83,2
84,6
85,9
87,9
89,8
463,0
46,0
47,3
39,4
39,7
39,4
93,8
95,1 102,4
103,1
103,6
173,5
174,3 245,4
246,9
249,6
65,5
66,9
Sữa Việt Nam đến năm 2020, có xét đến năm 2025” cho biết:
Phát triển ngành công nghiệp sản xuất sữa trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh
của từng vùng, từng địa phương, phát huy hết năng lực chế biến sẵn có. Huy động
tiềm lực của mọi thành phần kinh tế vào phát triển ngành gắn với phát triển vùng
nguyên liệu. Chú trọng bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường
sinh thái.
Phát triển ngành trên cơ sở áp dụng công nghệ, thiết bị tiên tiến, không
ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu
23
sản xuất sản phẩm mới với chất lượng cao và đa dạng để đáp ứng nhu cầu trong
nước ngày càng tăng và xuất khẩu. Tập trung xây dựng một số thương hiệu quốc gia
mạnh để cạnh tranh hiệu quả trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Đẩy mạnh phát triển đàn bò trong nước để tăng dần tỷ lệ tự túc nguyên liệu
trong nước, giảm dần tỷ lệ sữa nguyên liệu nhập khẩu. Phải coi đây là chương
trình quốc gia góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế, xã hội chung và chuyển dịch cơ
cấu nông nghiệp, công nghiệp hoá nông thôn, giảm nhập siêu.
1.4.1. Các mục tiêu phát triển
a) Mục tiêu tổng quát
Từng bước xây dựng ngành sữa Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại,
đồng bộ từ sản xuất nguyên liệu đến thành phẩm, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ
sinh thực phẩm, phong phú về chủng loại và mẫu mã, bảo vệ môi trường, đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của xã hội và một phần xuất khẩu.
b) Mục tiêu cụ thể
Năm 2015 cả nước sản xuất 760-800 triệu lít sữa thanh trùng và tiệt trùng;
115-125 triệu lít sữa chua; 390 - 400 triệu hộp sữa đặc có đường; 75 - 85 ngàn tấn
sữa bột; ... quy ra sữa tươi là triệu 1,8 - 1,9 tỷ lít, tiêu thụ đạt trung bình 20-21
lít/người 1 năm; giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 11 ngàn tỷ đồng (giá 1994),
tăng trưởng bình quân 5 năm 2011-2015 đạt 7,5-8 %/năm. Sữa tươi sản xuất trong
ngoại. Phát triển công nghiệp chế biến sữa cần phải gắn chặt với việc phát triển
đàn bò sữa trong nước. Các cơ sở sản xuất sữa phải có chương trình đầu tư cụ
thể vào phát triển đàn bò sữa. Bố trí địa điểm xây dựng các nhà máy chế biến
sữa cần gắn liền với các vùng chăn nuôi bò sữa tập trung.
a. Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020
Theo “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” đã được Thủ tướng
chính phủ phê duyệt ngày 16/01/2008 mục tiêu cụ thể cho phát triển bò sữa và sản
lượng sữa tươi như sau [5]:
Đến 2020 đàn bò sữa tăng bình quân trên 11%/năm, 100% số lượng bò được
nuôi thâm canh và bán thâm canh.
- Đến 2010: đàn bò sữa đạt 200 nghìn con; sản lượng sữa 380 ngàn tấn, năng
suất sữa 4.190 kg/con/chu kỳ.
- Đến 2015: đàn bò sữa đạt 350 nghìn con, sản lượng sữa 700 ngàn tấn, năng
suất sữa 4.450 kg/con/chu kỳ.
- Đến 2020: đàn bò sữa đạt 500 nghìn con, sản lượng sữa 1.000 ngàn tấn,
năng suất sữa 4500 kg/con/chu kỳ.
25