LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thị Huyền Sâm, người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiện
giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô trường Đại học sư phạm
Hà Nội, trường Đại học Trà Vinh đã giảng dạy, định hướng giúp đỡ em trong quá
trình học tập và thực hiện luận văn.
Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn
thành luận văn.
Học viên
Thạch Som Nang
1
MỤC LỤC
Mở đầu.....................................................................................................................4
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................. 6
3. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ........................................................8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................9
5. Đóng góp của luận văn .....................................................................................10
6. Cấu trúc luận văn ..............................................................................................10
Chương 1: Khái quát về tỉnh Trà Vinh và dân tộc Khmer ở Trà Vinh .................12
1.1. Khái quát về tỉnh Trà Vinh ............................................................................12
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và cư dân ..........................................12
1.1.2. Khái quát lịch sử hành chính tỉnh Trà Vinh .......................................16
1.1.3. Khái quát kinh tế - xã hội Trà Vinh …................................................17
1.2. Khái quát kinh tế - xã hội của dân tộc Khmer ở Trà Vinh …........................22
1.2.1. Về kinh tế ............................................................................................22
3.3.2. Dàn nhạc ngũ âm .................................................................................63
3.3.3. Múa ......................................................................................................65
3.3.4. Sân khấu ..............................................................................................66
3.4. Một số nhận xét về lễ hội và các loại hình nghệ thuật của người Khmer tỉnh
Trà Vinh ................................................................................................................69
Tiểu kết chương 3 .................................................................................................74
Kết luận ................................................................................................................75
Tài liệu tham khảo ................................................................................................77
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi dân tộc đều sáng tạo ra
truyền thống văn hóa riêng cho mình.Truyền thống văn hóa đó theo chiều dài lịch
sử đã trở thành tập quán, nếp sống, bản sắc của dân tộc.
Dân tộc gắn với bản sắc văn hóa. Đánh mất bản sắc văn hóa là tự đánh mất
dân tộc. Do vậy, mỗi dân tộc để tồn tại và phát triển phải giữ được những giá trị
văn hóa mang bản sắc của mình. Sở dĩ dân tộc Việt Nam trải qua mấy nghìn năm
dựng nước và giữ nước với biết bao sóng gió, thử thách vẫn vươn lên với sức
sống ngày càng mãnh liệt là vì đã giữ được bản sắc văn hóa, đồng thời làm cho
những di sản văn hóa của dân tộc thêm tốt đẹp, phong phú bằng cách kết hợp văn
hóa truyền thống với những tinh hoa văn hóa của thời đại.
Coi việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc là chủ trương
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm xây dựng một "nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ V khóa VIII (1998), Đảng ta đã khẳng định rõ: "Di sản văn hóa là tài sản
vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra
những giá trị văn hóa mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" trong dòng chảy của văn minh hiện đại dưới tác
động mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa.
Mặt khác, là người dân tộc Khmer, sinh ra, lớn lên và hiện là giáo viên
giảng dạy môn lịch sử trên quê hương Trà Vinh, nên việc tìm hiểu về dân tộc và
quê hương mình sẽ giúp cho tôi giảng dạy tốt hơn phần lịch sử văn hóa, lịch sử
địa phương qua đó góp phần giáo dục, bồi đắp cho học sinh lòng tự hào đối với
dân tộc và tình yêu đối với quê hương đất nước.
5
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu
vấn đề "Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992
đến nay" làm đề tài luận văn.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu văn hóa Khmer nói chung và văn hóa Khmer ở tỉnh Trà Vinh
nói riêng không thể tách rời quá trình lịch sử phát triển của các ngành khoa học
nghiên cứu văn hóa các dân tộc ít người Việt Nam.
Trước năm 1975, diện mạo văn hóa Khmer được nhiều nhà nghiên cứu
người Pháp quan tâm, nhưng họ chủ yếu nghiên cứu và đề cập từng khía cạnh
riêng biệt như lịch sử, mỹ thuật và kiến trúc chùa, nghi lễ tôn giáo, sinh hoạt dân
gian, thơ ca dân gian.
Sau năm 1975, việc nghiên cứu về văn hóa của người Khmer liên tục được
chú trọng và đạt nhiều kết quả đáng quan tâm, trong đó phải kể đến các các tác
phẩm như:
+ Cuốn "Phong tục lễ nghi của người Khmer vùng đồng bằng sông
Cửu Long" của Thạch Voi, Hoàng Túc, NXB tổng hợp Hậu Giang 1988, giới
thiệu những phong tục, nghi lễ của người Khmer đồng bằng sông Cửu Long trong
đó có các lễ thức của nghi lễ vòng đời người.
+ Cuốn "Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long" do
nghiên cứu về văn hóa Khmer nói chung. Tuy nhiên việc nghiên cứu đều trải trên
một phạm vi rộng (ít nhất là toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, hay cả vùng
Khmer Nam bộ), do vậy chưa làm rõ được những sắc thái phong phú, đa dạng của
văn hóa Khmer ở một địa phương cụ thể, đặc biệt là tỉnh Trà Vinh. Mặc dù vậy,
những công trình này đã tạo phông văn hóa chung để tôi làm rõ đời sống văn hóa
của người Khmer ở Trà Vinh.
Gần đây công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa Khmer ở Trà Vinh đã được
đẩy mạnh. Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
7
+ Cuốn "Phong trào yêu nước của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh (1930
- 2010)" do Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh biên soạn, NXB Chính trị quốc
gia - Sự thật 2015. Nội dung cuốn sách tập trung làm nổi bật tinh thần yêu nước,
ý chí cách mạng, những hy sinh mất mát, những thắng lợi vẽ vang của đồng bào
Khmer, còn về một số đặc điểm văn hóa của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh cuốn
sách chỉ khái quát về tín ngưỡng, tôn giáo và mốt số lễ hội tiêu biểu.
+ Cuốn " Địa phương chí tỉnh Trà Vinh" Nhiều tác giả, do Sở văn hóa
thông tin tỉnh Trà Vinh xuất bản.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về văn hóa của người Khmer Trà Vinh
đăng trên các báo, tạp chí.
Những công trình nghiên cứu trên không những có thái độ rất trân trọng
đối với truyền thống văn hóa, mà còn là sự tổng kết, kê thừa những thành tựu
nghiên cứu khoa học trong nước về văn hóa các dân tộc thiểu số, tiếp tục nghiên
cứu, trình bày có hệ thống những đặc điểm của văn hóa và đời sống văn hóa của
người Khmer từ truyền thống đến hiện đại.
Như vậy, các tác phẩm phần lớn cũng đã giới thiệu về đời sống văn hóa
tinh thần của người Khmer. Do vậy, tôi sẽ tiếp tục bổ sung những thành quả
nghiên cứu trên đây, các công trình nghiên cứu đó sẽ là những gợi mở hết sức
quan trọng để tôi tiến hành nghiên cứu về đời sống văn hóa tinh thần của người
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trà Vinh là địa bàn cư trú của cộng đồng dân cư các dân tộc Kinh - Khmer
- Hoa, song đồng bào Khmer chiếm 31,62% dân số, là một dân tộc có nền văn
hóa phong phú, đa dạng và phát triển lâu đời. Do đó, luận văn này chỉ tập trung
tìm hiểu "Đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992
đến nay"
9
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Giới hạn về không gian: Luận văn nghiên cứu đời sống văn hóa tinh
thần của người Khmer ở Trà Vinh, bao gồm thành phố Trà Vinh và 7 huyện
(Duyên Hải, Càng Long, Châu Thành, Cầu Kè, Cầu Ngang, Trà Cú, Tiểu Cần).
4.2.2. Giới hạn về thời gian: Luận văn nghiên cứu đời sống văn hóa tinh
thần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay. Mốc bắt đầu - năm 1992
là mốc tái thành lập tỉnh Trà Vinh và mốc kết thúc là đến nay nhằm làm rõ diện
mạo đời sống tinh thần của người Khmer trong điều kiện mới.
4.2.3. Giới hạn về vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các
lĩnh vực chủ yếu của đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh:
Phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách khái quát về đời sống văn hóa
tinh thần của người Khmer ở Trà Vinh từ năm 1992 đến nay, khẳng định những
giá trị văn hóa trong quá trình vận động, biến đổi và tác động của nó đến sự phát
triển kinh tế, xã hội của dân tộc Khmer.
Với công trình nghiên cứu còn rất khiếm tốn của mình, tôi hy vọng góp
phần nhỏ bé vào việc tuyên truyền, giới thiệu, giáo dục cho các dân tộc, trước hết
là dân tộc Khmer hiểu và ý thức về giá trị văn hóa truyền thống của mình. Các em
học sinh trung học phổ thông ở Trà Vinh là đối tượng đầu tiên mà tôi hướng tới,
có ranh giới là sông Hậu, dài gần 60km, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, phía đông
và đông nam giáp Biển Đông, bờ biển dài 65km, với cửa Định An (sông Hậu) và
cửa Cung Hầu (sông Cổ Chiên), nằm trên địa bàn 3 huyện Cầu Ngang, Châu
Thành và Duyên Hải.[4,tr.11]
Tỉnh Trà Vinh có địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao
trên dưới 1m so với mực nước biển. Địa hình tỉnh Trà Vinh khá phức tạp do sự
chia cắt của các giồng cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt. Nhiều vùng
trũng xen kẽ với giồng cát cao, chiều hướng của độ dốc chỉ được thể hiện trên các
cánh đồng. Phần phía nam là vùng đất thấp, bị chia cắt bởi các giồng cát hình
cánh cung, nhiều nơi chỉ có độ cao từ 0,5m đến 0,8m so với mực nước biển. Do
đó, những nơi này thường bị ngập mặn từ 3 đến 5 tháng/năm.
Về điều kiện tự nhiên
Tỉnh Trà Vinh có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phong phú,
đa dạng như: khí hậu, đất đai, sông rạch, động, thực vật, thủy, hải sản...
12
Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những
thuận lợi chung như: nhiệt độ cao và ổn định. Tuy nhiên cũng có một số hạn chế
về mặt khí tượng như: gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít. Nhiệt độ trung bình
của tỉnh Trà Vinh từ 250 đến 270C. Vào mùa mưa, nhiệt độ cao nhất khoảng 32 0C
và thấp nhất khoảng 210C, Vào mùa khô, nhiệt độ cao nhất khoảng 33 - 340C và
thấp nhất khoảng 23 - 240C. Độ ẩm của tỉnh vào mùa khô khoảng 78 – 860 và mùa
mưa khoảng 86 – 880. Tổng lượng mưa từ trung bình đến thấp (1.500 – 1.627mm)
và phân bố không ổn định. Lượng mưa giảm dần từ Bắc xuống Nam, cao nhất là
huyện Càng Long và thành phố Trà Vinh, thấp nhất là huyện Cầu Ngang và huyện
Duyên Hải. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Càng về phía biển, thời
gian mưa càng ngắn dần tức là mùa mưa bắt đầu muộn nhưng kết thúc sớm.
Thường có những đợt nắng gay gắt liên tiếp từ 5 đến 10 ngày gây ra hạn làm cho
sản xuất gặp khó khăn. Nhìn chung, khí hậu của tỉnh Trà Vinh tương đối ôn hòa,
nâu đục. Với hệ thống sông rạch chằng chịt, đất đai khá màu mỡ và khí hậu ôn
hòa, tỉnh Trà Vinh có hệ động, thực vật vô cùng đa dạng, là địa bàn sinh trưởng
của nhiều loài, giống khác nhau.
Về phía đồng bằng, trên những con giồng cát và đồng bằng xưa kia là rừng
dày, rừng rậm. Dấu vết sót lại ngày nay là là những cây cổ thụ ở khu vực Ao Bà
Om (thành phố Trà Vinh). Các loại gỗ quý hiện nay vẫn còn khá nhiều như: sao,
dầu... Đây cũng là nơi cư ngụ của nhiều loại động vật như: trâu, bò, dê, sóc, chim
cò...Vì thế, Trà Vinh có nhiều vườn chim thiên nhiên độc đáo như: chùa Giồng
Lớn ( huyện Trà Cú), chùa Hang (huyện Châu Thành)...
Về phía ven biển là hệ thống rừng ngập mặn với các loại cây bần, sú...
thuộc các huyện Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú, Châu Thành. Diện tích rừng và
đất rừng ven biển khoảng 24.000ha. Các loại thuỷ, hải sản ven biển cũng khá
phong phú với khoảng 40 họ, 78 giống và 150 loài, bao gồm cá biển ven bờ, cá
nước lợ, và cá di trú. [4,tr.16]
14
Sự phong phú và đa dạng về động, thực vật đã cung cấp cho tỉnh Trà Vinh
nhiều tài nguyên thiên nhiên, là tiềm năng, lợi thế phục vụ cho việc khai thác và
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân.
Về dân cư
Theo thống kê, dân số tỉnh Trà Vinh là trên 1.027.012 người. Trong đó, có
854.808 người (chiếm 83,19% dân số) sống ở khu vực nông thôn, 172.707 người
(chiếm 16,81% dân số) sống ở khu vực thành thị (thành phố và các thị trấn).
[4,tr.19]
Người Kinh có tỷ lệ cao nhất của tỉnh với 694.261 người, chiếm 67,57%
dân số của tỉnh, cư trú ở khắp các địa bàn trong tỉnh nhưng tập trung nhiều nhất ở
thành phố Trà Vinh, các thị trấn. Ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ.
Trà Vinh có đông đồng bào Khmer với 324.877 người, chiếm 31,62% dân
Ngày 27-6-1951, Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ (thuộc chính
quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa), sáp nhập hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh
thành tỉnh Vĩnh Trà, huyện Tiểu Cần được sáp nhập vào huyện Càng Long. Tỉnh
Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh
Bình theo sắc lệnh số 143/NV, ngày 22 tháng 10 năm 1956. Tuy nhiên, Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam cùng với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
không công nhận tên gọi này mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh.[4,tr.17]
Tỉnh Trà Vinh sáp nhập với tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh Cửu Long vào tháng
2 năm 1976. Đến ngày 26 tháng 12 năm 1991, theo Nghị quyết của Quốc hội
khóa VIII, Kỳ họp thứ 10, tỉnh Cửu Long lại được tách thành hai tỉnh như cũ là
Vĩnh Long và Trà Vinh. Như vậy, tỉnh Trà Vinh được tái lập và chính thức đi vào
hoạt động từ tháng 5 năm 1992. [4,tr.17]
16
Tỉnh Trà Vinh hiện nay có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thị xã và thành
phố, 106 xã, phường, thị trấn, bao gồm: Thành phố Trà Vinh, Thị xã Duyên Hải,
huyện Càng Long, huyện Châu Thành, huyện Cầu Kè, huyện Cầu Ngang, huyện
Duyên Hải, huyện Trà Cú, huyện Tiểu Cần.
1.1.3. Khái quát kinh tế - xã hội Trà Vinh
Về kinh tế
Trà Vinh khi mới tái lập là một trong những tỉnh nghèo, xuất phát điểm về
kinh tế - xã hội rất thấp, nhưng với chủ trương đúng đắn, toàn diện của Đảng bộ
tỉnh Trà Vinh, đã từng bước đưa Trà Vinh phát triển cùng với các tỉnh, thành trong
khu vực và cả nước.
Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển, việc chuyển dịch cơ cấu cây
trồng, vật nuôi có tiến bộ, sản xuất lúa được tập trung thực hiện ngay từ đầu, xây
trường ao nuôi, tăng cường công tác khuyến ngư, khuyến khích các đơn vị và hộ
gia đình sản xuất tôm giống và đưa trại tôm giống liên doanh vào hoạt động nhằm
cung cấp con giống tại chỗ, hạn chế nhập tôm giống ngoài tỉnh.
Ở vùng nước ngọt, phong trào nuôi tôm cá tự nhiên và nuôi tôm càng trên
đất ruộng lúa cũng được phát triển với nhiều mô hình nuôi tôm – lúa, cá – lúa đạt
giá trị kinh tế cao.
Tính đến năm 2016 giá trị sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản là 32.849
tỷ đồng, tăng gấp 43,71 lần so với năm 1992 và tăng 7 lần so với năm 2006. Giá
trị sản phẩm thu được trên diện tích đất trồng trọt từ 4,5 triệu đồng/ha năm 1992
tăng lên 35 triệu đồng năm 2006 và 110 triệu đồng/ha năm 2016. [28]
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tỉnh đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển công nghiệp chế biến, nhiều xí
nghiệp mới được xây dựng ở tỉnh và huyện. Cơ cấu ngành công nghiệp chuyển
biến theo hướng phát triển công nghiệp chế biến nông – ngư sản, sản xuất hàng
18
tiêu dùng, cơ khí sửa chữa, khôi phục, phát triển nghề thủ công truyền thống, xuất
hiện nhiều mô hình làng nghề ở thị xã và nông thôn.
Sản xuất công nghiệp của tỉnh hiện nay phát triển vượt bậc trở thành một
trong những ngành kinh tế chủ chốt của tỉnh.
Giá trị sản xuất năm 1992 chỉ đạt 270 tỷ đồng, đến năm 2006 đạt 2320 tỷ
đồng và đế 2016 đạt 21.190 tỷ đồng, tăng 78 lần so với năm 1992.
Toàn tỉnh có 01 khu kinh tế, 03 khu công nghiệp đã được phê duyệt, trong
đó có Khu Công nghiệp Long Đức đã đi vào hoạt động. Tổng số dự án đăng ký
trong khu kinh tế, khu công nghiệp là 48 dự án, với tổng số vốn đăng ký là
151.035,41 tỷ đồng. [28]
Thương mại – dịch vụ
Trên cơ sở nắm vững đường lối đổi mới, trước mắt là đổi mới tư duy kinh
tế, nắm vững các quan điểm về kinh tế thị trường của Trung ương, Đảng bộ cùng
Kinh tế hợp tác và hợp tác xã được quan tâm chỉ đạo, hiện toàn tỉnh có 91
hợp tác xã với 31.841 thành viên tham gia, với tổng số vốn điều lệ 112.049 triệu
đồng. Các hợp tác xã được chuyển đổi hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2012,
các tổ hợp tác hoạt động theo Nghị định 57 của Chính phủ. Loại hình kinh tế
trang trại cũng được chú trọng, toàn tỉnh có 105 trang trại, với tổng số lao động là
850 người, tổng diện tích đất các trang trại là 450ha, doanh thu bình quân 2,5 tỷ
đồng/trang trại/năm. [28]
Về xã hội
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học
đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Năm học 2016 – 2017, toàn
tỉnh có trên 230.000 học sinh (so với khi mới tách tỉnh số học sinh tăng trên
100.000 em, so năm 2006 tăng 44.000 em). Tỷ lệ trẻ em đi học trong độ tuổi bậc
Tiểu học đạt 99,9%, bậc Trung học cơ sở đạt 98,5%, Trung học phổ thông đạt
70%. Đội ngũ giáo từng bước được bổ sung về số lượng và nâng dần chất lượng,
20
có trên 99% giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn [28]. Cơ sở vật chất phục vụ dạy
và học được đầu tư thêm. Chất lượng giáo dục và đào tạo không ngừng được
củng cố và nâng dần.
Các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp được củng cố, phát triển. Thành lập
Trường Đại học Trà Vinh, Trường Cao đẳng Y tế, Trường Trung cấp Văn hóa –
Nghệ thuật, Trường Cao đẳng nghề, Trung tâm Tin học – Ngoại ngữ, xây dựng
Trung tâm học tập cộng đồng ở 100% xã, phường, thị trấn. Xã hội hóa giáo dục
phát triển trên các lĩnh vực đầu tư xây dựng, trường lớp, xây dựng gia đình hiếu
học...
Khoa học công nghệ được chú trong đầu tư. Quan tâm đào tạo nguồn nhân
lực, ứng dụng khoa học công nghệ. Đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật, cán bộ
quản lý phát triển khá, hiện có trên 18.685 cán bộ, công chức, viên chức có trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ từ cao đẳng trở lên, tăng gấp 10 lần so với năm 1992.
vị nhận phụng dưỡng suốt đời. [28].
Như vậy, kinh tế phát triển nhanh, quy mô kinh tế tăng lên gấp nhiều lần so
với lúc mới tái lập tỉnh, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, kết cấu hạ tầng được
xây dựng làm tăng tiềm lực và tạo điều kiện phát triển nhanh hơn, đời sống của
nhân dân tiếp tục cải thiện.
1.2. Khái quát đời sống kinh tế - xã hội của người Khmer ở Trà Vinh
1.2.1 Về kinh tế
Cũng giống như người Khmer ở Nam bộ nói chung, người Khmer ở Trà
Vinh nói riêng từ xưa, đã biết trồng lúa nước và có nhiều kinh nhiệm trong việc
canh tác lúa nước cũng như đánh bắt cá và chăn nuôi. Họ đã biết phân biệt nhiều
loại ruộng đất gieo và trồng các giống lúa, để có các biện pháp kĩ thuật thích hợp
cho từng loại đất. Người Khmer có nhiều sáng kiến tạo ra các biện pháp thủy lợi
thích hợp cho địa thế ruộng đất nơi mình cư trú. Ở vùng đất gò hay vùng đất cao
gần giồng cát, việc lợi dụng nước mưa để làm ruộng và dùng thùng gánh hay gầu
22
giai, gầu sòng kéo nước lên. Đồng bào còn lợi dụng đường nước để dẫn vào dự
trữ nước, khi cần thì tát vào ruộng. Ở những vùng gần sông, rạch và bị nhiễm
mặn, phèn, đồng bào còn lợi dụng thủy triều để đưa nước vào ruộng, rồi đắp
những đập nhỏ để giữ nước xổ phèn, giữ phù sa lại hoặc tập trung đào các ao lớn
ở các vùng đất giồng, đất cao để lấy nước như: Ao Bà Om (phường 8, thành phố
Trà Vinh), Bào Dài (xã Nhị Trường, huyện Cầu Ngang). Đồng thời, bà con cũng
biết chế tác nhiều công cụ hết sức đa dạng để phục vụ sản xuất nông nghiệp như:
cây nọc để cấy lúa ở những nơi đất cứng, cây vòng hái để cắt lúa. Đặc biệt, trong
khâu làm đất, bà con đã hình thành nên các loại dụng cụ thích hợp như, cái cày có
chuôi cầm, lưỡi hình tam giác. Đồng bào Khmer cũng đã biết cách chọn giống lúa
sao cho phù hợp với từng loại ruộng, không sợ bị úng, bị hạn mà lại cho năng suất
cao.
Ngày nay, sản xuất nông nghiệp trong vùng đồng bào Khmer tiếp tục phát
trong mối quan hệ thân tộc, hôn nhân và gia đình mà trước hết là dòng họ và mối
quan hệ thân tộc trong dòng họ.
Về tên họ và quan hệ dòng họ, trước khi nhà Nguyễn thiết lập bộ máy hành
chính ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer ở đây không có họ, họ
thường lấy tên cha đặt làm tên họ còn tên riêng thì thường dùng những chữ tốt
đẹp. Sau khi nhà Nguyễn thiết lập bộ máy hành chính, để tiện cho việc kiểm tra
hộ khẩu, quản lý cư dân, nhà Nguyễn buộc người Khmer phải mang một trong
năm họ: Thạch, Lâm, Sơn, Kim, Danh [6,tr.59] . Con cái sinh ra, người Khmer
thường đặt tên họ cho con theo họ của cha. Nhưng trong quan hệ xã hội truyền
thống của người Khmer thể hiện rõ trong quan hệ dòng họ, hôn nhân và gia đình
thì tên họ chỉ đơn thuần là một hình thức pháp lý, không có ý nghĩa nào trong
việc hình thành một tộc họ theo phụ hệ như người Kinh, người Hoa, cũng như
một tộc họ theo mẫu hệ như người Chăm. [6,tr.62]
24
Quan hệ hôn nhân thường xảy ra trong cùng phum sóc, người Khmer tuyệt
đối ngăn cấm quan hệ hôn nhân giữa những người bà con huyết thống trực hệ như
cha mẹ với con cái, ông bà với cháu ruột, cô, dì, chú, bác với cháu, giữa các anh
chị em ruột thịt. Nhưng ở quan hệ hôn nhân giữa các anh, em họ chéo (con cô,
con cậu) lẫn anh em họ song song (con chú bác, con dì) đều được chấp nhận.
Trong xã hội người Khmer, hôn nhân một vợ một chồng là chủ yếu. Đặc
biệt, vị trí và quyền hạn của người vợ được coi ngang bằng với người chồng.
Quan hệ hôn nhân thường xảy ra trong cùng phum sóc hoặc ở nơi lân cận. Trong
các vùng cư trú đa dân tộc các cuộc hôn nhân Kinh – Khmer hoặc Hoa – Khmer
diễn ra khá phổ biến. Trong quan niệm thân tộc người Khmer tính luôn những
người quan hệ huyết thống trong đó cả những người có quan hệ hôn nhân.
Ở nông thôn Trà Vinh, các gia đình Khmer thường cư ngụ trong các căn
nhà riêng biệt, trong đó gồm có vợ chồng và con cái, có cơ sở kinh tế riêng (ruộng