Phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam (1945 1954), lớp 12 THPT(chương trình chuẩn) - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN MINH

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 – 1954),
LỚP 12 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TRÀ VINH – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN MINH

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945 – 1954),
LỚP 12 THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

Chuyên ngành: LL và PPDH Lịch Sử
Mã số : 60140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình

TRÀ VINH – 2017



BHLS

Bài học lịch sử

2

DHLS

Dạy học lịch sử

3

GV

Giáo viên

4

HS

Học sinh

5

KN

Kĩ năng

6


SGK

Sách giáo khoa

12

THPT

Trung học phổ thông

13

GQVĐ

Giải quyết vấn đề

14

TD

Thực dân

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Biểu đồ Tổng hợp ý kiến của GV về lựa chọn phương pháp trong một bài
lịch sử.
Biểu 1.2: Biểu đồ Tổng hợp ý kiến của HS về việc sử dụng các biện pháp dạy học nhằm
phát triển năng lực hợp tác cho HS.

2


3


CHƯƠNG 2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1945-1954), lớp 12 THPT
(chương trình chuẩn)
2.1. Vị trí, mục tiêu và nội dung của Lịch sử Việt Nam (1945-1954) THPT – Chương
trình chuẩn
2.1.1. Vị trí, mục tiêu của Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954
2.1.2. Nội dung cơ bản lịch sử Việt Nam 1945-1954 (THPT- Chương trình chuẩn)
2.2. Xác định hệ thống kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam (1945-1954) cần khai thác
để phát triển năng lực hợp tác cho học sinh
2.3. Những yêu cầu sư phạm khi xác định các biện pháp phát triển NLHT cho học sinh
trong dạy học Lịch sử Việt Nam 1945-1954 ở trường THPT
2.4. Một số biện pháp phát triển NLHT cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam
1945-1954 ở trường THPT (Chương trình chuẩn)
2.4.1. Trong bài nội khóa
2.4.1.1. Tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm
2.4.1.2. Tổ chức cho học sinh theo dự án
2.4.1.3. Tổ chức học sinh học tập theo chủ đề
2.4.1.4 .Kỹ thuật động não
2.4.2. Trong hoạt động ngoại khóa
2.4.2.1. Tổ chức hướng dẫn viên du lịch giới thiệu lễ hội cúng trăng của người khmer
Nam Bộ(Ok-om-bok).
2.4.2.2 Kể chuyện Lịch sử .
2.5. Thực nghiệm sư phạm
2.5.1. Mục đích thực nghiệm
2.5.2. Đối tượng thực nghiệm
2.5.3. Nội dung thực nghiệm
2.5.4. Phương pháp tiến hành thực nghiệm

loại chung sống và phát triển.
Trong dạy học lịch sử, NLHT là những hành động, kỹ thuật, thái độ học tập được
thực hiện một cách đúng đắn, linh hoạt, mềm dẻo, có hiệu quả trên cơ sở vận dụng những
tri thức, kinh nghiệm học tập hợp tác với giáo viên và bạn học trong môi trường nhóm
nhằm thực hiện mục tiêu học tập Lịch sử. Dạy học phát triển NLHT sẽ góp phần giúp học
sinh biết đoàn kết, chia sẻ cùng giải quyết các nhiệm vụ học tập cũng như các vấn đề xảy
ra trong cuộc sống.
Nhưng trên thực tế việc đổi mới PPDH, kiểm tra, đánh giá của bộ môn Lịch sử ở
trường THPT vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao, chưa chú trọng nhiều đến việc

5


phát triển các năng lực nói chung và NLHT nói riêng cho học sinh. Dạy học vẫn nặng về
truyền thụ kiến thức, lý thuyết. Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng họp tác, kĩ năng
giao tiếp trong các tình huống thực tiễn chưa thực sự được quan tâm. Một trong những
PPDH có ưu thế trong việc phát triển NLHT cho học sinh là dạy học theo nhóm chưa
được thực hiện có hiệu quả: hoạt động nhóm mang tính hình thức, các kĩ thuật dạy học
tích cực chưa được áp dụng, phương pháp làm việc nhóm chưa phát huy được tinh thần
đồng đội, trí óc tập thể... Có thể kết luận rằng, việc phát triển NLHT cho học sinh trong
dạy học môn Lịch sử chưa được nhiều giáo viên quan tâm và việc dạy học theo hướng
phát triển năng lực học sinh cũng còn khá mới mẻ đối với giáo viên và học sinh.
Trong chương trình lịch sử lớp 12 THPT- Chương trình chuẩn, lịch sử Việt Nam
giai đọan 1945-1954, là giai đoạn tiếp nối và là giai đoạn kết thúc cuộc kháng chiến
chống thực dân pháp được thể hiện như sau. Sau khi tuyên bố độc lập ngày 2-9-1945,
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, rất nhiều khó
khăn đặt ra cho nhân dân ta lúc bấy giờ. Đó là: kẻ thù trên đất nước còn rất đông, khó
khăn do chính quyền cách mạng vừa mới ra đời còn non trẻ, khó khăn do chế độ cũ để lại
với 90% dân số mù chữ, nạn đói tràn lan và nguồn tài chính quốc gia cạn kiệt…. Đảng ta,
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn thể nhân dân ra sức củng cố chính

hình thành và phát triển NLHT cho người học, để tạo ra một nguồn lực mới thích ứng với
thời đại.
Đến thế kỷ XVII, Jan Amôt Komenxki tin rằng, học sinh sẽ học tốt từ việc dạy cho
bạn bè và học từ bạn bè của mình… Từ thế kỷ XVIII, lý thuyết về học tập hợp tác đã
được thực hiện khá phổ biến ở các nước tư bản. Các nhà giáo dục tiên tiến đều đã nói đến
lợi ích của việc học tập hợp tác, học sinh học với nhau, giúp đỡ lẫn nhau, từ đó tạo ra một
môi trường học tập thuận lợi.
Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilin cho rằng, người học sẽ có rất lợi
nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu. Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ
XIV, Reveren Bebel và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức dạy học cho nhóm nhỏ,
họ chia học sinh thành từng nhóm để hoạt động. Thông qua hoạt động nhóm, người học
cùng nhau trao đổi, chia sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu hút được kết quả
học tập tốt.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, John Dewey nhà giáo dục Mỹ cùng với các cộng sự,
trong cuốn sách có tựa đề: “ Dân chủ và giáo dục”, ông đã tìm ra và thực thi tư tưởng đề
cao khía cạnh xã hội của việc học và vai trò cả nhà giáo dục trong việc giáo dục học sinh
một cuộc sống dân chủ. Dewey cho rằng: Con người có bản chất sống hợp tác, trẻ cần
được dạy biết thông cảm, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải
quyết vấn đề theo lẽ phải và phải được trãi nghiệm quá trình sống hợp tác trong nhà

7


trường. Cuộc sống trong lớp học cần được thể hiện quá trình dân chủ hóa trong một thế
giới vi mô mà trung tâm của cuộc sống dân chủ ở đây là sự hợp tác giữa các thành viên
trong nhóm. Theo ông sự hợp tác của người học cần phải tuân theo hai nguyên tắc, đó là
đảm bảo sự liên tục và tác động qua lại. Ông đã tuyên bố, giáo dục là cuộc đời, chứ
không phải là nơi chuẩn bị vào đời.
Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà tâm lý học xã hội Kurt Lewin đã nghiên
cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ. Ông Nhấn mạnh

Trần Long) cho rằng, trong ba vai trò của giáo viên đứng lớp: lựa chọn biên pháp giảng
dạy, thiết kế chương trình giảng dạy và áp dụng các biên pháp quản lý lớp học hiệu quả
thì quản lý lợp học là nền tảng. Giáo viên phải tổ chức được các hoạt động để phát huy
tính tích cực, tự giác và chủ động giúp học sinh “tư duy qua từng bước” để rèn kỹ năng
xã hội và giải quyết vấn đề, trong đó nhấn mạnh phương pháp học theo nhóm.
2.2 Các nghiên cứu trong nước.
Tư tưởng học tập hợp tác ở nước ta đã có từ rất lâu đời, trong ca dao tục ngữ có câu
“một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” hoặc chuyện “Bó
đũa”,… điều này cho thấy lợi ích của việc hợp tác trong học vô cùng cần thiết . Những
năm gần đây, với xu thế đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh,
cùng với trào lưu hội nhập quốc tế, các nhà nghiên cứu thấy rằng cần tổ chức cho học
sinh hoạt động học tập theo nhóm nhằm phát triển NLHT cho học sinh.
- Những tài liệu giáo dục học, tâm lý học.
Các nhà tâm lý học nói chung cũng như người dạy học lịch sử nói riêng bao giờ cũng
quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích cực, độc lập và phát triển kỹ năng cho học sinh.
Trong cuốn “Giáo dục học” tập 1 của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (Nxb GD, Hà Nội,
1987) và cuốn “Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” nhà xuất bản giáo dục
(1998) của Thái Duy Tiên đã đề cập tới những vấn đề chung của lý luận dạy học hiện đại
từ cơ sở triết học của giáo dục đến các đối tượng, mô hình của giáo dục… tác giả đã cung
cấp cái nhìn toàn diện hơn về lý luận dạy học hiện đại, đặc biệt là việc phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Tác giả Thái Duy Tuyên (2008) trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và
đổi mới” đã đi sâu nghiên cứu dạy học hợp tác nhóm và xem đây là một trong những
phương pháp dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Ông đã
chỉ rõ khái niệm, tầm quan trọng của dạy học hợp tác, những ưu nhược điểm của học tập
hợp tác, những tính chất cơ bản của sự hợp tác trong học tập. Theo ông, kỹ năng học tập
hợp tác là một loại kỹ năng quan trọng đối với con người cũng như đối với học sinh, bởi
vì hầu hết các mối quan hệ của con người đều là hợp tác. Mỗi kỹ năng liên quan đến con
người đều được coi là kỹ năng hợp tác.
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang (2015) trong “Tâm

LS ở trường THPT. Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề phát triển năng
lực hợp tác cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1945-1954), nên chúng tôi đi
sâu nghiên cứu vấn đề này, với mong muốn sẽ là nguồn tài liệu cho giáo viên trong quá
trình nghiên cứu giảng dạy bộ môn Lịch sử.
Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy trong cộng đồng hợp tác là đều
hết sức cần thiết, trong học tập việc tập hợp nhóm giữa học sinh với học sinh để phát

10


triển các mối quan hệ hợp tác giữa con người với con người, vừa là mục tiêu vừa là điều
kiện, vừa là môi trường của dạy học có hiệu quả.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng: Quá trình dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường THPT và các biện pháp phát
triển NLHT cho học sinh trong DHLS.
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung đi sâu vào biện pháp góp phần phát triển NLHT
cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến năm 1954 – Chương trình
chuẩn.
- Phạm vi điều tra: Do thời gian thực hiện đề tài không cho phép, nên việc điều tra chỉ
diễn ra ở một số trường THPT trong tỉnh Trà Vinh. Chúng tôi chỉ tiến hành thực nghiệm
sư phạm một số bài 17, 18, 19 , 20, ở lớp 12 chương 3.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của của đề tài.
-Mục đích nghiên cứu:
- Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận của việc phát triển năng lực
và hợp tác trong môn lịch sử, để thấy được ý nghĩa của nó đối với việc học tập bộ môn.
Đề tài xác định một số biện pháp có tác dụng nâng cao NLHT cho học sinh, góp phần
phát triển năng lực nhận thức, cùng nhau giải quyết các vấn đề để đạt được mục đích học
tập. Nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là:
- Tìm hiểu lý luận của các nhà triết học, các nhà giáo dục học và các tài liệu có liên

phát triển NLHT nói riêng ở trường THPT.
- Đề xuất một số biện pháp để phát triển NLHT cho học sinh góp phần nâng cao hiệu quả
bài học lịch sử ở trường THPT khi dạy học phần lịch sử Việt Nam (1945 - 1954) .
Ý nghĩa thực tiễn:
- Kết quả nghiên cứu giúp GV môn LS ở trường THPT vận dụng vào thực tiễn dạy học
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn. Đồng thời vận dụng tốt hơn vào thực
tiễn giảng dạy sau này.
- Giúp các giáo viên có tài liệu tham khảo để sử dụng trong dạy học nói chung và dạy
học lịch sử Việt Nam giai đoạn (1945-1954) nói riêng.
7. Đóng góp của luận văn:
- Góp phần làm phong phú hơn lý luận dạy học bộ môn lịch sử nói chung, phát triển năng
lực cho học sinh nói riêng trong quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT. Qua đó góp
phần nâng cao chất lượng bộ môn.
8. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực hợp tác cho học sinh
trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

12


Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam (1945 - 1954) , lớp 12 THPT (chương trình chuẩn).

13


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

14


Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thề của Bộ giáo dục công bố (ngày
12/04/2017) có đề cập đến:10 năng lực cốt lõi (những năng lực mà ai cũng cần có để
sống và làm việc trong xã hội hiện đại), bao gồm năng lực chung được tất cả các môn học
và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển ba năng lực cốt lõi bản sau: năng
lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng
tạo. Từ đó chúng ta khẳng định rằng năng lực hợp tác là một trong ba năng lực cốt lõi
nhất để phát triển cho học sinh trong quá trình dạy học ở trường trung học phổ thông.
Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên chúng tôi định nghĩa
như sau: Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất
định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như
hứng thú, niềm tin, ý chí… NL của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng
hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Như vậy, năng lực
không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một
lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán
học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động
giảng dạy... NL của HS là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm
chứa trong nó không chỉ là kiến thức, KN mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội…
thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và
những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.
Xác định các năng lực chuyên biệt trong môn lịch sử.
Có nhiều quan niệm khác nhau trong việc xây dựng chuẩn các kĩ năng chuyên
biệt trong dạy học từng môn học ở trường phổ thông như: Xây dựng các năng lực chuyên
biệt từ những năng lực chung (năng lực cốt lõi); xây dựng các năng lực chuyên biệt từ
đặc thù kiến thức của bộ môn…
Ở cách tiếp cận thứ nhất, chúng ta xác định các năng lực chung mà toàn bộ quá
trình giáo dục ở trường phổ thông đều phải hướng tới để hình thành cho người học. Sau
đó, từng môn học cụ thể sẽ xác định sự thể hiện cụ thể của các năng lực chung vào trong

- Kĩ năng kết hợp đọc sách giáo khoa với nghe
giảng với tự ghi chép.
- Khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi
- Khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn tập, củng
cố kiến thức

2.

Năng lực giải quyết vấn - Kĩ năng nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch
đề

sử.
- Khả năng vận dụng kiến thức lịch sử để làm bài
tập lịch sử.
- Kĩ năng đưa ra được cách thức câu trả lời cho
các câu hỏi đã đặt ra.
- Kĩ năng lựa chọn được các cách thức giải quyết
vấn đề lịch sử, vấn đề, tình huống thực tiễn một
cách tối ưu.
- Kĩ năng trình bày diễn diến cuộc kháng chiến,

16


trận đánh, chiến dịch, cuộc chiến tranh trên lược
đồ, sơ đồ, bản đồ lịch sử.
- Kĩ năng vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết
những vấn đề thực tiễn của cuộc sống, hay các
vấn đề thời sự đang diễn ra trong nước và thế
giới.


Năng lực hợp tác, hội - Kĩ năng làm việc theo nhóm, tập thể để giải
nhập

quyết một nhiệm vụ học tập.
- Kĩ năng chia sẻ thông tin lịch sử

17


III. Nhóm năng lực công cụ
Năng lực sử dụng côn - Kĩ năng khai thác internet (thông tin tư liệu,

6.

nghệ thông tin và truyền tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu…) để tìm kiếm
thông (ICT)

nội dung kiến thức lịch sử.
- Kĩ năng sử dụng phần mềm dạy học như sơ đồ
tư duy, Powerpoint trình để trình bày nội dung
lịch sử

Năng lực sử dụng ngôn - Kĩ năng trình bày, lập luận, thể hiện chính kiến

7.

ngữ

của mình về một nội dung kiến thức lịch sử bằng

hành từ sự bắt chước đến làm quen dần từ đó hình thành những năng lực cần thiết.
1.1.1.2. Khái niệm “hợp tác”
Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người; nó
diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy “hợp tác mang bản chất sinh
học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội” [68;410].
Theo từ điển Tâm lý học (2008): Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một
nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung [61;40]
Nội hàm của “hợp tác” nghĩa là “làm việc cùng nhau” với năm dấu hiệu chủ yếu:
1) Có mục đích chung trên cơ sở mọi người cùng có lợi. 2) Công việc được phân công
phù hợp với năng lực của từng người. 3) Bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực
và thông tin, tự nguyện hoạt động. 4) Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau, trên
cơ sở trách nhiệm cá nhân cao. 5) Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ, khích lệ tinh thần tập
thể và bổ sung cho nhau.
Từ các khái niệm của các tác giả trong và ngoài nước, theo chúng tôi “Hợp tác là
quá trình tương tác xã hội, trong đó các cá nhân chung sức hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau
trong một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích chung trên cơ sở cùng có lợi”. Có 7
dấu hiệu của sự hợp tác hiệu quả. Đó là:
- Có chung mục đích, chung trách nhiệm.
- Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người.
- Chấp hành kỷ luật, tuân theo những quy định chung và theo sự chỉ đạo, hướng
dẫn của người đứng đầu.
- Một người vì mọi người, mọi người vì một người.
- Chia sẻ nguồn lực và thông tin, cùng hoàn thành nhiệm vụ.
- Khích lệ tinh thần tập thể hơn là đề cao sự ganh đua.
- Hành động nhiều hơn lời nói, nhường nhịn vì lợi ích tập thể.
“Hợp tác” là một khái niệm rộng. Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi tập trung
tìm hiểu về hợp tác trong học tập bộ môn Lịch sử của HS ở trường THPT.

19


tiêu chung của nhóm một cách nhanh nhất. 3) Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau: Các thành viên

20


trong nhóm cùng nhau chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, đoàn kết, giải quyết các mâu thuẫn ý
kiến... để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ.
Trong các yếu tố cấu thành NLHT thì kĩ năng hợp tác là yếu tố cần và quan trọng
nhất. Muốn làm tốt bất kì công việc gì, con người cũng phải có kĩ năng. Kĩ năng không
chỉ đòi hỏi con người có phải có những hiểu biết đúng đắn và các kinh nghiệm cần thiết
về đối tượng mà phải biết vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm đó để hành động đúng,
đạt kết quả cao. Con người khi sinh ra chưa có kĩ năng. Trải qua quá trình rèn luyện, kĩ
năng dần trở nên thành thục, uyển chuyển và là “tài sản” quý giá nhất của mỗi người. Vì
vậy trong luận văn này chúng tôi đi sâu vào phát triển các kĩ năng hợp tác cho học sinh,
từ việc phát triển được các kĩ năng hợp tác học sinh cũng sẽ có kiến thức và thái độ đúng
đắn trong quá trình hợp tác.
1.1.1.4. Năng lực hợp tác trong dạy học Lịch sử
Trong bộ môn Lịch sử, NLHT được coi là một trong những năng lực cốt lõi, quan
trọng cần hình thành cho HS. thông qua kiến thức Lịch sử ở trường THPT, dựa vào các
đặc điểm của tri thức Lịch sử (tính quá khứ, tính không lặp lại, tính thống nhất giữa “sử”
và “luận”...), GV tổ chức các hoạt động cụ thể giúp HS tích cực, chủ động, sáng tạo
chiếm lĩnh tri thức. Từ đó, góp phần hình thành và phát triển NLHT nói riêng và các năng
lực bộ môn nói chung cho HS.
Năng lực hợp tác trong dạy học lịch sử là kiểu dạy học bám sát với đặc trưng bộ
môn phát huy được tính chủ động tích cực của người học. Nó đem lại hiệu quả làm việc
tốt hơn so với cách dạy thông thường; đặc biệt với bài học đòi hỏi kỹ năng, sự đánh giá,
kinh nghiệm phức tạp. Nhóm hợp tác là cách tốt hơn để khai thác năng lực cá nhân vừa
làm tăng sự gắn kết các thành viên trong nhóm với nhau. Không có biện pháp nào tốt hơn
là HS được hợp tác, được học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực,
sáng tạo. Nó còn là cơ hội rèn luyện kỹ năng cho học sinh để sau này các em có thể

tạo ra sự thay đổi về chất, là biển hiện của quy luật phủ định của phủ định trong hiện thực
khách quan.
Theo chúng tôi: Phát triển NLHT là quá trình biến đổi, tăng tiến của các thuộc
tính tâm lí, các kĩ năng hợp tác của học sinh từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ chưa
hoàn thiện đến hoàn thiện, làm cho việc học tập trở nên có hiệu quả. Quá trình dạy học
có mục tiêu hình thành năng lực hoạt động cho HS trong đó phát triển NLHT là một
hướng đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế dạy học hiện đại.
Dựa vào những biểu hiện cụ thể của NLHT trong DHLS, sự phát triển NLHT của
HS trong DHLS được thể hiện ở hai điểm: 1) Sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành

22


động và kỹ thuật học tập của học sinh trong nhóm, làm cho việc học tập Lịch sử ngày
càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn. 2) Học sinh thường xuyên học tập với nhau trong giờ
học Lịch sử, có ý thức về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với
nhau, tương tác lẫn nhau, tạo ra tính tích cực, tính gắn bó trong nhiệm vụ học tập Lịch sử
nói riêng và trong cuộc sống nói chung.
Như vậy, các nhà giáo dục học và tâm lý học thế giới về NLTH chúng tôi nhận thấy:
Phát triển NLHT trong lịch sử là phải cùng phát huy, cộng hưởng để phát triển được các
kĩ năng hoạt động nhóm, xây dựng môi trường hợp tác nhóm, giải quyết bất đồng, diễn
giải, đánh giá... Phát triển NLHT trong DHLS vừa phải đảm bảo HS nắm vững được kiến
thức lịch sử, việc phát triển NLTH trong lịch sử là vô cùng cần thiết.
1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc phát triển năng lực hợp tác cho HS trong
DHLS ở trường THPT
- Mục tiêu giáo dục - đào tạo mục tiêu bộ môn Lịch sử
Mục tiêu giáo dục - đào tạo trong nhà trường phổ thông hiện nay là: “Đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề
nghiệp, trung thành. Bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng
yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [24, tr. 8].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status