Chùa trong đời sống của người khmer ở huyện trà cú, tỉnh trà vinh - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------

LÊ THỊ BẠCH TUYẾT

CHÙA TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI KHMER
Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TÌNH TRÀ VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2017

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------

LÊ THỊ BẠCH TUYẾT

CHÙA TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI KHMER
Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TÌNH TRÀ VINH

Chuyên ngành: LL & PPDH Lịch sử
Mã số: 60.22.03.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Thủy

Lê Thị Bạch Tuyết

3


MỤC LỤC
MỤC LỤC ........................................................................................................ 4
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................... 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................... 7
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 9
4. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ..................................... 9
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu ........................................ 10
6. Đóng góp của luận văn ........................................................................ 11
7. Bố cục luận văn ................................................................................... 11
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÀ CÚ VÀ HỆ THỐNG CHÙA Ở
HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH .......................................................... 13
1.1. Khái quát về huyện Trà Cú .............................................................. 13
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.............................................. 13
1.1.2. Lịch sử hình thành................................................................. 15
1.1.3. Kinh tế - xã hội ...................................................................... 18
1.1.4. Dân cư, dân tộc ..................................................................... 26
1.1.5. Truyền thống văn hóa ........................................................... 27
1.2. Hệ thống chùa ở huyện Trà Cú ........................................................ 29
1.2.1. Số lượng, phân bố ................................................................. 29
1.2.2. Lịch sử hình thành các ngôi chùa ......................................... 30
1.2.3. Đặc điểm kiến trúc ................................................................ 33
* Tiểu kết chương 1................................................................................. 39
Chương 2: VAI TRÒ CỦA CHÙA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA
NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH ......................... 41

Huyện Trà Cú là một vùng sâu của tỉnh Trà Vinh, nơi đây là địa bàn
sinh sống lâu đời của các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Trong đó, người Khmer
chiếm 2/3 dân số của huyện Trà Cú. Đồng bào Khmer nơi đây sống chân chất,
lao động cần cù. Đa số đồng bào Khmer đều theo Phật giáo Nam tông, vì vậy
ở Trà Cú có khá nhiều ngôi chùa Khmer theo phong cách Nam tông. Hiện
nay, trên địa bàn huyện Trà Cú có tổng cộng 44 ngôi chùa Nam tông Khmer
(hiện nay do tách xã nên chỉ còn 37 chùa) trên tổng số 141 ngôi chùa tại tỉnh
Trà Vinh.
Ngôi chùa của người Khmer nói chung và chùa của người Khmer ở
huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nói riêng là một trong những nét đặc sắc của
Phật giáo Nam tông vùng Tây Nam Bộ. Nó không chỉ là biểu tượng của Phật
giáo Nam tông mà còn là biểu tượng của đời sống tinh thần của người dân
Khmer. Với người Khmer, chùa là nơi thiêng liêng, nơi thờ Phật, nơi gửi gắm
niềm tin qua những việc làm hiện tại, ước mong, hi vọng ở cõi Niết bàn trong
tương lai. Ngôi chùa gắn bó với mỗi người dân Khmer gần như suốt cuộc đời,
từ lúc sinh ra, trưởng thành cho đến khi lìa xa trần thế, bởi với họ, “sống vào
chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt”. Do vậy, tìm hiểu chùa trong đời sống
của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn sâu sắc.
Về ý nghĩa khoa học, tìm hiểu chùa trong đời sống của Khmer ở huyện
Trà Cú giúp tìm hiểu vị trị và vai trò của chùa trong đời sống của người
Khmer ở huyện Trà Cú. Đồng thời, góp phần giới thiệu nét văn hóa của người
Khmer ở Nam Bộ nói chung và người Khmer ở huyện Trà Cú nói riêng.
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài thực hiện thành công góp phần bổ sung tri
thức về dân tộc Khmer và văn hóa của người Khmer, cũng như Phật giáo ở
miền Tây Nam Bộ; là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
6


lịch sử địa phương huyện Trà Vinh, vùng Tây Nam Bộ.

nhưng những trình bày về vai trò của ngôi chùa trong đời sống văn hóa của
người Khmer ở Sóc Trăng và Kiên Giang là cơ sở để luận văn có thể so sánh
và chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về vị trí của chùa trong đời
sống văn hóa của người Khmer ở Sóc Trăng, Kiên Giang và Trà Vinh.
Cuốn sách Phong tục thờ cúng tổ tiên nét đẹp văn hóa của các dân tộc
của tác giả Mã A Lềnh và Triệu Thị Phượng do Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
xuất bản năm 2007 đã trình bày phong tục, nghi lễ thờ cúng tổ tiên của các
dân tộc trong đó có phong tục, nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở
Nam Bộ. Khác với các dân tộc khác, người Khmer không thờ cúng tổ tiên tại
nhà, việc thờ cúng được thực hiện tại chùa vào dịp các lễ hội lớn trong năm,
như: Lễ Sênh đôl ta, Chol chnăm thmay.
Tác giả Phan An trong cuốn Dân tộc Khmer Nam Bộ xuất bản năm
2009 đã giới thiệu văn hóa người Khmer Nam Bộ, về Phật giáo Khmer Nam
Bộ và những ngôi chùa trong sóc Khmer. Tác giả đã miêu tả các kiến trúc
trong khuôn viên chùa, đồng thời khẳng định chùa Khmer là nơi tu hành của
các sư sải, nơi thực hiện các nghi lễ tôn giáo và các lễ hội có liên quan đến tôn
giáo của bà con người Khmer. Nội dung cuốn sách cũng đề cập đến cơ chế
quản lí xã hội truyền thống của nông thôn người Khmer Nam Bộ.
Tác giả Trần Đình Ba trong cuốn Lễ hội Việt Nam xuất bản năm 2011
khi trình bày về các lễ hội ở Việt Nam đã trình bày lễ hội của người Khmer ở
Nam Bộ.
Tác phẩm Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam xuất bản năm 2012 là
cuốn sách song ngữ Việt - Anh. Nội dung cuốn sách trình bày về bản sắc văn
hóa truyền thống độc đáo của người Khmer qua phong tục, lễ hội cũng như
những sinh hoạt cộng đồng khác. Cuốn sách còn trình bày về chùa của người
Khmer, một số ngôi chùa và lễ hội tiêu biểu...
Cuốn sách Phong trào yêu nước của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh
(1930 – 2010) xuất bản năm 2015 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh
8



Cú, tỉnh Trà Vinh và những đóng góp của chùa trong phong trào đấu tranh
cách mạng của nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể sau đây:
Một là, tìm hiểu khái quát về huyện Trà Cú và các ngôi chùa trên địa
bàn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh hiện nay.
Hai là, luận văn chỉ ra vị trí, vai trò của chùa trong đời sống của người
Khmer ở huyện Trà Cú, tình Trà Vinh.
Ba là, luận văn cũng tìm hiểu đóng góp của chùa trong phong trào đấu
tranh cách mạng của nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Tư liệu gốc: văn bia, thần tích, thần sắc, sắc phong ở các ngôi chùa ở
huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
- Tư liệu thành văn, gồm:
+ Các sách tham khảo về chùa, về văn hóa của người Khmer ở Nam
Bộ.
+ Các sách tham khảo về hệ thống chùa ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh;
về văn hóa, về đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở huyện Trà Cú,
tỉnh Trà Vinh.
+ Các bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan đến đề tài.
- Tư liệu điền dã: Nguồn tư liệu thực địa qua quá trình khảo sát thực tế
ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn sử dụng hai
10




Chương 2: Vai trò của chùa trong đời sống văn hóa của người Khmer ở
huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Chương 3: Vai trò của chùa trong phong trào đấu tranh cách mạng của
nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

12


Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÀ CÚ VÀ HỆ THỐNG CHÙA
Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
1.1. Khái quát về huyện Trà Cú
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Trà Cú là một huyện duyên hải thuộc tỉnh Trà Vinh, nằm cách Thành
phố Trà Vinh 33 km theo đường bộ, trên tuyến quốc lộ 53 và 54. Phía Bắc
giáp huyện Tiểu Cần và huyện Châu Thành; phía Nam giáp huyện Duyên
Hải; phía Đông giáp huyện Cầu Ngang và huyện Duyên Hải, phía Tây giáp
sông Hậu (tỉnh Sóc Trăng). Đây là tuyến vận tải hàng hóa qua cửa biển Định
An. Trung tâm của huyện là thị trấn Trà Cú.
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 48.951,69 ha, trong đó đất
nông nghiệp chiếm 84,51% (31.215,7 ha). Trà Cú có đất nông nghiệp thích
hợp cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, hoa màu và chăn nuôi, có
diện tích mặt nước cho phát triển nuôi trồng thủy hải sản, có cửa Định An
thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ và dịch vụ nghề cá.
Về mặt địa hình,Trà Cú mang đặc điểm địa hình rõ nét của vùng đồng
bằng ven biển, địa hình huyện có nhiều giồng cát hình cánh cung song song
với bờ biển, có cao trình trên 2 m. Cao trình bình quân phổ biến từ 0,4 m đến
0,8 m so với mặt nước biển, cao trình thâp phân bố rãi rác ở các xã Đại An,

Tài nguyên khoáng sản: Theo khảo sát lập bản đồ địa chất khoáng sản
đồng bằng Nam Bộ huyện có mỏ đất sét ở xã Phước Hưng với trữ lượng
tương đối lớn, dân đã khai thác để làm gạch, nhưng gạch thường bị vênh và
trọng lượng viên gạch nặng. Nhìn chung, sét có thành phần hóa học đạt so với
yêu cầu, nhưng lượng cát ít, trong sét có nhiều Hydro-mica nên gạch dễ bị
vênh khi nung.
Huyện Trà Cú có nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm khá phong
14


phú, trong đó nguồn nước mặt chủ yếu từ sông Hậu, rạch Trà Cú – Vàm
Buôn, rạch Tổng Long… phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt
của nhân dân.
Trong huyện không có danh lam thắng cảnh gì, chỉ có chùa Cò ở Đại
An, một công trình kiến trúc tiêu biểu của Phật giáo Nam tông và còn là nơi
trú ngụ của nhiều loại chim, cò, nên trở thành một địa điểm tham quan của
khách du lịch trong và ngoài huyện.
Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn huyện có Quốc lộ 53, Quốc
lộ 54, đường tỉnh 914, Hương lộ 25, 27, 28, 36, 12 và hàng trăm các con
đường chạy vào các khóm, ấp tạo cho nhân dân đi lại thuận tiện.
1.1.2. Lịch sử hình thành
Trà Cú là một địa danh gắn liền với dân tộc Khmer, theo các tài liệu
nghiên cứu chưa có tài liệu nào giải thích về địa danh này, nhưng theo cách
giải thích địa danh Trà Vinh dựa vào từ Preah Trapeng nghĩa là “tượng Phật
gặp trong ao. Do sự tích: không biết từ năm nào có một trận bão to, nước
sông dâng lên, đồng bào thấy một tượng Phật trôi tấp vào bờ ao, liền rước để
trên gò đất, xây ngôi chùa tại đó, đặt tên là Bodhisalareaj nay gọi là chùa
Ông Mẹt…” [1,253]. Theo Lê Hương trong Người Việt gốc Miên dưới thời
Minh Mạng vua muốn đổi các địa danh ra chữ Nho nên địa danh Preah
Trapeng lấy chữ Trapeng đổi thành Trà Văn sau đó gọi trại ra thành Trà Vinh.

cảnh chia tách, đổi tên.
Trên thực tế, trải qua các thời kỳ lịch sử địa giới hành chính huyện Trà
Cú có sự thay đổi. Vào thế kỷ thứ XVII, huyện Trà Cú thuộc đất Trà Vang,
tiền thân của tỉnh Trà Vinh nằm trong dinh Vĩnh Trấn. Lúc đó toàn Nam Kỳ
có 4 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Vĩnh Trấn, Long Hồ và 1 trấn là Hà Tiên.
Sang đầu thế kỷ thứ XIX, dinh Vĩnh Trấn đổi là Hoằng Trấn (1804), rồi
trấn Vĩnh Thành (1808), bao gồm cả đất Vĩnh Long và An Giang.
Năm 1832, Minh Mạng chia đất Nam Kỳ thành 6 tỉnh, gọi là “Nam Kỳ
lục tỉnh”, gồm: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và
16


Hà Tiên. Trà Vinh là một huyện trong phủ Lạc Hoá của tỉnh Vĩnh Long.
Khi thực dân Pháp xâm lược, chúng chia Nam kỳ lục tỉnh thành 20
tỉnh, trong đó có tỉnh Trà Vinh lập năm 1900. Trà Cú là một quận của tỉnh Trà
Vinh tồn tại cho đến sau Cách mạng tháng Tám 1945. Riêng đối với 3 tỉnh
miền Tây, còn gọi là miệt Hậu Giang, Pháp chia thành 11 tỉnh: Bạc Liêu, Bến
Tre, Cần Thơ, Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc
Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long.
Khi Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai, để tiến hành kháng chiến, theo
chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, cuối năm 1945 Nam
Bộ được chia thành 3 chiến khu: Khu 7, Khu 8 và Khu 9. Trà Vinh thuộc
Khu 8.
Tháng 5/1951, do nhu cầu của tình hình, Trung ương lại chia Nam Bộ
thành hai phân liên khu: Đông, Tây và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Hai tỉnh
Trà Vinh và Vĩnh Long sát nhập thành tỉnh Vĩnh - Trà nằm trong Liên khu
miền Tây, gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu,
Long Châu Hà tồn tại cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.
Sau hiệp định Genève, tháng 10/1954, Chính phủ Trung ương đổi phân
Liên khu miền Tây thành Liên khu Tỉnh uỷ miền Tây.

ruộng đất khác nhau và trên mỗi loại, họ canh tác những loại cây trồng
khác nhau cũng như có kỹ thuật canh tác thích hợp cho từng loại. Nói
chung, có hai loại ruộng đất chính là ruộng để canh tác lúa và rẫy để trồng
các loại hoa màu. Trên mỗi loại ruộng, người Khmer canh tác những giống
lúa thích hợp và có thời gian canh tác khác nhau, được phân biệt thành vụ
lúa sớm, vụ lúa mùa và vụ lúa muộn. Trên loại ruộng vừa canh tác hai vụ,
họ cũng quen gọi vụ hè thu hay vụ đông xuân như nông dân người Việt
trong vùng.
Nông cụ để làm đất gồm có cày, bừa, trục, cuốc, leng, xẻng… và sức
kéo chính là bò hoặc trâu. Cũng cần lưu ý là người Khmer thường nuôi bò
18


để làm sức kéo, trong khi người Kinh ở lân cận lại thích nuôi trâu hơn. Bò
cũng dùng để kéo xe và từng là phương tiện vận chuyển khá quan trọng của
người Khmer.
Trước đây, khi còn canh tác chủ yếu một vụ lúa trong năm thì người
Khmer thường canh tác các loại giống lúa mùa,. Trong hơn 10 năm gần
đây, người Khmer đã canh tác từ 2 – 3 vụ lúa và thường canh tác các giống
lúa cao sản. Kỹ thuật canh tác vì vậy cũng có những thay đổi nhất định, do
tăng vụ và sự phát triển của các dịch vụ trong nông nghiệp, nhất là cơ giới
hóa trong khâu làm đất cũng như trong khâu thu hoạch: thuê máy kéo, máy
phóng… Trong khâu chăm sóc, họ cũng sử dụng các loại thuốc diệt cỏ để
giảm bớt sức lao động.
Khi còn làm lúa mùa hay lúa một vụ, người Khmer thường gieo mạ
rồi cấy. Ở những nơi đất gò, cứng, người thợ cấy phải dùng nọc cấy chọc lỗ
rồi tra mạ vào. Ở những nơi đất mềm, người đi cấy chỉ cần dùng ngón tay
cái đưa rễ mạ vào đất và dùng các ngón tay kéo đất bít rễ mạ để cây lúa
đứng vững. Nhổ mạ có thể do nam giới (đối với những đám mạ nặng nhổ,
do mạ bám đất), cũng có thể do nữ giới làm, còn việc cấy thường là công

sống trong một địa bàn cư trú rộng lớn và có một hệ thống sông, rạch
chằng chịt. Hệ thống sông cung cấp cho những cư dân các dân tộc nói
chung và cư dân Khmer nói riêng một nguồn sinh kế hết sức dồi dào.
Ngay từ thời Nguyễn đã ghi nhận việc đánh bắt nguồn lợi thủy sản
trên các sông lớn, nhiều loài cá được ghi chép lại, các loài cá này còn tồn
tại tới tận ngày nay. Việc đánh bắt nguồn thủy sản vô cùng dồi dào này
cũng được quy định khá chặt chẽ. Dưới thời Nguyễn và ở đầu thế kỷ XX,
việc đánh bắt mang tính nhỏ lẻ, hộ gia đình thì chính quyền không can dự,
mọi người dân có thể tự do khai thác; đối với việc đánh bắt mang tính quy
mô lớn do một địa chủ hay nhà tư sản có tiềm lực kinh tế và hoạt động
đánh bắt mang tính thương nghiệp thì nhà nước có quy định rõ ràng. Việc
đấu thầu đánh bắt cá đã được tiến hành theo phương thức, nhà nước chia
các đoạn sông thành nhiều đoạn dài, ngắn khác nhau, những gia đình có
tiền, có nhu cầu sẽ đấu thầu để có được quyền khai thác. Thậm chí có
20


trường hợp người dân đấu thầu xong rồi lại bán lại quyền khai thác cho
người khác.
Các hình thức đánh bắt có giăng lưới bén, thả câu, đi soi, đặt lờ,
lọp… Những hình thức đánh bắt này còn rất đơn giản và ngư cụ cũng còn
rất giản đơn như chĩa, lờ, nơm, câu…
Hoạt động nông nghiệp đã có những chuyển biến quan trọng với việc
tăng vụ (chuyển từ một lên hai vụ và tại nhiều nơi lên ba vụ lúa), thay đổi
cây trồng chăn nuôi… Sản xuất nông nghiệp của người Khmer hiện nay
không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày trong gia đình, mà
họ đã có ý thức sản xuất nông sản hàng hóa. Biểu hiện cho sự thay đổi
quan trọng này là việc cải tạo vườn tạp để trồng các loại cây ăn trái có giá
trị kinh tế (như xoài, sầu riêng, cam, bưởi, nhãn… ), chăn nuôi (bò thịt, vịt
đàn… ), trồng nấm rơm.

điểm bám sát đất trồng trọt gọi là phum. Đơn vị cao hơn phum và bao gồm
nhiều phum gọi là srok (theo Việt hóa là sóc). Phum, sóc không phải là đơn vị
hành chính nhà nước, mà là những đơn vị xã hội cổ truyền, ràng buộc nhau
bởi các phong tục, lễ nghi mà ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa. Thời
các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, các phum, sóc được người dân Khmer
thành lập trên các giồng đất cao, hoặc những gò đất cao, hoặc nền đất cao
hơn mặt bằng chung xung quanh, thậm chí người dân Khmer còn tự tạo lên
nền đất cao để cư trú thông qua việc đắp đất, tạo độ cao.
Trong đời sống của các dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu
Long, phum là đơn vị cư trú thường bao gồm từ 5 – 7 gia đình, sống quây
quần trong một khoảnh đất nhất định, trên những dải đất cao (được gọi là
những “giồng đất, giồng cát”). Các gia đình trong phum hầu hết đều có quan
hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau. Thông thường gồm gia đình
của cha mẹ, gia đình của các con gái và con rể. Ngoài ra, có thể còn thêm một
vài gia đình không có quan hệ huyết thống, kể cả gia đình người Hoa và
người Kinh. Phum được định hình là một khu vườn có lũy tre xanh bao bọc,
có cổng trước, cổng sau, bên trong là các ngôi nhà và xung quanh các ngôi
22


nhà thường có đống rơm, truồng trâu bò, nhà tắm, giếng nước, nhà để công
cụ sản xuất và những mảnh vườn nhỏ để trồng rau hoặc cây ăn quả. Các
phum thường ở sát nhau, được phân chia bằng những hàng rào tre bao bọc
xung quanh, có cổng ra vào.
Quản lý và điều hành phum do một người lớn tuổi có uy tín trong đồng
bào đảm nhận, bất kể là đàn ông hay đàn bà và thường được gọi là “Mê
phum”. Mê phum không có một quy chuẩn nào cố định lựa chọn mà thường
do Mê phum trước đó chỉ định. Sự thừa kế này có tính đến khả năng và tư
cách đạo đức. Mê phum không chỉ đứng ra quản lý các công việc chung
của phum mình, mà còn đại diện cho phum đứng ra giải quyết các công

Chùa là bộ mặt của phum, sóc nên được xây dựng rất công phu, khang trang,
thoáng mát.
Việc quản lý sóc được giao cho ban quản trị sóc, mà người đứng đầu
được gọi là Mê sóc do ban quản trị sóc bầu ra. Những thành viên trong ban
quản trị được nhân dân tuyển chọn trong số những đàn ông lớn tuổi có uy tín,
có trình độ học vấn, hiểu biết phong tục, tập quán, có tinh thần trách nhiệm
với đồng bào. Cùng với ban quản trị, Mê sóc trông coi, điều hành các công
việc chung thuộc nội bộ của sóc, thay mặt cho các thành viên trong sóc thực
hiện các công việc đối ngoại, duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa nhà chùa
với dân sóc.
Xã hội truyền thống của người Khmer trước đây là sự kết hợp giữa tổ
chức tự quản của cộng đồng với sự tham gia của tổ chức nhà chùa. Sự đan
xen hỗn hợp này đã tạo cho xã hội truyền thống của người Khmer vùng đồng
bằng sông Cửu Long một đặc tính xã hội riêng biệt khác với nhiều tộc người
khác.
Đứng đầu mỗi chùa có một vị sư cả (lục gru) là người trụ trì ngôi chùa,
vị lãnh đạo tôn giáo cao nhất của một hoặc vài sóc. Trong tâm thức người
Khmer, sư cả được coi là đại diện cho đức Phật, những lời giáo huấn của ông
được nhân dân tôn trọng và thực thi một cách nghiêm túc. Trong mỗi chùa
cùng với sư cả và các sư sãi chuyên lo các việc tôn giáo còn có tổ chức của tín
24


đồ là ban quản trị chùa gồm có ông chủ chùa, thầy phụ trách nghi lễ và các vị
khác phụ trách về tài chính, Phật sự. Ban quản trị chùa thay mặt nhà chùa
đứng ra tổ chức, hoạch định chương trình các buổi lễ, định địa tô cho chùa,
giải quyết những vấn đề Phật sự như sửa sang, trùng tu chùa, tìm kiếm những
ngân khoản chi tiêu cho nhà chùa…
Quan hệ thân thuộc dòng họ của người Khmer có nhiều điểm khác
biệt so với người Việt, người Chăm, người Hoa cùng địa bàn. Người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status