V
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========
HOÀNG VĂN PHONG
BÁO CHÍ CÔNG AN NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC
TUYÊN TRUYỀN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
CỦA TỔ QUỐC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========
HOÀNG VĂN PHONG
BÁO CHÍ CÔNG AN NHÂN DÂN VỚI CÔNG TÁC
TUYÊN TRUYỀN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
CỦA TỔ QUỐC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60320101
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đến đội ngũ các thầy cô ở trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội đã nhiệt huyết trong suốt
quá trình giảng dạy, giúp đỡ, chỉnh sửa, góp ý đề cương để tôi có điều kiện
hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
HOÀNG VĂN PHONG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU........................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 3
3. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu .............................................................. 7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ..................................................................... 7
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................................. 8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG TUYÊN
TRUYỀN BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TỔ QUỐC CỦA BÁO CHÍ
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ........................................................................................... 9
1.1 Khái niệm liên quan đến đề tài ............................................................. 9
1.1.1. Biển, đảo........................................................................................... 9
1.1.2. Tuyên truyền ................................................................................... 13
1.1.3. Báo chí ............................................................................................ 15
1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về tuyên truyền bảo vệ chủ
quyền biển đảo ........................................................................................... 16
1.4.1 Những căng thẳng trên biển Đông .................................................. 23
Chƣơng 2: KHẢO SÁT TIN BÀI VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, ĐẤU
CQBĐ
: Chủ quyền biển đảo
BĐ
: Biển đảo
GS.TS
: Giáo sư, tiến sĩ
PGS.TS
: Phó Giáo sư, tiến sĩ
NXB
: Nhà xuất bản
LHQ
: Liên hiệp quốc
ASEAN
: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
MỞ ĐẦU
Bằng những thông tin khách quan, chính xác, kịp thời, có tính thuyết phục cao,
hệ thống báo chí CAND đã cung cấp thông tin không chỉ cho độc giả trong nước
mà còn cho bạn bè quốc tế, người Việt Nam sống ở nước ngoài có được những
thông tin tin cậy, từ đó hiểu rõ hơn quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước
về chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Những thông tin này đã đóng góp to lớn
trong quá trình đấu tranh, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Đảng, Chính phủ, Nhà
nước và nhân dân ta, được nhân dân thế giới ủng hộ, phản đối và yêu cầu Trung
Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển nước ta.
Việc phát huy vai trò của báo chí nói chung và hệ thống báo chí CAND
nói riêng trong công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta giai
đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết, cấp bách. Cùng với các cơ quan báo chí
hiện nay, hệ thống báo chí CAND trong đó cụ thể là báo CAND và báo
CAĐN có nhiều thế mạnh vượt trội trong việc tiếp cận công chúng, độc giả,
những chứng cứ, tư liệu, thông tin,… từ đó truyền tải nhanh chóng, chính xác
lập trường, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đến với bạn
bè quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của nhân dân thế giới cũng như
định hướng tư tưởng cho người Việt Nam ở nước ngoài, nâng cao trách nhiệm
của mỗi công dân với Tổ quốc, với việc bảo vệ CQBĐ.
Nghiên cứu về vai trò của báo chí CAND trong công tác đấu tranh bảo
vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc giai đoạn hiện nay bắt đầu từ sự kiện
Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc
quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên báo in CAND và CAĐN là
một hướng nghiên cứu cần thiết của báo chí học, qua đó góp thêm một kênh
thông tin cho hoạt động tuyên truyền về đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo
ngày càng có chất lượng, hiệu quả hơn; khẳng định vai trò, vị trí quan trọng
của báo in CAND và báo CAĐN trong công cuộc đấu tranh bảo vệ CQBĐ, từ
2
đó rút ra bài học kinh nghiệm và giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả tuyên
lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của
Việt Nam; quy chế khu vực biên giới biển,… tiềm năng phát triển một số đảo
của Việt Nam, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa,…
Cuốn sách “Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lí Hoàng Sa, Trường
Sa là của Việt Nam” (NXB Trẻ xuất bản năm 2011). Thông qua nguồn tư
liệu lịch sử và địa lý đáng tin cậy của Việt Nam cũng như tư liệu và bản đồ
xưa của các nhà truyền giáo và hàng hải phương Tây, cuốn sách đã đưa ra
những dẫn chứng khái quát về Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XV.
Khẳng định chủ quyền, không thể tranh cãi của Việt nam đối với hai quần
đảo này ở biển Đông.
Cuốn sách “Người Việt với biển” của tác giả Nguyễn Văn Kim (chủ
biên) – NXB Thế giới, xuất bản năm 2011. Cuốn sách tập hợp nhiều bài
nghiên cứu, phân tích về cơ tầng văn hóa biển, quan hệ ngoại thương và chủ
quyền an ninh biển; truyền thống và tư duy hướng biển của người Việt; ý thức
chủ quyền biển đảo,…
Những công trình trên có nhiều giá trị, là nguồn tư liệu quan trọng giúp
tác giả có thêm thông tin “làm nền” cho luận văn của mình. Ngoài ra, tác giả
chú ý tới một số luận văn của học viên cao học tại Khoa Báo chí và Truyền
thông - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), Học viện
Báo chí và Tuyên truyền:
Đề tài thạc sĩ chuyên ngành báo chí học tại trường Đại học khoa học xã
hội và Nhân văn, 2013, “Thông tin về chủ quyền biển đảo trên kênh VTV Đà
Nẵng” của tác giả Văn Công Nghĩa. Tác giả đã đi sâu phân tích đánh giá
những thành công hạn chế của việc thông tin về biển đảo của VTV Đà Nẵng.
Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích và đưa ra những hạn chế nhất định trong
lĩnh vực tuyên truyền về biển đảo qua thể lại phim tài liệu truyền hình; mạnh
4
dạn đưa ra một số nhóm giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin về biển
để tác giả thực hiện tốt hơn đề tài nghiên cứu của mình.
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, những tư liệu, sách và các luận
văn dù có những giá trị rất quan trọng trong nghiên cứu về biển đảo. Tuy
nhiên đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể vấn đề “Báo chí CAND
với công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc giai đoạn
hiện nay”. Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và tính mới mẻ cũng như giá
trị khoa học và thực tiễn đó của đề tài mà tôi quyết định chọn đề tài: “Báo chí
CAND với công tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc giai
đoạn hiện nay” là đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan, luận văn sẽ tìm hiểu
khảo sát phân tích báo in CAND và báo CAĐN về tuyên truyền bảo vệ chủ
quyền biển đảo, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế của 2 tờ báo để đề xuất các
giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo trên
hệ thống báo chí CAND nói chung và báo CAND, báo CAĐN nói riêng
trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Báo chí Công an Nhân dân với công tác
tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc ta giai đoạn
hiện nay.
Khách thể nghiên cứu, khảo sát là hai tờ báo in CAND và Công an
Đà Nẵng trong khoảng thời gian từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2016.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi hai tờ báo in CAND và
CAĐN. Phạm vi thời gian khảo sát bắt đầu từ tháng 5/2014 khi sự kiện giàn
6
khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc kéo vào vùng biển đặc quyền kinh tế
mang tính mở đầu trong việc thống kê, đánh giá, nhận xét và phân tích ở góc
độ nội dung và hình thức thể hiện; những thành công, hạn chế, bài học kinh
nghiệm, kiến nghị các giải pháp. Điều này sẽ góp phần tạo cơ sở cho những
nghiên cứu sâu hơn sau này về vấn đề tuyên truyền về biển, đảo trên hệ thống
báo chí.
Nội dung của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích
cho việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ những thành công, hạn chế trong công tác
tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta của hai tờ báo trong giai
đoạn hiện nay; từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác
tuyên truyền trên lĩnh vực bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam không chỉ
trên báo CAND, CAĐN mà còn trên hệ thống báo chí Cách mạng Việt Nam.
Luận văn cũng đưa ra những định hướng cho việc nâng cao hiệu quả công
tác tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo trên tờ báo mạng điện tử CAND và
CAĐN nói riêng và báo điện tử nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động tuyên truyền bảo vệ chủ
quyền biển đảo tổ quốc của báo chí giai đoạn hiện nay
Chương 2: Khảo sát tin bài về công tác tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ chủ
quyền biển đảo của tổ quốc ta trên báo in CAND và CAĐN
Chương 3: Những giải pháp, khuyến nghị nâng cao chấp lượng công tác tuyên
truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc trên báo CAND, CAĐN
8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG
10km2, có 82 đảo diện tích lớn hơn 1km2 và khoảng 1.400 đảo nhỏ chưa có tên.
HÌnh như trùng lặp với đoạn trên đã viết về biển, đảo VN?
Cuốn “Toàn cảnh biển đảo Việt Nam” (Nhiều tác giả) cho rằng: "Biển
Đông là vùng biển rìa Tây Thái Bình Dương. Nhân dân Việt Nam vẫn gọi
Biển Đông theo tên truyền thống, gắn liền với lịch sử hàng nghìn năm của dân
tộc. Tên biển Đông đã được ghi trong cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi, năm
1435 thời vua Lê Thánh Tông". Việt Nam là đất nước có bờ biển dài 3260
km, vùng đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với trên "4000 đảo lớn nhỏ,
trong đó: vùng biển Đông Bắc có trên 3000 đảo; Bắc Trung Bộ trên 40 đảo;
còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam và 2 quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa. Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, có vai trò lớn lao trong công
cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Bản đồ vùng biển Việt Nam trên Biển Đông (Nguồn: internet)
Nước ta giáp với biển Đông ở hai phía Đông và Nam. Vùng biển Việt
Nam là một phần biển Đông. Với vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái
Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung
10
Đông, biển Việt Nam tạo điều kiện giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển kinh
tế biển, dịch vụ trên biển.
Theo Luật biển Việt Nam thì vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy,
lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam,
được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh
thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp
với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Những khái niệm cụ
thể về nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và
toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
- Quần đảo Trường Sa
+ Quần đảo Trường Sa cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 200 hải lý về
phía Nam. Quần đảo Trường Sa bao gồm hơn 100 đảo nhỏ, bãi ngầm, bãi san
hô nằm trải rộng trong một vùng biển khoảng 180.000 km2 với chiều Đông
Tây là 325 hải lý, chiều Bắc Nam là 274 hải lý, từ vĩ độ 6030’ Bắc đến
120 Bắc và từ kinh độ 111030’ Đông đến 117020’ Đông, cách Cam Ranh 248
hải lý, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) 595 hải lý.
+ Quần đảo Trường Sa được chia làm 10 cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại
Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bãi Vũng Mây, Bãi Hải
12
Sâm, Bãi Lim, Song Tử Tây là đảo cao nhất (cao 4 đến 6 mét lúc triều
xuống); Ba Đình là đảo rộng nhất (0,6km2) trong quần đảo.
Bản đồ quần đảo Trường Sa(Nguồn: internet)
Quần đảo Trường Sa không chỉ là vị trí quân sự chiến lược án ngữ phía
Đông Nam nước ta, bảo vệ vùng biển và hải đảo ven bờ, mà còn là một vùng
có trữ lượng lớn photphat khá lớn, có nhiều loại có nhiều dầu.Việt Nam đang
có mặt và bảo vệ 21 đảo và bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa.
Chủ quyền biển đảo
Cùng với các bộ phận lãnh thổ là: Vùng trời, vùng đất liền, biển đảo là
bộ phận không thể tách rời chủ quyền quốc gia. Trong bộ phận chủ quyền
biển đảo của quốc gia đó, các nước khác không được can thiệp. Bất cứ hành
động xâm phạm đến lãnh thổ trong đó có chủ quyền biển đảo đều là vi phạm
pháp luật của nước sở tại và các công ước quốc tế có liên quan.
1.1.2. Tuyên truyền
Theo một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ tuyên truyền được nhà thờ
La Mã sử dụng nhằm mục đích thuyết phục, lôi kéo, phấn đấu theo đức tin
hoạt động truyền bá, phổ biến về một tư tưởng, học thuyết hay vấn đề nào đó
tới đối tượng tuyên truyền nhằm mục đích phổ biến, tuyên truyền để đối
tượng ủng hộ hoặc làm theo.
14
Tuyên truyền biển đảo như sau: Tuyên truyền biển đảo là truyền bá,
phổ biến, giải thích những kiến thức, thông tin, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về biển đảo và chủ quyền biển đảo tới công chúng, nhân dân.
1.1.3. Báo chí
Báo chí được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm báo in, phát thanh, truyền
hình, báo mạng điện tử (“phát hành” trên mạng internet) và hãng thông tấn. Báo
chí theo nghĩa hẹp, là bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự.
Trong cuốn “Báo chí thế giới và xu hướng phát triển”, tác giả Đinh Thị Thúy
Hằng trích dẫn ý kiến của Frank Morgan: “Báo chí như là một phương tiện truyền
tải kiến thức và là sự hội thoại của nền văn hóa của chúng ta mà trong đó các câu
chuyện được kể lại thông qua sự quan sát thế giới của các nhà báo [trang 37].
Nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia cho rằng: “Báo chí
là hiện tượng xã hội ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, lấy hiện thực khách
quan làm đối tượng phản ánh, thông tin trong báo chí là một quá trình liên tục
xuyên suốt trong mối quan hệ cuộc sống – nhà báo – tác phẩm – công chúng”.
Tác giả Nguyễn Văn Dững quan niệm: “Báo chí là hoạt động thông tin
giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn, là công cụ và phương thức kết nối xã
hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất
trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và các
nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…[tr.61].
Theo tác giả Đỗ Chí Nghĩa: “Báo chí là loại hình phương tiện truyền thông
đại chúng được cơ quan có thẩm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụ chuyển
tải thông tin nhanh nhất nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn” [tr.23].
Ngày 23/6/1994, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam (khóa IX) đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công
ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
16
Trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã triển khai nhiều hoạt động
nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định, phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ
chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển.
Để hạn chế các vụ việc vi phạm pháp luật trên biển, Việt Nam đã tham
gia tích cực việc triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông
(DOC), được các thành viên ASEAN và Trung Quốc ký ngày 4/11/2002,
tham gia Hội thảo khống chế xung đột tiềm tàng ở biển Đông do Inđônêxia
chủ trì, hợp tác với Philippin triển khai các dự án hợp tác nghiên cứu khoa
học biển Việt Nam – Philippin,...
Năm 2007, tại hội nghị Trung ương 4, khoá X đã ra nghị quyết 09 về
"chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020", trong đó xác định: "Phấn đấu
đưa nước ta thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững
chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan
trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu
mạnh." Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong vấn
đề biển, đảo, tạo hành lang quan trọng để công tác tuyên truyền có điều kiện
tập trung sâu, có định hướng rõ ràng về vấn đề này. Tại hướng dẫn số 105
ngày 24/11/2014 của Ban tuyên giáo Trung ương về công tác tuyên truyền
biển, đảo năm 2014 đã nhấn mạnh một số yêu cầu trong công tác tuyên
truyền biển đảo như sau:
- Tuyên truyền tạo sự thống nhất, đồng thuận trong cán bộ Đảng viên và
toàn xã hội đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước về biển, đảo.
- Công tác tuyên truyền cần đảm bảo sự chỉ đạo, điều hành chặt chẽ,
phương tiện truyền thống để tất cả các tầng lớp nhân dân đều nắm bắt được
thông tin nhanh, chính xác, hiệu quả. Việc tuyên truyền phải được lồng ghép đa
dạng, linh hoạt giữa tuyên truyền trong nước và quốc tế, giữ các hoạt động đối
18