TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
TẠI XÃ XUÂN PHÚ, HUYỆN XUÂN TRƯỜNG,
TỈNH NAM ĐỊNH
HÀ NỘI, 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG HƯƠNG ƯỚC, QUY ƯỚC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG VỚI SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
TẠI XÃ XUÂN PHÚ, HUYỆN XUÂN TRƯỜNG,
TỈNH NAM ĐỊNH
Ngành
: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã ngành : 52850101
thời gian nghiên cứu không được nhiều, kình nghiệm và năng lực còn ít nên không
tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện đồ án. Tôi rất mong nhận được
sự đóng ý kiến từ các quý thầy cô.
Hà Nội, ngày......thàng......năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thị Thùy Linh
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
BTP: Bộ tư pháp
BTTUBTƯMTTQVN: Ban thường trực ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
BVHTT: Bộ văn hóa thể thao
BVTV: Bảo vệ thực vật
UBND: ủy ban nhân dân
TTLT: Thông tư liên tịch
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả phân tích mẫu nước mặt huyện Xuân trường đoạn sông Sò chảy
qua xã Xuân Phú so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT và QCVN 08MT:2015/BTNMT
Bảng 3.1: Mức độ tham gia của người dân vào các phong trào bảo vệ môi trường
của xã Xuân Phú
DANH MỤC HÌNH
đường làng ngõ xóm đều được khang trang hơn. Tuy nhiên công tác bảo vệ môi
trường tại xã còn yếu, hoạt động tuyên truyền vận động ngưởi dân tham gia bảo vệ
môi trường chưa hiệu quả. Hơn nữa hiện nay tại xã chưa tiến hành xây dựng bản
hương ước quy ước về bảo vệ môi trường nào.
9
Thấy được lợi ích từ việc áp dụng hương ước, quy ước trong công tác bảo vệ
môi trường nên tôi quyết định thực hiện tài “Xây dựng hương ước, quy ước bảo
vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại xã Xuân Phú, huyện Xuân
Trường, tỉnh Nam Định”. Làm đề tài nghiên cứu đồ án tốt nghiệp, để nâng cao
trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân địa phương xã Xuân Phú.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng được bản hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia
của cộng đồng nhằm nâng cao trách nhiệm của cộng đồng tham gia vào công tác
bảo vệ môi trường, hình thành nên văn hóa bảo vệ môi trường tại xã Xuân Phú,
huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
-
3. Nội dung nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng môi trường tại xã Xuân Phú, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam
-
Định;
Đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại xã Xuân Phú, huyện Xuân
chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã
hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục,
tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân
cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật”.
1.1.2. Đặc điểm, đặc trưng của hương ước, quy ước
Các đặc điểm của hương ước, quy ước như:
-
Là kết ước của người dân, được thể hiện bằng một loại văn bản với nhiều tên gọi
khác nhau như: Hương ước làng, quy ước làng... Trong dân gian cũng có rất nhiều
loại hình kết ước của người dân được thể hiện bằng các câu tục ngữ, lời nói có vần,
phương ngôn, ngạn ngữ truyền miệng, không được thực hiện bằng văn bản thì
-
không phải là hương ước.
Do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra trên cơ sở sự nhất trí của tập thể cộng
đồng dân cư. Đây cũng là một trong các nguyên tắc xây dựng hương ước, quy ước,
bất kỳ một cá nhân hay cơ quan, tổ chức xây dựng văn bản và tự gọi đó là hương
ước, quy ước đều không đúng, không phù hợp với tính chất, đặc trưng và nguyên
-
tắc xây dựng hương ước, quy ước.
Hương ước, quy ước cũng là một loại văn bản quy phạm, có nghĩa là nó cũng chứa
đựng các nguyên tắc bắt buộc hoặc cho phép tổ chức, cá nhân được làm hoặc không
được làm một việc gì đó trong cuộc sống hàng ngày tại địa phương, nhưng đấy là
các quy phạm xã hội do công đồng dân cư thỏa thuận đặt ra và cùng nhau thực hiện.
Nghĩa là cộng đồng dân cư xây dựng nguyên tắc ứng xử trên cơ sở pháp luật và
của hương ước về trác nhiện của các cá nhân, tổ chức trong việc tu bổ đền, miếu,
đình chùa, phục vụ lễ tết rước sách thờ thần, thờ phật đã được người dân tuân thủ
nghiêm túc. Vì lẽ này mà hệ thống đình chùa, đền miếu của các làng thường xuyên
được tu bổ tăng thêm một nét đẹp trong cảnh quan làng xóm, bên cạnh các lễ hội
nông nghiệp cầu mùa, cầu mưa, hội hát Xoan, hát ghẹo, các trò chơi dân gian...
-
được tổ chức hàng năm.
Hương ước không chỉ là biểu hiện của pháp luật mà còn giúp khắc phục các lỗ
hổng của pháp luật hoặc pháp luật quy định chưa cụ thể. Đưa pháp luật vào trong
đời sống của người dân dễ dàng hơn: Hương ước biến các quy định chung của pháp
luật thành các quy định cụ thể của làng, đơn giản hóa các quy định của luật nước,
làm cho ý thức hệ pháp luật của Nhà nước trở lên gần gũi và thâm nhập vào hệ tư
tưởng vào tâm lý lối sống của mỗi người dân, làm pháp luật trở lên dễ hiểu và dễ áp
dụng. Hương ước đưa ra nhiều quy định cụ thể bổ khuyết vào lỗ hổng pháp luật
trong các mối quan hệ cụ thể của cuộc sống làng xã. Các vấn đề như chia ruộng đất,
lão quyền, nam quyền, trưởng quyền, an ninh làng xã, đời sống tâm linh của nhân
dân... Thường là những vấn đề được quy định chung chung trong trong luật nước lại
-
rất cụ thể trong các hương ước.
Hương ước giúp bảo tồn và giữ gìn các danh nam thắng cảnh, đền thờ, bảo vệ môi
trường của làng nói riêng và của toàn dân tộc nói chung.
1.1.4. Nội dung và hình thức của hương ước, quy ước
a) Nội dung
12
-
đường dây tải điện; xây dựng và phát triển đường làng ngõ xóm, trồng cây xanh;
Đề ra các biện pháp bảo vệ các tuần phong mỹ tục, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội
và mê tín dị đoan trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội, thờ phụng ở địa phương;
khuyến khích những lế nghi lành mạnh, tiết kiệm, hạn chế ăn uống lãng phí, tốn
-
kém;
Góp phần xây dựng nếp sống văn mình, gia đình văn hóa, xây dựng làng, bản, thôn,
ấp, cụm dân cư văn hóa, hình thành các quy tắc đạo đức mới trong gia đình và cộng
đồng, khuyến khích mọi người đùm bọc và giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn,
hoạn nạn, ốm đau; vận động thực hiện các chính sách dân số - kế hoạch hóa gia
-
đình, xây dựng các gia đình theo tiêu chuẩn gia đình văn hóa;
Xây dựng tính đoàn kết, tương thận, tương ái, trong cộng đồng, vận động các thành
viên trong gia đình, họ tộc, xóm làng đoàn kết nhau để xóa đói giảm nghèo, phát
triển sản xuất, nâng cao đời sống, khuyến học, khuyến nghề ở địa phương; vận động
13
các thành viên trong cộng đồng tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm phát triển sản
xuất. Khuyến khích phát triển các làng nghề, đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và
các công trình phúc lợi công cộng, điện, đường, trường học, trạm xã, nghĩa trang,
các công trình văn hóa thể thao trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ trong khuôn
-
Hương ước có thể đề ra các biện pháp nhằm góp phần giáo dục những người
có hành vi vi phạm pháp luật bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thi
14
trấn, giáo dục, cảm hóa, giúp đỡ người phạm tội sau khi ra tù trở thành những người
lương thiện, có ích cho xã hội.
Những hành vi vi phạm pháp luật phải do cơ quan có thẩm quyền xử lý theo
quy định của pháp luật. Việc áp dụng các biện pháp xử lý các vi phạm hương ước
không thay thế các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật.
b) Hình thức thể hiện của hương ước
- Vể tên gọi: Có thể dùng tên gọi chung là Hương ước hoặc Quy ước (làng, bản, thôn,
-
ấp, cụm dân cư).
Về cơ cấu và nội dung: Hương ước có thể coi lời nói đầu ghi nhận truyền thống văn
hóa của từng làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư và mục đích của việc xây dựng hương
ước.
Nội dụng của hương ước được chia thành các chương, mục, điều, khoản, điểm.
Các quy định cụ thể của hương ước cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các
thành viên trong cộng đồng. Các biện pháp thưởng, phạt có thể quy định ngay tại
các điều. khoản cụ thể.
c) Các bước tiến hành xây dựng hương ước, quy ước
Từ thông tư số 03/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTUMTTQVN. Ngày
31/03/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hóa Thông tin và Ban Thường trực Ùy ban
Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, kết hợp với những bài học kế thừa từ một
số dự án trong chương trình SEMLA tôi đề xuất 8 bước triển khai xây dựng hương
-
lấy ý kiến
Các phương pháp và các công cụ để cac thành viên trong cộng đồng tham gia xác
định các vấn đề và giải pháp (ví dụ: sử dụng phương pháp phân tích sơ đồ vấn đề).
Bước 3: Thu thập thông tin
- Lãnh đạo xã thành lập một nhóm khoảng 7 người.
- Nhóm này tiến hành thu thập ý kiếm của người dân
- Tổng hợp kết quả và xây dựng dự thảo hương ước.
Bước 4: Tổ chức họp dân
Tổ chức buổi họp dân gồm có cán bộ xã, trưởng xóm và người dân tham dự.
Tiến hành cuộc họp
-
Chủ trì cuộc họp lên giới thiệu đại biểu và lý do cuộc họp, sau đó một địa biểu lên
phát biểu về hiện trạng môi trường và đưa ra bản hương ước
Tiến hành thảo luận lấy ý kiến của người dân để điều chỉnh bản dự thảo hương ước.
- Tiến hành biểu quyết
- Thư ký dựa trên những ý kiến đóng góp thông qua bản hương ước
Bước 5: Phê duyệt hương ước
-
Sửa đổi dự thảo hương ước theo những ý kiến phản hổi từ buổi họp cộng đồng.
Sau đó hương ước được có thể được trình lên cơ quan có thẩm quyền (UBND
huyện) để phê duyệt. Cơ quan có liên quan sẽ xem xét và ban hành quyết định phê
duyệt hương ước, quy ước môi trường phù hợp với quy định của pháp luật Việt
Nam.
duyệt; 3.260 đang trong quá trình xây dựng [3].
Trong những năm qua dưới sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng và chính quyền
việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước đang ngày càng phát triển cả về số
lượng và chất lượng ở nhiều tỉnh thành như:
-
Tỉnh Gia Lai trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ, bộ mặt
nông thôn, miền núi đã có nhiều khởi sắc, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
được giữ vững. Có được kết quả đó là nhờ vào việc xây dựng và thực hiện hương
ước, quy ước, phát huy ý thức tự quản của cộng đồng dân cư. Chỉ tính trong năm
2012, toàn tỉnh có 2.152 làng, xã, tổ dân phố. Số lượng hương ước đã được phê
duyệt là 2.022 bản, chưa phê duyệt là 53 bản, chưa xây dựng là 77 bản và thực hiện
-
tốt 1.305 bản, chưa thực hiện tốt là 717 bản [3].
Huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai, đến năm 2015 UBND huyện đã phê duyệt
xong 231 bản hương ước, quy ước thuộc 231 thôn, tổ dân phố trong toàn huyện đạt
-
100% kế hoạch [3].
Tỉnh Lạng Sơn đến năm 2015 trên địa bàn toàn tỉnh đã có 2.318/2.3320 thôn, khối
phố xây dựng hương ước, quy ước được UBND cấp huyện quyết định công nhận.
Điểm nổi bật việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước tại các thôn, khối phố
trên địa bàn toàn tỉnh trong những năm qua đã có tác dụng tích cực đến tình hình
-
kinh tế - xã hội và mọi mặt đời sống của nhân dân [3].
a) Địa hình
Xã Xuân Phú nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng nên có địa hình
bằng phẳng. Độ cao có xu hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang
Đông. Địa hình sông nhỏ, hẹp, khả năng tiêu thoát nước tốt. Nhìn chung địa hình ở
đây rất thuận tiện cho phát triển mạng lưới giao thông, cơ sở hạ tầng, các điểm dân
cư và thích hợp cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là ngành nông nghiệp lúa nước
và cây màu [2].
b) Khí hậu
Xã Xuân Phú mang đầy đủ thuộc tính cơ bản của khí hậu miền Bắc Việt Nam,
đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, có mùa đông khá lạnh ít mưa, mùa hè
nóng nhiều mưa, có bốn mùa rõ rệt
19
-
Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm đạt từ 23 – 240C, tổng tích ôn đạt từ 8.500 – 8.7000C.
Mùa hè có nhiệt độ trung bình từ 27 – 29 0C, tháng nóng nhất là tháng 7, nhiệt độ có
thể đạt tới 38 – 390C. Tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình là 16,7 0C,
đôi khi có thể xuống tới 5 – 60C. Số giờ năng trung bình từ 1.650 – 1.700 giờ/năm
[2].
-
Xã Xuân Phú có một sông nhánh chính là sông Sò, sông Sò là sông nhánh của
Sông Hồng. Ngoài ra còn có một số sông nhánh nhỏ từ sông Sò phục vụ cho việc
cấp thoát nước và tưới tiêu trong nông nghiệp [2].
20
1.2.2. Điều kiện Kinh tế
Trong những năm gần đây nên kinh tế xã Xuân Phú phát triển khá ổn định, các
ngành kinh tế khá đa dạng như: dịch vụ, đồ gỗ mỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp...đặc
biệt là ngành sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước và hoa màu là ngành kinh tế
chính ở đây.
Sản xuất nông nghiệp:
Cơ cấu cây trồng đã được đa dạng không còn độc canh cây lúa hay cây màu,
gồm trồng lúa, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cùng rất nhiều loại cây ăn quả.
-
Nhóm cây lương thực, thực phẩm (lúa, khoai, rau các loại): Loài cây trồng có diện
tích đáng kể là cây lúa nước phát triển khá ổn định, năng suất lúa cả năm 2015 ước
-
đạt 126,2 tạ/ha (vụ mùa 53,2 tạ, vụ chiêm là 73 tạ).
Nhóm cây ăn quả: Các giống cây ăn quả được người dân trồng chủ yếu là tranh,
bưởi, nhãn, ổi. Chuối, mít, song hầu hết đều ở mức độ ít nên chưa phát triển thành
-
hàng hóa.
-
Công tác giáo dục: 100% các em học sinh từ 6 – 15 tuổi đểu được đến trường, các
học sinh nghèo vượt khó, có hoàn cảnh khó khăn đều được hỗ trợ học tập. Chất
lượng giáo dục toàn diện được giữ vững, chất lượng giáo dục mũi nhọn được chú
trọng, nhất là giáo viên giỏi, học sinh thu được nhiều thành tích tốt trong các kỳ thi
giáo viên giỏi và học sinh giỏi. Kết quả xét tốt nghiệp THCS, đạt tỷ lệ 98.2% trong
-
đó tỷ lệ học sinh giỏi chiếm 22,6% và loại khá chiểm tỷ lệ 52.2% [1].
Công tác lao động chính sách xã hội: Việc ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho người
cao tuổi cũng được xã quan tâm hơn, đến hàng tháng người cao tuổi sẽ được nhận
lương hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ, trong năm 2016 xã đã hỗ trợ 650
triệu đồng cho người cao tuổi và người tàn tật, cấp 184 thẻ BHYT cho trẻ em và lập
hồ sơ cấp thẻ BHYT cho 35 đối tượng là người hưởng theo quyết định số 62 của
-
chính phủ, cùng các chế độ chính sách cho các đối tượng thực hiện tốt [1].
Công tác y tế: Xã chỉ có một trạm y tế nên công tác y tế cũng được chú trọng đầu
tư cơ sở vật chất và chất lượng y tá, trong năm 2016 trạm y tế xã đã khám cho 4450
lượt người và thực hiện công tác tiêm phòng đúng đợt cho trẻ em. Công tác dân số
trong năm 2016 số người sinh con thứ 3 trở lên giảm 0.4% so với năm 2015, tỷ suất
sinh giảm 0,15% so với năm 2015. Chất lượng đời sống của người dân ngày càng
-
được nâng cao hơn [1].
Giao thông: Hệ thống giao thông, đường làng ngõ xóm phần lớn đều đã được rải
1.2.4. Các vấn đề môi trường
Hiện nay, chất lượng môi trường xã Xuân Phú đang có xu hướng giảm do
nhiều nguyên nhân khác nhau.
Hệ thống nước mặt xã Xuân Phú đang chịu nhiều áp lực từ nhiều nguồn khác
nhau đó là từ nước thải và rác thải sinh hoạt, sản xuất của người dân làm ảnh hưởng
đến chất lượng môi trường nước tại đây.
Bảng 1.1: Kết quả phân tích mẫu nước mặt huyện Xuân trường đoạn sông Sò
chảy qua xã Xuân Phú so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT và QCVN 08MT:2015/BTNMT
Chỉ tiêu
Mẫu
pH
Độ cứng
(mg/l)
COD
(mg/l)
BOD5
(mg/l)
DO
(mg/l)
QCVN
08:2008/
BTNMT
Cột A1
4
15
6
4
Đầu sông Sò
7,43
3,4
17
13,6
2,48
Giữa sông Sò
7,59
3,5
23
18,4
3,65
Cuối sông Sò
7,44
3,3
28
22,4
3,87
(Nguồn: Kết quả phân tích nước mặt huyện Xuân Trường tại phòng thí nghiệm
khoa TNMT - Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên tháng 3/2014)
A1: Sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt (sau khi áp dụng xử lý thông
thường), bảo tồn động thực vật thủy sinh và các mục đích khác như loại A2, B1, B2.
A2: Dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng phải áp dụng công nghiệ xử
lý phù hợp hoặc các mục đích sử dụng như loại B1, B2.
nước cho mục đích tưới tiêu, tuy nhiêm các thông số phân tích được vẫn khá cao và
nếu không có biện pháp bảo vệ phòng ngừa thì chất lượng môi trường nước có khả
năng biến đổi và không còn phù hợp cho các mục đích tưới tiêu.
Lượng chất thải rắn tại xã đang ngày càng gia tăng, do dân số gia tăng và rác
thải không được xử lý theo đúng kỹ thuật.
Môi trường đất đang bị ảnh hưởng từ các hoạt động nông nghiệp, sinh hoạt,
xây dựng của người dân.
24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
-
Các hộ gia đình, cộng đồng dân cư trên toàn địa bàn xã Xuân Phú
Cán bộ quản lý tại xã Xuân phú, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
2.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi về thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ ngày 27/02 đến ngày
-
15/05/2017.
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại xã Xuân Phú, huyện Xuân
Trường, tỉnh Nam Định.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu