Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng theo pháp luật việt nam - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHAN THỊ LAN ANH

SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ
SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN
HÀNG TINH TRÙNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

i


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHAN THỊ LAN ANH

SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ
SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN
HÀNG TINH TRÙNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03


........................................................................................................................... 7
1.2. Ý NGHĨA CỦA VIỆC SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH
SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG ...................... 12
1.2.1. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh
trùng là kết quả của việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực
y học ................................................................................................................ 12
1.2.2. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh
trùng mang ý nghĩa nhân văn cao đẹp............................................................. 14
1.2.3. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh
trùng giúp đảm bảo khả năng thực hiện chức năng cơ bản của gia đình - chức
năng tái sản xuất con ngƣời............................................................................. 15
1.3. SƠ LƢỢC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
HỖ TRỢ SINH SÁN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG
......................................................................................................................... 16
1.4. QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƢỚC VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TÌNH TRÙNG
......................................................................................................................... 21
1.4.1. Quy định về ngƣời hiến tinh trùng ........................................................ 21

ii


1.4.2. Lấy tinh trùng sau khi chết .................................................................... 23
Chương 2 ......................................................................................................... 25
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT
HỖ TRỢ SINH SẢN VỚI TINH TRÙNG TỪ NGÂN HÀNG TINH TRÙNG
......................................................................................................................... 25
2.1. NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN ............ 25
2.1.1. Quyền đƣợc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ............................. 25
2.1.2. Nguyên tắc tự nguyện ........................................................................... 27

3.2.2. Những vƣớng mắc bất cập và giải pháp hoàn thiện quy định về xác định
cha, mẹ, con trong trƣờng hợp vợ chồng ly hôn ............................................. 62
3.3. NHỮNG VƢỚNG MẮC BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY
ĐỊNH CẤY TINH TRÙNG GIỮA NHỮNG NGƢỜI CÙNG DÕNG MÁU
VỀ TRỰC HỆ VÀ GIỮA NHỮNG NGƢỜI KHÁC GIỚI CÓ HỌ TRONG
PHẠM VI BA ĐỜI ......................................................................................... 64
3.4. NHỮNG VƢỚNG MẮC, BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH VỀ CHO VÀ NHẬN TINH TRÙNG ........................................ 65
3.5. NHỮNG VƢỚNG MẮC, BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH VỀ LẤY TINH TRÙNG CỦA NGƢỜI CHỒNG SAU KHI
CHẾT .............................................................................................................. 74
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 82

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt

Tên viết đầy đủ

1

Luật HN&GĐ

Luật hôn nhân và gia đình

2


tháng 01 năm 2015 Quy định về kỹ thuật

Số
thứ tự

sinh con trong ống nghiệm và điều kiện
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
7

Nghị định 126/2014/NĐCP

8

Nghị định 67/2015/NĐCP

Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31
tháng 12 năm 2014Quy định chi tiết một
số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn
nhân và gia đình.

Nghị định 67/2015/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung một số điều của nghị định số
110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm
2013 của chính phủ quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tƣ
pháp, hành chính tƣ pháp, hôn nhân gia
đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã

v

hạnh phúc lớn lao cho biết bao cặp vợ chồng. Theo đó, vấn đề sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng đang ngày càng
phổ biến và mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, việc xác định cha, mẹ, con
cũng có những nét đặc trƣng riêng.
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng
tinh trùng đó là việc sử dụng các kỹ thuật y học hiện đại để can thiệp vào quá
trình thụ thai của ngƣời phụ nữ với mục đích giúp những cặp vợ chồng hiếm
muộn, vô sinh hoặc phụ nữ độc thân có thể mang thai và có những đứa con
nhƣ họ ƣớc muốn.
Mặt khác, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân
hàng tinh trùng đã thể hiện sự phát triển vƣợt bậc của khoa học kĩ thuật, giải
quyết đƣợc tình trạng vô sinh của phụ nữ và nam giới do ảnh hƣởng của nhiều
yếu tố nhƣ môi trƣờng, hóa chất, hậu quả chiến tranh đem lại hạnh phúc và hi
vọng cho không ít các gia đình Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.
Nhƣ vậy, vấn đề về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh
trùng từ ngân hàng tinh trùng đƣợc quy định khá cụ thể, chi tiết trong Luật
cũng nhƣ Nghị định, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện, áp
dụng. Tuy nhiên, những quy định này vẫn còn những hạn chế, bất cập cần
đƣợc điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

1


Có thể thấy, sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ
ngân hàng tinh trùng là vấn đề khá phức tạp, đặc biệt về mặt pháp lí, bởi nó
làm thay đổi những quan niệm truyền thống về mặt huyết thống giữa cha mẹ
và con. Nhƣng phƣơng pháp đã đáp ứng đƣợc nguyện vọng mong mỏi, tha
thiết đƣợc làm cha, là mẹ của những cặp vợ chồng không may bị hiếm muộn
hay vô sinh. Hơn nữa, nó còn thể hiện đƣợc giá trị nhân đạo cao đẹp và sự
tiến bộ vƣợt bậc của khoa học kĩ thuật.

đề tuy không còn mới mẻ nhƣng rất hấp dẫn này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng
tinh trùng không phải là một vấn đề mới. Với sự ra đời của ba em bé thụ tinh
trong ống nghiệm ở Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ năm 1998, pháp luật Việt Nam
lần đầu tiên đề cập đến vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản tại
khoản 2 Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với thuật ngữ sinh con
theo phƣơng pháp khoa học. Kể từ năm 2000 đến nay, sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng đƣợc đề cấp đến trong
nhiều văn bản pháp luật khác nhau: Nghị định số 12/2003/NĐ-CP, Nghị định số
10/2015/NĐ-CP, Thông tƣ số 07/2003/TT-BYT, Thông tƣ số 12/2012/TT-BYT,
Thông tƣ số 57/2015/TT-BYT, Luật Hiến, ghép mô, bộ phận cơ thể ngƣời và
hiến, lấy xác năm 2006, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuy nhiên số
lƣợng bài viết, công trình nghiên cứu dƣới góc độ pháp luật có liên quan đến
sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
là không nhiều. Bài viết "Sinh con theo phương pháp khoa học và một số vấn đề
pháp lí có liên quan", của TS. Nguyễn Thị Lan, đăng trên Tạp chí Luật học,
số 2/2003, là một trong những bài đầu tiên đề cập tới vấn đề này. Bài viết đã
đề cấp tới nhiều khía cạnh pháp lý nhƣ phân tích điều kiện cho và nhận tinh
trùng, quyền làm cha, làm mẹ đối với đứa trẻ đƣợc sinh ra theo phƣơng pháp
khoa học, cũng nhƣ các xác định quan hệ cha, mẹ, con và những bất cập trong

3


quy định này… Có thể thấy đây là bài viết điển hình đầu tiên đề cập đến
những vấn đề có liên quan đến sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh
trùng từ ngân hàng tinh trùng một cách khái quát nhất, toàn diện nhất dƣới
góc độ pháp lý.
Cho đến thời gian gần đây khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

từ ngân hàng tinh trùng, đặc biệt chỉ nghiên cứu đến việc tinh trùng đƣợc gửi
vào ngân hàng tinh trùng vì mục đích sinh sản, không đề cập đến các mục
đích khác khi gửi tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng trong luận văn.
Luận văn tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất thuộc nội dung của
đề tài khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng, cũng nhƣ chủ thể trong quan
hệ này, nguyên tắc khi áp dụng và hậu quả pháp lý nảy sinh. Từ đó đánh giá
khả năng áp dụng pháp luật và đƣa ra một số kiến nghị.
4. Mục đích nghiên cứu
* Mục tiêu tổng quát
Luận văn nghiên cứu phân tích và làm rõ nội dung quy định về vấn đề
sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
theo pháp luật Việt Nam đã cụ thể và sát thực tiễn hay chƣa? Qua đó đánh giá
khả năng áp dụng quy định đã nêu vào thực tiễn.
* Mục tiêu cụ thể
Với mục tiêu nghiên cứu tổng quát nhƣ vậy, mục tiêu cụ thể nghiên
cứu đƣợc xác định những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận khái quát chung về vấn đề sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
- Phân tích, đánh giá những quy định của Luật về vấn đề về vấn đề
sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
- Thực trạng ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề có thể phát sinh
trong thực tiễn.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

5


Để đạt đƣợc các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu, luận văn đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

TRÙNG
Từ khi phƣơng pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) thành công năm
1978 ở Anh, khái niệm các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hình thành và phát triển
rất mạnh trên toàn thế giới. Ở các nƣớc phát triển, hiện có khoảng 1-5% số em
bé sinh ra hiện nay là từ các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (không kể thụ tinh nhân
tạo). Ngƣời ta ƣớc tính có trên nửa triệu chu kỳ hỗ trợ sinh sản đƣợc thực hiện
mỗi năm trên toàn thế giới. Trên thế giới đã có hàng triệu em bé ra đời từ các
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Dƣới góc độ y học kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive
Technologies) là những kỹ thuật Y Sinh học đƣợc áp dụng để điều trị vô sinh.
Theo phân tích của nhiều trung tâm, thụ tinh nhân tạo (hay IUI) không
xếp vào các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies ART). Ngƣời ta định nghĩa rằng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản bao gồm những
kỹ thuật điều trị vô sinh, trong đó, có chọc hút trứng và đem trứng ra bên
ngoài cơ thể. Tuy nhiên, trong điều kiện các kỹ thuật điều trị vô sinh ở Việt
Nam kỹ thuật thụ tinh nhân tạo đƣợc đƣa vào là một trong các kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản.
Thụ tinh nhân tạo - Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intra Uterine
Insemination - IUI) Thụ tinh nhân tạo là một trong những kỹ thuật điều trị vô
sinh phổ biến nhất, đặc biệt trong hoàn cảnh nƣớc ta hiện nay. Hiện nay, hầu

7


hết các trung tâm trên thế giới đều áp dụng kỹ thuật kỹ thuật bơm tinh trùng
sau chuẩn bị vào buồng tử cung để thực hiện thụ tinh nhân tạo. Do đó, khi nói
đến thụ tinh nhân tạo, có thể hiểu là kỹ thuật bơm tinh trùng vào tử cung với
tinh trùng đã chuẩn bị. Một số kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hiện nay không còn
hoặc ít đƣợc sử dụng nhƣ bơm tinh trùng đã chuẩn bị vào cổ tử cung, bơm
môi trƣờng chứa tinh trùng vào đến vòi trứng và ổ bụng.
Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển phôi (In-vitro Fertilization/

đƣợc phôi tốt để chuyển vào buồng tử cung. Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào
tƣơng trứng hiện nay có thể thực hiện với tinh trùng tƣơi hoặc sau trữ lạnh;
tinh trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng sinh thiết từ mào tinh và tinh hoàn.
Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với sự tham gia của "ngƣời thứ ba". Các kỹ
thuật điều trị trên cũng dựa trên cơ sở kỹ thuật của các kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm, chuyển giao tử vào vòi
trứng, chuyển hợp tử vào vòi trứng, chuyển phôi vào vòi trứng, tiêm tinh
trùng vào bào tƣơng trứng. Tuy nhiên, do tính chất của bệnh lý vô sinh, để
điều trị, cần có sự hỗ trợ về sinh học của ngƣời thứ ba. Đây là những kỹ thuật
điều trị có liên quan nhiều đến các vấn đề y học, pháp lý, nhân đạo và quan
niệm đạo đức xã hội.
Các kỹ thuật này bao gồm:
Xin tinh trùng: kỹ thuật này để điều trị cho các trƣờng hợp vô sinh
nam hoàn toàn không có tinh trùng.
Xin noãn: kỹ thuật này áp dụng cho những trƣờng hợp ngƣời vợ bị cắt
buồng trứng, buồng trứng bị suy yếu. Noãn xin từ ngƣời thứ ba có thể để thực
hiện thụ tinh trong ống nghiệm hoặc tiêm tinh trùng vào bào tƣơng trứng với
tinh trùng chồng sau đó chuyển phôi lại vào tử cung ngƣời vợ.

9


Xin phôi: phôi dƣ từ các cặp vợ chồng làm thụ tinh trong ống nghiệm
sau khi đã thành công, có đủ con, đƣợc tự nguyện hiến lại cho ngân hàng
phôi. Phôi đƣợc chuyển vào tử cung ngƣời xin.
Mang thai hộ: kỹ thuật này thƣờng đƣợc áp dụng cho những trƣờng
hợp ngƣời phụ nữ có buồng trứng bình thƣờng nhƣng đã bị cắt tử cung hoặc
bị bệnh lý nội khoa nặng (Ví dụ: bệnh tim) khiến việc mang thai có thể nguy
hiểm đến tính mạng của mẹ và con. Tinh trùng chồng và trứng ngƣời vợ đƣợc
cho thụ tinh trong ống nghiệm. Sau đó phôi đƣợc chuyển vào tử cung ngƣời

thụ tinh trong ống nghiệm cho ngƣời nƣớc ngoài và ngày càng thu hút họ đến
nƣớc ta. Cũng theo bác sĩ:
Theo thống kê chƣa đầy đủ, chỉ riêng ba trung tâm lớn trên
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện An Sinh, bệnh viện
Vạn Hạnh, bệnh viện Từ Dũ, mỗi trung tâm tiếp nhận, điều trị, hỗ
trợ sinh sản thụ tinh trong ống nghiệm cho khoảng 200 trƣờng hợp
ngƣời nƣớc ngoài/năm và con số này ngày càng gia tăng. Trong đó,
bệnh viện An Sinh mỗi năm có 100-150 trƣờng hợp điều trị thụ tinh
trong ống nghiệm cho ngƣời nƣớc ngoài [36, tr. 40].
Trong khi đó, theo các chuyên gia y tế, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
của Việt Nam hiện đã phát triển thành công dù đi sau nhờ nhiều yếu tố. Đó là
đƣợc đầu tƣ thiết bị tiên tiến, cán bộ y tế lĩnh vực này đều trẻ, đƣợc đào tạo bài
bản ở nƣớc ngoài, có kinh nghiệm và kiến thức nền tảng tốt, tổ chức đƣợc những
hội thảo nhóm hằng năm có chất lƣợng chuyên môn cao, đi sâu vào học thuật,
đội ngũ bác sĩ, nhân viên hỗ trợ LAB, điều dƣỡng… giao tiếp tiếng Anh tốt.
Một trong những yếu tố góp phần vào thành công này là do chi phí
thấp. Cụ thể, một ca thụ tinh trong ống nghiệm ở Việt Nam chỉ bằng 1/4 hoặc
1/3 với khu vực và 1/6 -1/8 so với Mỹ [36, tr. 40].
Thành tựu gần đây nhất Bệnh viện Từ Dũ đã thành công trong việc
thực hiện kỹ thuật nuôi trƣởng thành noãn trong ống nghiệm. Đây là một kỹ
thuật khó, trên thế giới ít có bệnh viện nào có thể thực hiện đƣợc. Với thành
công này Việt Nam đƣợc xem nhƣ một trong những quốc gia hàng đầu trong

13


kỹ thuật này, nhiều chuyên gia của Việt Nam đƣợc mời sang nƣớc ngoài để
giảng dạy kỹ thuật trên cũng nhƣ thu hút nhiều học viên các nƣớc khác tìm
đến Việt Nam để học tập. Điều này đã từng bƣớc khẳng định đƣợc vị trí của
Việt Nam trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, không chỉ về kinh nghiệm điều trị,

Bên cạnh đó, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm
phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa ngƣời cho tinh trùng, cho noãn, cho
phôi với ngƣời con đƣợc sinh ra: quy định này phù hợp với nguyên tắc áp
dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là: "việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận
phôi đƣợc thực hiện trên nguyên tắc vô danh giữa ngƣời cho và ngƣời
nhận" [12, khoản 4 Điều 3]. Lý do mà pháp luật quy định nhƣ vậy xuất phát
từ việc chính cặp vợ chồng vô sinh và ngƣời phụ nữ độc thân là ngƣời đem lại
sự sống cho đứa trẻ và họ cũng là ngƣời mong muốn có đứa trẻ chứ không
phải là ngƣời cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi. Quy định trên cũng nhằm
tránh những tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con của các chủ thể liên quan, là cơ
sở đảm bảo ổn định mối quan hệ cha, mẹ, con, giúp cặp vợ chồng, ngƣời phụ
nữ độc thân yên tâm nuôi dạy đứa trẻ trong điều kiện tốt nhất.
Vì thế, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, việc tiến hành các biện pháp
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, trong đó có hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân
hàng tinh trùng là hoàn toàn phù hợp thực tế, mang ý nghĩa nhân văn cao cả.
1.2.3. Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng
tinh trùng giúp đảm bảo khả năng thực hiện chức năng cơ bản của gia
đình - chức năng tái sản xuất con người
Là một trong những thiết chế cơ bản của xã hội, gia đình đảm nhận
chức năng tái sản xuất con ngƣời; tái tạo, bảo dƣỡng sức lao động cho xã hội.
Tái sản xuất con ngƣời là một chức năng cơ bản và riêng có của gia đình.
Hoạt động sinh con đẻ cái trƣớc hết xuất phát từ nhu cầu tồn tại của chính con
ngƣời, của xã hội. Việc thực hiện chức năng này không chỉ nhằm thỏa mãn

15


nhu cầu, mong ƣớc của ngƣời vợ, ngƣời chồng mà còn là vấn đề xã hội, vấn
đề duy trì tính liên tục của xã hội.
Theo Ph. Ăngghen, "con ngƣời ta thay đổi hàng ngày cuộc sống của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status