Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong lịch sử, vai trò của tôn giáo được đánh giá hết sức khác nhau, th ậm
chí đối lập nhau. Tuy nhiên, điểm chung có thể rút ra là, tôn giáo v ừa có kh ả
năng cản trở sự phát triển của con người và xã hội, song cũng có th ể tạo nên
những giá trị có tính tích cực. Vì vậy, việc nghiên cứu phải hướng đến phát
hiện những hợp lý và khiếm khuyết của tôn giáo và những ảnh hưởng c ủa nó
đã, đang và sẽ có đối với lịch sử nhân loại. Và điều này là th ực s ự c ần thi ết cho
thời đại ngày nay, khi cùng với sự phát triển của khoa h ọc, của các trào l ưu
hiện đại hóa, các tôn giáo khác trên thế giới đang có xu hướng gắn bó h ơn v ới
đời sống thế tục, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị, văn hóa xã h ội và đ ạo
đức, lối sống để tự điều chỉnh, thích ứng với xu thế của th ời đại, mong gi ữ
được thánh địa thiêng liêng của mình để tiếp tục tồn tại và tồn tại lâu dài.
Thực tế ở Việt Nam, trong quá trình lịch sử lâu dài, bên c ạnh nh ững h ạn
chế nhất định, tôn giáo đã có những đóng góp tích cực cho nền văn hóa dân
tộc, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Vi ệt Nam….. Trong
các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo là một tôn giáo l ớn được du nhập vào Vi ệt
Nam từ rất sớm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Vi ệt Nam, Ph ật giáo
đã có đóng góp cho dân tộc trên nhiều phương diện, đặc bi ệt là trên lĩnh v ực
đạo đức, lối sống. Nhiều chuẩn mực đạo đức Phật giáo đã được người Vi ệt
Nam dựa trên cơ sở văn hóa của mình lựa chọn, tiếp nhận, nâng cao và s ử
dụng ở các mức độ và phương diện khác nhau, góp phần hình thành những giá
trị, chuẩn mực trong lối sống của người dân Việt Nam. Có thể nói, tồn tại cùng
dân tộc trong hơn hai ngàn năm qua, Phật giáo đã trở thành m ột ph ần không
thể thiếu trong nên văn hóa Việt Nam.
Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam theo đ ịnh
hướng xã hội chủ nghĩa đang bước vào giai đoạn mới - giai đoạn đẩy mạnh
toàn diện công cuộc đổi mới và đẩy nhanh công nghi ệp hóa, hi ện đ ại hóa đ ất
trong quá trình xây dựng đời sống mới xã hội chủ nghĩa là vi ệc làm c ần thi ết
trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
Phật giáo là tôn giáo được sinh ra trên đất nước Ấn Độ cổ đ ại. Không bao
lâu sau khi ra đời, nó đã phát tri ển rộng khắp các n ước thu ộc khu v ực Châu Á,
và sau
này nó lan tỏa mạnh sang các nước phương Tây. Cùng với quá trình lịch s ử,
Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể cho nền văn hóa nhân loại. Chính vì
vậy, Phật giáo và vai trò của nó trong đời sống xã hội nói chung từ lâu đã thu
hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa họa không chỉ ở phương Đông mà
Trang 3
cả phương Tây. Nhìn chung các nhà khoa học khi nghiên cứu về Ph ật giáo đ ều
đánh giá cao những giá trị văn hóa của nó.
Ở thế kỷ XVIII, Emmanuel Kant nghiên cứu về Phật giáo Tích Lan, Mi ến
Điện, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đánh giá cao những giá tr ị đ ạo đ ức c ủa
tôn giáo này thông qua nhận thức và hành vi của các vị tu sĩ, qua thuy ết “Duyên
khởi”, thuyết “Luân hồi” của Phật giáo. Sau đó là có thêm m ột s ố tri ết gia
người Đức khác như Schelling Hegel, Nietzche, Schopenhaueur….. cũng chú ý
đến Phật giáo. Nhìn chung, các nhà triết gia người Đức này đ ều đánh giá Ph ật
giáo là một tôn giáo cao thâm thể hiện ở các quan ni ệm c ủa nó v ề th ế gi ới và
con người như quan niệm: thế giới là vô thủy vô chung, thế gi ới vận động
biến đổi không ngừng, con người là “ vô ngã” …. Đặc bi ệt, h ọ chú ý đ ến quan
niệm “ Nhân quả, luân hồi” trong giáo lý nhà Phật, và cho đây là những đi ều
huyền bí nhất cần khám phá trong văn hóa phương Đông.
Hai học giả người Nga là Thedore Schesbatsky và Otta Rosenberg lại r ất
lý thú về thuyết “Nghiệp” của đạo Phật. Hai ông cho rằng: “ Nghi ệp” là đi ểm
trung tâm, là cái làm nên nét đặc sắc của Phật giáo.
Anhxtanh, nhà bác học vĩ đại của nhân loại, khi nghiên cứu về đ ạo Ph ật
Khang Hữu Vi, Đàm Tự Đồng, Lương Khải Siêu và Chương Thái Niệm đã sử
dụng triết học Phật giáo như một vũ khí tư tưởng chống lại trào lưu tư tưởng
sùng bái phương Tây.
Nhìn chung các học giả Phương Tây và phương Đông, khi nghiên cứu về
Phật giáo đều đánh giá cao những giá trị văn hóa đạo đức mà Phật giáo đã
đóng góp cho lịch sử nhân loại. Về cơ bản, những đánh giá của các h ọc gi ả nói
trên đều mang tính khoa học, khách quan.
Ở Việt Nam, từ lâu trong lịch sử, việc nghiên cứu Phật giáo và tác đ ộng
của nó đến đời sống xã hội nói chung cũng được quan tâm nghiên cứu.
Ngay từ đầu công nguyên, Mâu Từ với “ Lý hoặc luận” đã trình bày m ột
cách rất cơ bản các vấn đề Phật học then chốt như Phật, Pháp, Tăng, Ni ết
bàn, Luân hồi…. Qua tác phẩm này, ông cũng đã phân tích ảnh h ưởng m ột cách
tự nhiên của Phật giáo đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam.
Sau thế kỷ XIII, khi triều đại phong kiến Việt Nam đang trên đà h ưng
thịnh, việc nghiên cứu Phật giáo tiếp tục đẩy mạnh với các tên tu ổi như: Tr ần
Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung, Trần Nhân Tông…. Tr ần Thánh
Tông với “ Khóa hư lục” đã phản ánh khá rõ ảnh hưởng c ủa Ph ật giáo trong
đời sống văn hóa tinh thần Đại Việt. Trần Nhân Tông qua một loạt tác ph ẩm
cũng khẳng định vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội, ông muốn phát
huy hơn nữa vai trò của tôn giáo này, đồng thời xây dựng m ột tổ chức giáo h ội
chặt chẽ, thống nhất để trở thành trung tâm liên kết toàn xã h ội trên lĩnh v ực
tư tưởng.
Trang 5
Việc nghiên cứu Phật giáo và vai trò của nó trong đời s ống xã h ội Vi ệt
Nam được tiến hành liên tục trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc k ể c ả giai
đoạn Phật giáo suy giảm (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX)
Đặc biệt, từ những năm cuối thế kỷ XX trở đi đã xuất hi ện rất nhi ều
công trình khoa học nghiên cứu về Phật giáo, về vai trò của Ph ật giáo trong
Trang 6
Thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động của Phật giáo ở Việt Nam và
những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo qu ản lý”(thu ộc đ ề tài đ ộc l ập c ấp
Nhà nước).
Ngoài ra còn có nhiều công trình trên các tạp chí cũng đ ề c ập đ ến nh ững
ảnh hưởng của Phật giáo trên phương diện văn hóa, lối sống của người Việt
Nam như: “ Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Vi ệt Nam hi ện
nay” (Tạp chí Triết học số 2/1994) của Giáo sư. Tiến sĩ Đ ỗ Quang H ưng; “Bàn
thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hi ện nay”
(Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 10/2007) của Lê Văn Đính; “ Ảnh h ưởng c ủa
Tâm trong Phật giáo đối với văn hóa tinh thần của người Việt Nam hi ện nay
(Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 5/2008) của Nguyễn Đức Lữ …..
Điểm qua tình hình nghiên cứu như trên, chúng ta có rút ra m ột k ết lu ận
như sau:
Thứ nhất: Phật giáo và vai trò của Phật giáo trong đời s ống xã h ội là lĩnh
vực thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Các công trình
nghiên cứu tiếp cận phật giáo và vai trò của Phật giáo d ưới nhi ều quan đi ểm
và góc độ khác nhau.
Thứ hai: Có một số công trình đã có sự phân tích sâu sắc v ề nh ững ảnh
hưởng của một số giá trị Phật giáo đến các phương diện khác nhau trong l ối
sống của người Việt Nam.
Thứ ba: Trong một số công trình nghiên cứu về Phật giáo, các h ọc gi ả đã
chú ý nghiên cứu về những giá trị của Phật giáo như: giá tr ị đ ạo đức, giá tr ị
nghệ thuật, tư tưởng, giá trị thẩm mỹ…..
Tuy nhiên, thì chưa thấy có sự nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo
đến đời sống tinh thần con người Việt Nam một cách có h ệ th ống. Chính vì
vậy, trên cơ sở kết thừa thành quả nghiên cứu của các nhà khoa h ọc đi tr ước,
đề tài tập trung vào việc hệ thống hóa những ảnh hưởng của Ph ật giáo đ ối
với đời sống tinh thần con người Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
giáo và ảnh hưởng của phật giáo đến đời sống tinh thần của người Việt Nam
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau đây:
Thứ nhất: đề tài góp phần bồi dưỡng, nâng cao trình độ nghiên cứu v ề
tôn giáo nói chung, về Phật giáo nói riêng cho đội ngũ cán bộ công tác trong
lĩnh vực này.
Thứ hai: góp phần làm rõ ảnh hưởng hai mặt của Phật giáo đối v ới l ối
sống của người Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay nhằm tìm kiếm các
giải pháp để phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực c ủa
Phật giáo trong quá trình xây dựng lối sống mới ở Việt Nam.
7. Kết cấu của đề tài
Gồm 2 chương và 12 tiểu tiết.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO.
Trang 8
1.1.
Nguồn gốc, lịch sử ra đời và phát triển của Phật giáo.
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Ph ật, m ột trong
những tôn giáo có tầm ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới trong lịch sử cũng
như hiện nay.
1.1.1. Nguồn gốc ra đời của Phật giáo.
“Theo sự xác định niên đại truyền th ống, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn
được gọi là Đức Phật Cồ Đàm, sống trong khoảng thời gian từ năm 566 đến 485
trước Công Nguyên ở miền Trung Bắc Ấn Độ”.
Đức Thích Ca Mâu Ni được sinh ra trong một gia đình chi ến binh, quý t ộc
“Lang thang bao ki ếp s ống
Ta tìm nhưng không gặp
Người xây dựng nhà này
Khổ thay, phải tái sanh
Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi
Ngươi không làm nhà nữa
Đòn tay ngươi bị gẫy
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta được tịch diệt
Tham ái thảy tiêu phong”1
Câu kinh như một lời ca khải hoàn, mô tả sự chiến th ắng v ẻ vang r ực r ỡ
sau cuộc chiến đấu nội tâm thầm lặng gian nan. Ông th ợ tượng trưng cho ái
dục, vô minh, phiền não luôn ẩn sâu kín trong mỗi con người, nay đã b ị phát
hiện.
Đức Thế Tôn đã suy nghĩ đến giáo lý giải thoát sâu kín, khó th ấy, khó
chứng, tịch tịnh cao thượng, siêu lý luận, ly dục, vô ngã mà Ngài đã tâm đ ắc;
còn chúng sanh thì luôn chìm sâu vào ái dục, đ ịnh ki ến, ch ấp ngã … Làm th ế
nào để con người dễ dàng chấp nhận giáo lý ấy? Và rồi, v ới trí tu ệ của b ậc
giác ngộ, Đức Thế Tôn đã quan sát thế gian và thấy rằng: “Có h ạng chúng sinh
ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có hạng độn căn, lợi căn; có hạng thi ện
tánh, ác tánh; có hạng dễ giáo hóa, khó giáo hóa… Như trong h ồ sen xanh, h ồ
sen hồng, hồ sen trắng, sinh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên
khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước; có loại s inh ra dưới nước, lớn lên
dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nước thấm ướt…” Và như vậy,
với hình ảnh những cành sen vươn ra khỏi mặt nước, những cành ở l ưng
chừng, những cành ở sâu trong lòng nước v.v… đã gợi lên trong Thế Tôn về căn
1 Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu
với các hình thức Shaivite của Ấn Độ giáo, lan truy ền từ Ấn Độ đ ến Nepal, Nam
Dương, Mã Lai và các vùng ở Đông Nam Á, bắt đầu vào kho ảng th ế k ỷ V.
Truyền thống Đại thừa Tây Tạng, bắt đầu từ thế kỷ VII, kế thừa toàn bộ lịch
Trang
11
sử phát triển của Phật giáo Ấn Độ, trải rộng khắp các vùng Hy Mã L ạp S ơn và
đến Mông Cổ, Đông Turkistan, Kyrgyzstan, Kazakhstan, phía Bắc N ội Trung
Hoa, Mãn Châu, Siberia và vùng Kalmyk thuộc Mông Cổ gần bi ển Caspian,
thuộc phần Châu Âu của nước Nga.
Sự lan rộng của đạo Phật ở hầu hết Châu Á đã diễn ra một cách an hòa,
theo nhiều cách. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã lập ra ti ền l ệ. Tr ước khi, là một
vị thầy, ngài đã đến các vương quốc lân cận để chia sẻ sự hi ểu bi ết sâu s ắc
của mình với những ai có lòng quan tâm và muốn học h ỏi. Tương tự nh ư th ế,
ngài chỉ thị các tăng sĩ của ngài đi khắp n ơi đ ể giải thích nh ững giáo hu ấn c ủa
mình. Ngài không kêu gọi người khác chỉ trích và từ b ỏ tôn giáo của h ọ hay c ải
đạo theo đạo mới, vì ngài không tìm cách thi ết lập tôn giáo riêng c ủa mình.
Ngài chỉ cố gắng giúp người khác vượt qua sự bất hạnh và khổ đau mà họ
đang tạo ra cho chính mình, vì thi ếu sự hi ểu bi ết. Các th ế h ệ môn đ ồ sau này
nhận nguồn cảm hứng từ tấm gương của đức Phật và họ chia s ẻ v ới người
khác các phương pháp của ngài mà họ thấy mang lại l ợi lạc cho đ ời s ống của
họ.
1.2. Nội dung chủ yếu của tư tưởng triết học Phật giáo.
1.2.1. Những quan điểm của Phật giáo về thế giới quan.
Phật giáo cho rằng các sự vật và hiện tượng trong vũ trụ (chư pháp) là vô
thủy, vô chung (vô cùng, vô tận). Tất cả thế gi ới đều ở quá trình bi ến đ ổi liên
tục (vô thường) không có một vị thần nào sáng tạo ra vạn vật cả. Tất cả các
Pháp đều thuộc về một giới (vạn vật đều nằm trong vũ trụ) g ọi là Pháp gi ới.
Mỗi một pháp (mỗi một sự việc hiện tượng, hay một lớp s ự vi ệc hi ện t ượng)
Trong thế giới sinh vật, khi đã giải thích về nguyên nhân bi ến hóa vô
thường của nó, từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện đại tới tương lai. Ph ật giáo đã
trình bày thuyết “ Thập Nhị Nhân Duyên” (mười hai quan hệ nhân duyên) được
coi là cơ sở của mọi biến đổi trong thế giới hiền sinh, m ột cách tất y ếu c ủa s ự
liên kết nghiệp quả.
Vô minh: là cái không sáng suốt, mông muội, che lấp cái bản nhiên sáng
tỏ.
Hành: là suy nghĩ mà hành động, do hành động mà tạo nên kết qu ả, tạo
ra cái nghiệp, cái nếp. Do hành động mà có thức ấy là hành làm qu ả cho vô
minh và là nhân cho Thức.
Thức: là ý thức là biết. Do thức mà có Danh sắc, ấy là Thức làm qu ả cho
hành và làm nhân cho Danh sắc.
Trang
13
Danh sắc: là tên và hình ta đã biết tên ta là gì thì phải có hình của ta. Do
danh sắc mà có Lục xứ, ấy danh sắc làm quả cho thức và làm nhân cho Lục xứ.
Lục xứ hay lục nhập: là sáu chỗ, sáu cảm giác: Mắt, mũi, lưỡi, tai, thân và
tri thức. Đã có hình hài có tên phải có Lục xứ để ti ếp xúc v ới v ạn v ật. Do L ục
nhập mà có xúc - tiếp xúc.Ấy là Lục xứ làm quả cho Danh sắc và làm nhân cho
Xúc.
Xúc: là tiếp xúc với ngoại cảnh qua sáu cơ quan xúc giác gây nên m ở r ộng
xúc, cảm giác. Do xúc mà có thụ ấy là xúc làm qu ả cho L ục x ứ và làm nhân cho
Thụ.
Thụ: là tiếp thu, lĩnh nạp, những tác động bên ngoài tác động vào mình.
Do thụ mà có ái. Ấy là thụ làm quả cho Xúc và làm nhân cho Ái.
Ái: là yêu, khát vọng, mong muốn, thích. Do ái mà có Thủ. Do đó, ái làm
quả cho Thụ và làm nhân cho Thủ.
Thủ: là lấy, chiếm đoạt cho minh. Do thủ mà có Hữu. Do v ậy mà Thủ làm
không thực có sinh, có diệt, có người, có mình, có cảnh, có v ật, có không gian,
có thời gian. Đó chính là cái chân lý cho ta thấy được cái chân thế tuyệt đối của
vũ trụ. Thấy được điều đó gọi là “ chân như” là đạt tới cõi hạnh phúc, cực l ạc,
cõi niết bàn. Thế giới của chúng sinh (loài người) cũng do nhân duyên k ết h ợp
mà thành. Đó là sự kết hợp của hai thành phần: Phần sinh lý và phần tâm lý.
Cái tôi sinh lý tức là thể xác, hình chất với yếu tố “s ắc” (địa, th ủy, hóa,
phong) tức là cái cảm giác được.
Cái tôi tâm lý (tinh thần) linh hồn tức là “tâm” v ới 4 y ếu t ố ch ỉ có tên g ọi
mà không có hình chất gọi là “Danh”.
Trong “Sắc” gồm những cái nhìn thấy được cũng như những thứ không
nhìn thấy được nếu nó nằm trong quá trình biến đổi của “s ắc” gọi là “vô bi ến
sắc” như vật chất chuyển hóa thành năng lượng chẳng hạn. Bốn y ếu tố do
nhân duyên tạo thành phần tâm lý (tinh thần) của con người là:
Thụ: Những cảm giác, cảm thụ về khổ hay sướng, đưa đến sự xúc ch ạm
lĩnh hội thân hay tâm.
Tưởng: Suy nghĩ, tư tưởng.
Hành: ý muốn thúc đẩy hành động.
Thức: Nhận thức, phân biệt đối tượng tâm lý ta là ta.
I.2.2.
Những quan điểm phật giáo về nhân sinh quan.
Phật giáo quan niệm bản thân con người được tạo thành do sự nhóm
họp của ngũ uẩn theo luật nhân – duyên– quả.
Trang
15
Hai thành phần tạo nên từ ngũ uẩn do Nhân - Duyên tạo thành mỗi sinh
vật cụ thể có danh và có sắc. Duyên hợp ngũ uẩn thì là ta. Duyên tan ngũ u ẩn
thì là diệt. Quá trình hợp tan ngũ uẩn do Nhân - Duyên là vô cùng t ận. Các y ếu
16
Nghiệp báo trong một đời là sự tổng hợp của các nghiệp gây ra trong
hiện tại cộng với các nghiệp gây ra trong quá khứ, nó quy ết định đ ời sau x ấu
hay tốt, thiện hay ác.
Luân hồi: (Chữ phạn là Samsara có nghĩa là bánh xe quay tròn) Đ ạo ph ật
cho rằng, sau khi một thể xác sinh vật nào đó ch ết thì linh h ồn sẽ tách ra kh ỏi
thể xác và đầu thai vào một sinh vật khác nhập vào một th ể xác khác (có th ể
là con người, loài vật thậm chí cỏ cây). Cứ thế mãi do kết quả, quả báo hành
động của những kiếp trước gây ra. Đó cũng là cách lý gi ải căn nguyên n ỗi kh ổ
ở đời con người.
Sau khi lý giải được nỗi khổ ở cuộc đời con người là do “ thập nhị nhân
duyên” làm cho con người rơi vào bể trầm luân. Đạo Phật đã chủ trương tìm
con đường diệt khổ. Con đường giải thoát đó không những đòi hỏi ta nhận
thức được nó mà cao hơn ta phải hành động, phải thấm nhuần tứ diệu đế.
Tứ diệu đế: Là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý l ớn, đòi h ỏi chúng
sinh phải thấu hiểu và thực hiện nó. Tứ diệu đế gồm:
Khổ đế: Con người và vạn vật sinh ra là khổ, ốm đau là khổ, già yếu là
khổ, chết là khổ, ghét nhau mà phải sống gần nhau là khổ, yêu nhau mà ph ải
chia lìa nhau là khổ, mất là khổ mà được cũng là khổ.... Những n ỗi khổ ấy từ
đâu? chúng ta tiếp tục tìm hiểu Tập đế.
Tập đế: Tập hợp, tụ tập lại mà thành, tạo ra nỗi khổ cho chúng sinh. Đó
là do con người có lòng tham, dâm (giận dữ), si (si mê, cu ồng mê, mê mu ội) và
dục vọng. Con người bị lòng tham và dục vọng xâu xé là do không nắm đ ược
nhân duyên vốn như là một định luật chi phối toàn vũ trụ. Chúng sinh không
biết rằng mọi cái là ảo ảnh, sắc sắc, không không. Cái tôi tưởng là có nhưng
thực là không. Vì không hiểu được ra nỗi khổ triền miên, từ đời này qua đời
khác.
Diệt đế: Là phải thấu hiểu được “ Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được
căn nguyên của sự khổ - để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ. Th ực
chất là thoát khỏi nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử.
người khác.
Bất dâm: Không gian dâm, chỉ quan hệ chính đáng một vợ một chồng.
Không gian dâm thì sự giao thiệp ở đời không có những điều tr ắc tr ở đ ể đ ến
nỗi lắm khi gây ra những điều đắng cay chua xót.
Bất vọng ngữ: Không nói dối, không bịa đặt ra điều nọ chuyện kia sai s ự
thật, không vu oan cho người khác.
Trang
18
Bất ẩm tửu: Không uống rượu, vì rượu chè say sưa thì loạn mất trí khôn,
không giữ được tinh thần sáng suốt thành ra mà làm lắm sự tai hại.
“Lục độ” gồm:
Bố thí: Đem công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực
chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn.
Trí giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện.
Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng.
Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên.
Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, không để cho cái xấu
che lấp.
Bát nhã: Trí tuệ hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian.
Tóm lại: Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện “Bát
hành đạo”, “Ngũ giới”, “Lục độ” thì chúng sinh mới có thể gi ải thoát mình ra
khỏi nỗi khổ. Phật giáo không chủ trương giải phóng bằng cách mạng xã h ội.
Mặc dù Phật giáo lên án rất gay gắt chế độ người bóc lột người, ch ống lại chủ
nghĩa duy tâm của Bàlamôn giáo. Đó là một trong những nhược điểm đồng
thời cũng là ưu điểm nửa vời của Đạo phật. Đứng trước bể khổ của chúng
sinh Phật giáo chủ trương cải tạo tâm linh chứ không phải cải tạo th ế gi ới
hiện thực. Như vậy Phật giáo nguyên thủy có tư tưởng vô thần, phủ nhận
đấng sáng tạo (vô ngã, vô tạo giả) và có tư tưởng bi ện ch ứng (vô th ường, lý
Đạo Silk (Sikhism)
Yoruba religion
Juche
Do Thái giáo (Judaism)
Thông linh giáo (Spiritism)
Ba-hai giáo ( Bahai faiths)
Jainism
Thần đạo (Shinto)
Cao đài giáo (Cao Dai)
Tenrikyo
Không theo tôn giáo (Neo-Paganism)
Nhất thần giáo (Unitarian-Universalism)
Số lượng tín đồ
2 triệu
1.3 triệu
900 triệu
850 triệu
360 triệu
225 triệu
190 triệu
23 triệu
20 triệu
19 triệu
14 triệu
14 triệu
6 triệu
4 triệu
4 triệu
3 triệu
89 650 00
Thái Lan
55 480 000
Việt Nam
49 690 000
Miến Điện
41 610 000
Tích Lan
12 540 000
Nam Triều Tiên
10 920 000
Đài Loan
9 150 000
Campuchia
9 130 000
cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Có thể gọi là đi ều ki ện gần gũi
nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa. Thứ hai là Tăng Th ượng Duyên
tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và n ước là
tăng thượng duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những đi ều
kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục
không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.
Luật nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh
mới có thể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật. Theo đạo lý duyên sinh, m ột
nhân đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao gi ờ
cũng đóng vai trò quả, cho một nhân khác. Về giáo lý nghiệp báo hay nghi ệp
nhân quả báo của Đạo Phật đã được truyền vào nước ta rất s ớm. Giáo lý này
đương nhiên đã trở thành nếp sống tín ngưỡng hết sức sáng tỏ đ ối v ới ng ười
Việt Nam có hiểu biết, có suy nghĩ. Người ta bi ết l ựa ch ọn ăn ở hi ền lành, dù
tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghi ệp báo, nó ch ẳng
những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh hưởng đến giới trí thức. Có th ể
nói mọi người dân Việt điều ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này. Vì th ế, lý
nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét trong văn ch ương bình dân, trong văn
học chữ Nôm, chữ Hán, từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ con người
biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân quả nghi ệp báo mà hành đ ộng sao cho
tốt đẹp đem lại hòa bình an vui cho con người. Thậm chí tr ẻ con mười tu ổi
Trang
22
cũng tự nhiên biết câu: "ác giả ác báo". Chúng phát bi ểu câu rất đúng hoàn
cảnh sự việc xảy ra cho đối phương, hay "chạy trời không khỏi n ắng". Mặt
khác họ hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định nghi ệp mà có th ể làm thay
đổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thi ện. S ống ở đ ời, đ ột nhiên
những tai họa, biến cố xảy ra cho họ, thì họ nghĩ rằng ki ếp tr ước mình vụng
đường tu nên mới gặp khổ nạn này. Không than trời trách đ ất, cam ch ịu và t ự
23
bước phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt. Tình th ương ở m ọi
người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đ ến
tình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê h ương
đất nước và mở rộng đến quê hương cao cả đối với cuộc sống của nhân loại
trên vũ trụ này. Đặc biệt trong đạo lý Tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và
ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Vi ệt. Vì Đạo Phật
rất chú trọng đến hiếu hạnh, và được Đức Phật đã thuyết gi ảng đề tài này
trong nhiều kinh khác nhau như Kinh Báo Phụ Mẫu Ân, kinh Thai C ốt, kinh
Hiếu Tử, kinh Đại Tập, kinh Nhẫn Nhục, kinh Vu Lan.. nhắc đ ến công lao
dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: "muôn việc ở thế gian, không gì hơn công
ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ" (Kinh Thai C ốt), hay kinh Nh ẫn Nh ục d ạy:
"cùng tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt đi ều ác không gì h ơn b ất
hiếu". Bởi Phật giáo đặc biệt chú trọng chữ hi ếu như thế nên thích h ợp v ới
nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt.
Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng m ột đ ối tượng
thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân, chúng sanh, vũ
trụ, đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa. Đạo lý
Tứ Ân còn có chung cái động cơ thúc đẩy là Từ bi, H ỷ xã khi ến cho ta s ống hài
hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực và miên
trường. Từ cơ sở tư tưởng triết học và đạo lý trên đã giúp cho Ph ật Giáo Vi ệt
Nam hình thành được một bản sắc đặc thù rất riêng bi ệt của nó tại Vi ệt Nam,
góp phần làm phong phú và đa dạng hóa nền văn hóa tinh th ần của dân t ộc
Việt.
2.2.
Ảnh hưởng Phật giáo qua quá trình hội nhập văn hóa Việt.
Phật Pháp là bất định pháp, luôn luôn uy ển chuy ển theo hoàn c ảnh và
căn cơ của chúng sanh để hoàn thành sứ mạng cứu khổ của mình. V ới tinh
thần nhập thế tùy duyên bất biến mà Đạo Phật đã tạo cho mình một sức s ống
Ảnh hưởng Phật giáo qua sự dung hòa với các tôn giáo khác:
Đó là kết quả của sự phối hợp và kết tinh của Đạo Phật v ới đạo Nho và
đạo Lão, được các nhà vua thời Lý công khai hóa và hợp pháp hóa. Chính vì đ ặc
tính dung hòa và điều hợp này mà Phật Giáo Việt Nam đã trở thành tín ngưởng
truyền thống của dân tộc Việt. Nó chẳng phải Phật giáo Ấn Độ hay Trung Hoa,
Tiểu Thừa hay Đại Thừa, mà nó là tất cả những khuynh hướng tâm linh c ủa
người dân Việt. Nó thực ra là cái "Đồng Qui Nhi Thù Đ ồ", cùng về m ột đích mà
đường lối khác nhau, chính tinh thần khai phóng của Phật Giáo Vi ệt Nam đã
kết tinh lấy Chân, Thiện, Mỹ làm cứu cánh để thực hiện. Nho giáo th ực hi ện
cứu cánh ấy bằng con đường Thiện, tức là hành vi đạo đức đ ể t ới ch ỗ nh ất
quán với Mỹ và Chân. Đạo giáo thực hiện cứu cánh ấy bằng con đường Mỹ, tức
5 Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điển.
6 Xem bài "Đạo Phật Việt Nam qua cái nhìn của hai Phật tử Đan Mạch". Thích Nguyên Tạng phỏng
vấnông Ole Felsby và bác sĩ Pia Jeppesen, Báo Giác Ngộ, số 2, tháng 5, 1996. Trang 67 – 96.
Trang
25
là tâm lý nghệ thuật để tới chỗ nhất quán với Thiện và Chân. Ph ật giáo th ực
hiện cứu cánh ấy bằng con đường trí tuệ giác ngộ để đạt tới chỗ nhất quán
Chân, Thiện, Mỹ. Đó là thực tại Tam Vi Nhất của tinh th ần tam Giáo Vi ệt Nam.
Trong nhiều thế kỷ hình ảnh tam giáo tổ sư với Phật Thích Ca ở gi ữa, Lão Tử
bên trái và Khổng Tử bên phái đã in sâu vào tâm th ức c ủa người dân Vi ệt Nam
hiện nay.
2.2.3. Ảnh hưởng Phật giáo qua sự dung hòa với các th ế h ệ chính tr ị xã h ội:
Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật giáo Vi ệt Nam có ch ủ
trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các th ời
Đinh, Lê, Lý, Trần. Trong các thời này các vị cao tăng có h ọc th ức, có gi ới h ạnh
điều được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan
trọng của quốc gia. Ta thấy có nhiều lý do khiến các thi ền sư Vi ệt Nam tham