Công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005 - Pdf 43

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------o0o--------------

TRẦN TRỌNG ĐẠO

CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG
TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH KHÁNH HÒA
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------o0o--------------

TRẦN TRỌNG ĐẠO

CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG
TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO Ở TỈNH KHÁNH HÒA
TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62 22 56 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Thu Hương
TS Nguyễn Trọng Thóc



3

MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………………………………

4

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN………………………………………………………………………………..…………....……… 10
1.1. Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án………..…… 10
1.2. Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu…………………………………………..……

31

Chương 2. CHỦ TRƯƠNG VÀ QUÁ TRÌNH CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO
CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000............... 33
2.1. Yêu cầu khách quan của công tác phát triển Đảng trong đồng bào
các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa........................................................................................................ 33
2.1.1. Vai trò, tầm quan trọng và những yếu tố tác động đến công tác phát
triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.......... 33
2.1.2. Thực trạng công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo của
Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa từ khi tái lập tỉnh đến năm 1996................................. 45
2.2. Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo thực hiện công tác phát triển
Đảng trong đồng bào các tôn giáo từ năm 1996 đến năm 2000...…............ 51
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh ......................................................................................................... 51
2.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện................................................................................................................. 59
2.2.3. Kết quả công tác kết nạp đảng viên là tín đồ các tôn giáo..................................... 67
Chương 3. ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HÒA THỰC HIỆN CÔNG TÁC
PHÁT TRIỂN ĐẢNG TRONG ĐỒNG BÀO CÁC TÔN GIÁO TỪ NĂM

4.2.1. Kinh nghiệm về quá trình đề ra chủ trương và giải pháp của Đảng bộ tỉnh..... 131
4.2.2. Kinh nghiệm về quá trình chỉ đạo thực hiện....................................................................... 135
KẾT LUẬN …………………………….…………………..………………..…………………………………………..….. 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN…………..……………………………...………….……….…………………………………………...………… 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO ….…………..………………………….….…………………………………...…..…... 148
PHỤ LỤC …………………………………..….…………………………………..………………...………………….……. 160

-2-


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: thống kê số liệu tín đồ được tạo nguồn từ năm 1996 đến năm 2000
Biểu đồ 2.2: thống kê số liệu tín đồ được học bồi dưỡng kết nạp Đảng từ năm
1996 đến năm 2000.….………………………………………………..………………………
Biểu đồ 2.3: thống kê số liệu đảng viên là tín đồ tôn giáo của tỉnh Khánh Hòa
được kết nạp từ năm 1996 đến năm 2000.….…………...………………………
Biểu đồ 2.4: cơ cấu độ tuổi của đảng viên là tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh
Hòa được kết nạp từ năm 1996 đến năm 2000.….……………...……………
Biểu đồ 2.5: cơ cấu trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ của đảng viên là
tín đồ các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa được kết nạp từ năm 1996
đến năm 2000.….……………………………………………………………………….…………

64
66
68
69

70

-3-

100
102

103

107

107

109
125
126
127


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong chiến đấu của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho mọi hành động. Đảng ra đời là do đòi hỏi khách quan của cuộc đấu tranh chống
chủ nghĩa thực dân xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng
bào, làm cho “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Để hoàn thành
sứ mệnh lịch sử cao cả này, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, phải
luôn chăm lo xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức là yêu cầu khách
quan, nhiệm vụ thường xuyên của Đảng.
Công tác phát triển đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng của công tác xây
dựng Đảng, bởi Đảng muốn tồn tại, tiếp tục giữ vững và tăng cường vai trò lãnh

Khánh Hòa là một lực lượng xã hội quan trọng, là bộ phận của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc và nhân tố góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội
và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương. Do vậy, công tác tôn giáo là một
lĩnh vực quan trọng đối với tỉnh Khánh Hòa, đặc biệt khi đất nước bước vào thời kỳ
đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ khi đổi mới đất nước (1986), đặc biệt sau Nghị quyết số 24 - NQ/TW ngày
16 tháng 10 năm 1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình
hình mới, hoạt động của các tôn giáo cả nước nói chung, Khánh Hòa nói riêng ngày
càng ổn định, gắn kết tốt giữa đạo với đời. Đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh
Khánh Hòa tích cực lao động sản xuất, có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế,
văn hóa - xã hội, giữ vững ổn định chính trị và an ninh - quốc phòng, đặc biệt là
công tác từ thiện nhân đạo của tỉnh. Đa phần đồng bào luôn thể hiện tinh thần trách
nhiệm trong việc xây dựng xã hội ngày càng phồn vinh, quê hương, đất nước ngày
càng giàu mạnh, một số tín đồ có ý thức chính trị tốt được các tổ chức cơ sở đảng
quan tâm tạo nguồn, bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng. Tuy nhiên, bên cạnh yếu tố
chủ quan từ chính giáo hội và việc làm của một số tín đồ, chức sắc các tôn giáo
trong lịch sử cũng như hiện tại dẫn đến sự nhìn nhận của một bộ phận cán bộ, đảng
viên và quần chúng nhân dân còn thành kiến với các tôn giáo, trước hết với Công
giáo, Tin lành. Thực tế này là một nguyên nhân quan trọng làm công tác phát triển

-5-


Đảng trong đồng bào các tôn giáo chưa tương xứng với vai trò, vị trí và những đóng
góp của đồng bào cho sự phát triển chung của tỉnh. Qua thực tiễn công tác và lao
động sản xuất, một bộ phận tín đồ, chức sắc luôn thể hiện thái độ chính trị tốt, tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và có nhiều đóng góp thiết
thực cho địa phương, nhưng chưa được các chi bộ đảng, các tổ chức chính trị - xã
hội quan tâm bồi dưỡng, tạo điều kiện để phấn đấu trở thành đảng viên của Đảng.
Đi sâu nghiên cứu công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở một

của các cấp ủy đảng cơ sở trong công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo;
công tác tạo nguồn, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện và quản lý quần chúng ưu tú là
tín đồ các tôn giáo để kết nạp vào Đảng; kết quả công tác kết nạp đảng viên là tín đồ
các tôn giáo (số lượng và cơ cấu đảng viên mới kết nạp).
- Không gian nghiên cứu của đề tài là tỉnh Khánh Hòa, bao gồm 15 Đảng bộ
trực thuộc: thành phố Nha Trang, thành phố Cam Ranh, thị xã Ninh Hòa, các
huyện: Vạn Ninh, Diên Khánh, Cam Lâm, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn; Khối Cơ quan
tỉnh, Khối Doanh nghiệp tỉnh, Quân sự tỉnh, Bộ đội Biên phòng tỉnh, Công an tỉnh,
Liên đoàn Quy hoạch và Tài nguyên nước miền Trung, Trường Đại học Nha Trang.
- Thời gian nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu từ năm 1996 đến năm 2005.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài làm rõ quá trình lãnh đạo công tác phát triển Đảng trong đồng bào các
tôn giáo từ năm 1996 đến năm 2005 của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa, góp phần tổng
kết thực tiễn - một nội dung quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ
đổi mới; trên cơ sở đó đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu làm cơ sở lịch sử cho
quá trình hoạch định chủ trương cũng như chỉ đạo thực hiện công tác phát triển
Đảng trong đồng bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa có hiệu quả hơn thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển Đảng trong đồng bào
các tôn giáo tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005.
- Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc điểm chủ yếu của đồng
bào các tôn giáo ở tỉnh Khánh Hòa; thực trạng công tác phát triển Đảng trong đồng
bào các tôn giáo trước năm 1996.

-7-


- Làm rõ thực trạng công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo tỉnh



- Làm rõ một số đặc điểm cơ bản của đồng bào các tôn giáo trên địa bàn tỉnh
Khánh Hòa tác động tới công tác phát triển Đảng trong những năm đẩy mạnh công
cuộc đổi mới toàn diện.
- Phục dựng lại quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa đề ra chủ trương, chỉ đạo
thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo từ năm 1996 đến
năm 2005.
- Chỉ rõ một số mặt đạt được, những hạn chế, khiếm khuyết và đúc kết kinh
nghiệm từ thực tiễn công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo trên địa
bàn tỉnh Khánh Hòa từ năm 1996 đến năm 2005.
6. Ý nghĩa của luận án
Luận án cung cấp những cứ liệu từ tổng kết thực tiễn công tác phát triển Đảng
trong đồng bào các tôn giáo cho các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận các cấp của
tỉnh Khánh Hòa, góp phần bổ sung, hoàn thiện việc xây dựng chủ trương, kế hoạch và
chỉ đạo thực hiện công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo thời gian tới.
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu vấn đề tôn giáo nói chung,
công tác phát triển Đảng trong đồng bào các tôn giáo nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận
án, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, Tài
liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được kết cấu gồm 3 chương, 6 tiết.

-9-


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

về lịch sử chính trị, đạo đức, lối sống. Do đó, sự tín nhiệm của quần chúng và trình
độ, năng lực lãnh đạo, quản lý của đảng viên được nâng lên, nhờ đó phần lớn đảng
viên đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Đề tài: Vấn đề xây dựng Đảng ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo
Thiên Chúa ở miền Bắc hiện nay, cơ quan chủ trì Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh (1995) - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh. Đề tài đã làm rõ một số nội dung cơ bản của công tác xây dựng Đảng ở các
vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa miền Bắc như: đặc điểm chủ yếu của
vùng đồng bào theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc và ảnh hưởng tới công tác xây dựng
Đảng; nội dung chính của công tác xây dựng Đảng gồm: công tác vận động quần
chúng theo tôn giáo; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền
địa phương về công tác tôn giáo; công tác xây dựng lực lượng nòng cốt trong hệ
thống chính trị vùng giáo; công tác xây dựng, phát triển Mặt trận Tổ quốc và các tổ
chức đoàn thể trong vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa; vấn đề kết nạp
đảng viên gốc tôn giáo…
Trên cơ sở nội dung công tác xây dựng Đảng, đề tài đánh giá khái quát thực
trạng của tổ chức cơ sở đảng ở một số vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa
của miền Bắc như Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam … và đề ra các giải pháp phát
huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, trong đó có nội dung cần đẩy mạnh công tác xây
dựng Đảng nói chung, phát triển đảng viên mới là quần chúng giáo dân nói riêng.
- Đề tài: Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng giao lưu
quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta hiện nay, cơ quan chủ trì: Trung tâm Khoa học về Tín ngưỡng và Tôn giáo (1998)
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Sau khi làm rõ một số nội dung như:
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
chính trị và tôn giáo; giới thiệu kinh nghiệm xử lý mối quan hệ giữa nhà nước với tôn
giáo ở một số nước trên thế giới; chính sách và việc thực hiện chính sách tôn giáo của
Đảng, Nhà nước Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1997…, các tác giả đưa ra ba giải

- 11 -



- 12 -


Việt Nam ở nước ngoài hiện nay; mối quan hệ giữa giáo dân, giáo sỹ, giáo hội Công
giáo với cán bộ Đảng, chính quyền còn nhiều khoảng cách, định kiến, mặc cảm;
giáo hội Công giáo miền Nam đang đẩy mạnh phong trào thế tục hóa, thích nghi với
thời đại theo tinh thần của cộng đồng Vatican II. Nội dung chính của công tác xây
dựng Đảng bao gồm công tác vận động quần chúng theo đạo Thiên chúa; công tác
lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về công tác tôn
giáo; công tác xây dựng lực lượng nòng cốt trong hệ thống chính trị và tăng cường
số lượng, chất lượng các đoàn viên, hội viên của các tổ chức đoàn thể trong hệ
thống chính trị vùng giáo; vấn đề kết nạp đảng viên gốc tôn giáo.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài đánh giá thực trạng tổ chức cơ sở đảng,
đội ngũ đảng viên gốc tôn giáo ở những vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên
chúa các tỉnh phía Nam. Về ưu điểm: cấp ủy đảng cơ sở nhiều nơi đã động viên
đảng viên sống cùng với đồng bào các tôn giáo giữ vững bản lĩnh chính trị, phát huy
vai trò lãnh đạo ở cơ sở và tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện
cho đảng viên an tâm sinh hoạt tôn giáo bình thường; nhiều đảng viên gốc tôn giáo
giữ vai trò cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt ở các cơ sở; nhiều đảng viên đã thể
hiện và nêu cao phẩm chất tốt đẹp của người đảng viên cộng sản, có trách nhiệm
với công việc, với địa phương. Về hạn chế: không có tổ chức cơ sở đảng toàn tòng;
đảng viên gốc tôn giáo ít; đảng viên gốc tôn giáo phần lớn là cán bộ trong quân đội,
ở các cơ quan về nghỉ hưu sinh hoạt tại địa phương, không có đảng viên trẻ; một số
đảng viên nghỉ hưu là tín đồ Thiên Chúa giáo yếu kém phải đưa ra khỏi Đảng... Từ
thực trạng này, các tác giả đưa ra chín giải pháp khắc phục, trong đó có nội dung
đẩy mạnh công tác phát triển đảng viên mới là quần chúng giáo dân, tiến tới xóa
tình trạng xã, thôn “trắng đảng viên” - “đây là một trong những nhiệm vụ quan
trọng bậc nhất của công tác xây dựng Đảng ở những vùng có đông đồng bào theo
đạo Thiên Chúa giáo ở miền Nam”.

tượng tiếp nhận sự vận động; về nội dung, phương thức, phương châm công tác vận
động giáo dân; về hiệu quả của các chủ trương, biện pháp vận động giáo dân.
Một vấn đề khác được tác giả nêu ra đó là đặc điểm của tổ chức cơ sở đảng
cấp xã vùng giáo ở đồng bằng Bắc Bộ với ba loại hình chi bộ: chi bộ xen kẽ (đảng
viên không theo đạo xen kẽ với đảng viên gốc tôn giáo), chi bộ có 100% đảng viên
gốc tôn giáo, chi bộ không có đảng viên gốc tôn giáo mặc dù có giáo dân sinh sống

- 14 -


trên địa bàn. Về chi bộ xen kẽ: phần lớn số đảng viên gốc tôn giáo là những người
đã nghỉ hưu, hoặc ở quân đội hết nghĩa vụ quân sự chuyển về sinh hoạt tại địa
phương, số đảng viên trẻ rất ít. Một số đảng viên gốc tôn giáo thuộc các chi bộ này
trong tư tưởng thiếu ổn định, vẫn băn khoăn là đảng viên có được đi lễ nhà thờ hay
không? Có được làm phép Bí tích không? Có được xưng tội trước Cha không?
Thậm chí có đảng viên còn đặt vấn đề chọn một trong hai đi theo đạo hay theo
Đảng. Với chi bộ chỉ có đảng viên gốc tôn giáo: số lượng đảng viên ít (10 đến 15
đảng viên) chủ yếu là những cán bộ, nhân viên trước đây đi công tác, trong biên chế
Nhà nước nay đã nghỉ hưu hoặc bộ đội phục viên và đã cao tuổi, số kết nạp mới tại
địa phương rất ít... trong khi, một bộ phận thanh niên gốc tôn giáo không có ý thức
phấn đấu vào Đảng, không thiết tha vào Đảng - đây là khó khăn trong công tác phát
triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo ở đồng bằng Bắc Bộ.
- Tác giả Nguyễn Văn Giang (2003) trong Luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử:
Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên vùng có đồng bào Công giáo ở các tỉnh ven
biển đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn hiện nay, đã làm rõ quan niệm, tiêu chí
đánh giá chất lượng và những yếu tố tác động đến đội ngũ đảng viên. Theo đó, có
ba tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ đảng viên: chất lượng đảng viên, số lượng
và cơ cấu đội ngũ đảng viên, cùng năm yếu tố tác động là: thành tựu của công cuộc
đổi mới; thực tiễn của Công giáo và hoạt động Công giáo ở các tỉnh ven biển đồng
bằng Bắc Bộ; thuận lợi và khó khăn, phức tạp của hoạt động đan xen giữa hai cộng

- Các Luận văn Thạc sỹ Khoa học Lịch sử: Đảng bộ Đồng Nai lãnh đạo thực
hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Thiên Chúa trong thời kỳ đổi mới (1986 - 1998),
tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (1999); Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng ở vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên chúa ở tỉnh Đồng
Nai hiện nay, tác giả Phanh Thanh Kiều (2000), đã làm rõ một số vấn đề cơ bản như:
tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền chỉ ra đặc điểm cơ bản, vai trò, vị trí của đạo Thiên
chúa trong đời sống chính trị - xã hội ở Đồng Nai và quan điểm chỉ đạo, chủ trương
của Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trong việc thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo
Thiên chúa. Tác giả Phanh Thanh Kiều xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
tổ chức cơ sở đảng với tư cách là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở...
Bên cạnh việc làm rõ các vấn đề trên, các tác giả đều nêu lên thực trạng tổ chức
cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên gốc tôn giáo của tỉnh Đồng Nai. Theo đó, phần lớn

- 16 -


đảng viên gốc tôn giáo trong tỉnh tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, có phẩm
chất đạo đức tốt, sống trung thực, lành mạnh, có trách nhiệm với công việc được
giao; nhiều đảng viên gốc tôn giáo luôn thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu và
một số giữ chức vụ cán bộ chủ chốt ở cơ sở vùng giáo... Tuy nhiên, một số đảng viên
gốc tôn giáo vẫn tự ti, mặc cảm, cho rằng có sự phân biệt đối xử, ít được cấp trên tin
cậy; một số tư tưởng thiếu kiên định, thậm chí có hiện tượng xin ra khỏi Đảng để
được đi lễ nhà thờ và tham gia các hoạt động tôn giáo khác; một số đảng viên không
khai báo với tổ chức về bản thân là tín đồ tôn giáo, tự ý đi lễ nhà thờ và thực hiện các
nghi lễ tôn giáo; lực lượng đảng viên gốc tôn giáo rất ít (khoảng 1%), phần lớn là cán
bộ nghỉ hưu, nghỉ mất sức, hoặc bộ đội phục viên, số đảng viên là người tại chỗ ít;
đội ngũ đảng viên gốc tôn giáo phần lớn tuổi đời khá cao, trình độ chuyên môn, năng
lực còn nhiều hạn chế; công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo gặp nhiều
khó khăn thể hiện ở: đến 9/1998, toàn tỉnh Đồng Nai có 218 đảng viên /19.624 tín đồ
tôn giáo; công tác kết nạp đảng viên gốc Thiên chúa qua các năm: 1991 kết nạp được

1997 đến 1999, toàn huyện đã kết nạp được được 20 tín đồ Thiên chúa vào Đảng.
Để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, tác giả chỉ ra các giải pháp chủ yếu:
quán triệt chủ trương công tác tư tưởng của Đảng để vận dụng sát hợp với điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của tổ chức cơ sở đảng ở một huyện với phần lớn dân cư là
giáo dân. Nâng cao nhận thức chính trị, trình độ dân trí, đồng thời quan tâm giải
quyết nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của đảng viên và đồng bào theo đạo
Thiên chúa. Đổi mới nội dung, phương pháp công tác tư tưởng đối với đồng bào
theo đạo Thiên chúa. Từng bước nâng cao hiệu lực và vai trò quản lý của chính
quyền cơ sở trên lĩnh vực tôn giáo. Cải tiến và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ,
đẩy mạnh phát triển đảng viên mới gốc tôn giáo nhằm tăng cường thực lực và nâng
cao hiệu quả làm công tác tư tưởng đối với đồng bào theo đạo Thiên chúa.
Đối với công tác phát triển đảng viên mới gốc tôn giáo và vùng tôn giáo, theo
tác giả, cần nắm vững mục đích của công tác phát triển Đảng; tổ chức cơ sở đảng,
trước hết là chi ủy cần xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nghiêm túc; đảng
ủy chủ động mở các lớp tuyên truyền, bồi dưỡng kiến thức cho đồng bào các tôn
giáo; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng: Đoàn Thanh niên, Hội
Phụ nữ…; phân công đảng viên giúp đỡ quần chúng vào Đảng, giúp đỡ đảng viên
mới trở thành đảng viên chính thức.

- 18 -


- Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng có đông đồng bào Công giáo ở tỉnh Nam
Định trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp của Bùi Hữu Dược (2003)
đã xác định quan niệm, tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng, thực trạng và các yếu tố tác động đến năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nông thôn vùng có đông đồng bào Công giáo tỉnh
Nam Định.
Đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ đảng viên và công tác phát triển đảng

giáo của tỉnh thấp, trong khi tín đồ Công giáo chiếm 21% dân số, đảng viên là tín đồ
Công giáo chiếm 4,06% tổng số đảng viên của tỉnh.
Để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, tác giả đã chỉ ra các giải pháp chủ
yếu: nâng cao nhận thức về sự lãnh đạo của Đảng và vai trò, chức năng của tổ chức
cơ sở đảng ở nông thông vùng giáo. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
của cấp ủy đảng. Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn
vùng giáo. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Nâng cao năng lực và phẩm chất
của đảng viên. Gắn xây dựng Đảng với xây dựng chính quyền, tăng cường công tác
dân vận, đẩy mạnh hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã
hội (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…). Tăng cường sự lãnh đạo và
kiểm tra của cấp ủy cấp trên.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu đề cập đến công tác phát triển Đảng trong
đồng bào các tôn giáo
- Tác giả Ngô Hữu Thảo (1999), trong nghiên cứu về Phát triển Đảng trong
các vùng đồng bào theo đạo Thiên Chúa, Tạp chí Xây dựng Đảng, Số 4/1999, đã
khái quát một số vấn đề đáng lưu ý của công tác này: số lượng đảng viên gốc tôn
giáo không nhiều, tỷ lệ đảng viên trong cộng đồng giáo dân thấp so với các khu vực
dân cư không có tôn giáo; ở những nơi có số lượng đông giáo dân, bình quân 107
giáo dân mới có 1 đảng viên, trong khi ở cộng đồng dân cư không tôn giáo thì tỉ lệ
này là 22/1. Công tác phát triển đảng viên có sự giảm sút về số lượng, tuổi đời bình
quân của đảng viên cao. Chất lượng đảng viên xét về học vấn và trình độ lý luận
chính trị còn thấp so với đảng viên ở các khu vực khác.
Từ thực trạng trên, để làm tốt công tác phát triển Đảng trong các vùng đồng
bào theo đạo Thiên Chúa nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu

- 20 -


tình hình mới, tác giả đưa ra các giải pháp: Một là, giáo dục thường xuyên cho cán
bộ, đảng viên các kiến thức cơ bản về tôn giáo nói chung và Thiên Chúa giáo nói

thể về phát triển đảng viên cho từng chi bộ, coi việc thực hiện chỉ tiêu là một trong
những tiêu chí hàng đầu khi đánh giá, phân loại chi bộ. Trong công tác kết nạp đảng
viên là tín đồ Công giáo, các cấp ủy đảng thực hiện đúng các quy định của Đảng
nhưng không máy móc, cứng nhắc mà xem xét từng trường hợp cụ thể như: có thể
kết nạp vào Đảng những đối tượng có trình độ văn hóa cấp II hoặc đã sinh con thứ
ba, nhưng phải cam kết và có kế hoạch học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên
môn lên ngang mức yêu cầu và bảo đảm không sinh con thứ tư.
- Tác giả Bảo Trung (2010), trong nghiên cứu về Phát triển đảng viên là người
có đạo và dân tộc thiểu số, Tạp chí Xây dụng Đảng, Số 7/2010, đã khái quát kết
quả, hạn chế và giải pháp thúc đẩy công tác phát triển đảng viên là tín đồ các tôn
giáo ở Việt Nam. Về kết quả: đến năm 2010, số đảng viên là người theo các tôn
giáo cả nước chiếm khoảng 1,8% tổng số đảng viên toàn Đảng. Năm 2005, số đảng
viên là tín đồ các tôn giáo kết nạp mới chiếm tỉ lệ 1,86% tổng số đảng viên mới kết
nạp; đến năm 2008 tỉ lệ này đạt 2,53%. Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phát
triển đảng viên là tín đồ các tôn giáo còn hạn chế lớn: tỉ lệ đảng viên mới kết nạp là
tín đồ các tôn giáo so với tổng số đảng viên mới kết nạp có sự chênh lệch lớn giữa
các vùng.
Để khắc phục hạn chế, qua đó thực hiện hiệu quả hơn công tác phát triển đảng
viên trong đồng bào các tôn giáo thời gian tới, tác giả chỉ ra năm vấn đề cần giải
quyết: Thứ nhất, giải quyết tốt vấn đề về nhận thức: người theo các tôn giáo là công
dân có tín ngưỡng tôn giáo, quyền và nghĩa vụ của đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo
được thể hiện ở sự phấn đấu vừa là “người chân chính yêu nước, đồng thời là chân
chính tín đồ”. Về mặt tín ngưỡng, người theo các tôn giáo có quyền tự do hành lễ
của một tín đồ; về mặt chính trị - xã hội, là công dân nên phải bình đẳng với các
công dân khác về quyền lợi và nghĩa vụ trong việc phụng sự Tổ quốc, trách nhiệm
đối với Nhà nước và xã hội. Thứ hai, hàng năm, các tổ chức cơ sở đảng tiến hành
khảo sát số lượng, chất lượng quần chúng ưu tú để xây dựng kế hoạch về công tác
tạo nguồn và phát triển đảng viên nói chung, chú trọng đối tượng là tín đồ các tôn
giáo nói riêng. Để kế hoạch phát triển đảng viên đạt kết quả, cấp ủy cơ sở cần phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status