HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
------------------------&------------------------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN
VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG SẢN
XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ NAM HẢI,
HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
QUỲNH
ÔI TRƯỜNG
N VĂN ĐIẾM
HUYỆN NAM TRỰC,
NH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt chuyên đề tốt nghiệp này tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn
sâu sắc đến các thầy cô trong trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam nói
chung, các thầy cô trong khoa Môi Trường nói riêng đã trang bị cho tôi những
chuyên môn cũng như lối sống, kiến thức cơ bản trong học tập, đó là hành
trang vững chắc trong công tác làm khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn PGS.TS
Đoàn Văn Điếm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
KTTV
LHQ
TCHQ
UBND
VKHNNVN
Chữ viết đầy đủ
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Bảo vệ môi trường
Bảo vệ thực vật
Thuốc trừ sâu có thành phần chì và asen
Tổ chức Nông lương thế giới
Tổng thu nhập bình quân
Hóa chất BVTV
Hợp tác xã
Hiệp hội Công nghiệp Phân bón Quốc tế
Ban lúa gạo Quốc tế
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế
Khí tượng thủy văn
Liên Hợp Quốc
Tổng cục hải quan
Ủy ban nhân dân
Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
xuất nông nghiệp trong xã đang dần chuyển sang hướng thâm canh, tăng vụ.
Cây nông nghiệp được trồng ngày càng đa dạng như: lúa, ngô, lạc, rau xanh, bắp
cải… Cũng giống như các địa phương khác trên cả nước tình trạng sử dụng ngày
càng tăng thuốc BVTV và phân bón của người dân xã Nam Hải đang ảnh hưởng
không nhỏ tới sức khỏe và môi trường.
Xuất phát từ vấn đề đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong
sản xuất nông nghiệp tại xã Nam Hải, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định”.
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV ở xã Nam Hải,
huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Đề xuất một số giải pháp bảo vệ môi trường khi sử dụng phân bón và
thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp.
Yêu cầu của đề tài
•
Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến việc sử dụng
•
•
phân bón và thuốc BVTV ở xã Nam Hải, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Đánh giá được thực trạng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Nam Hải.
Điều tra, đánh giá được tình hình sử dụng phân bón, thuốc BVTV trong sản xuất
•
nông nghiệp tại địa phương.
Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường phải phù hợp với tình hình thực tế ở
Phân đạm sunphat, còn gọi là phân SA (NH4)2SO4: có 20-21% N, 39% S.
-
Phân đạm clorua (NH4Cl) chứa 24-25% N.
-
Phân Xianamit canxi: chứa 20-21% N, 20-28% vôi, 9-12% C.
-
Phân phôtphat đạm (NH4PO4): chứa 16% N, 20% P.
Phân lân:
-
Phân apatit: Tỉ lệ lân thay đổi tùy theo loại: loại apatit giàu có trên 38%
lân, loại apatit trung bình có 17-38% lân, loại apatit nghèo dưới 17% lân.
-
Supe lân: có chứa 16-20% lân nguyên chất và một lượng lớn thạch cao.
-
Tecmo phôt phat (phân lân nung chảy, lân Vân Điển): có dạng bột màu
xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh; chứa 15-20% lân, 30% canxi, 1213% Mg, có khi có cả K.
- Phân Diamophor (DAP): tỉ lệ N:P:K là 1:2,6:0, chứa 18% N, 40% P2O5
- Phân hỗn hợp: 20:20:0; 23:23:0; 10:10:0
Phân NK:
-
Phân kali nitrat: chứa 13% N, 45% K2O
-
Phân hỗn hợp: 30:0:10; 20:0:20; 20:0:10
Phân PK:
-
Phân PK 0:1:3: chứa 55% supe lân và 45% KCl
-
Phân PK 0:1:2: chứa 65% supe phôt phat và 35% KCl
Phân N-P-K:
-
Phân Amsuka: có tỉ lệ NPK là 1:0,4:0,8
-
Phân Amphoska: có tỉ lệ NPK là 1:0,1:0,8; chứa 17% N, 7,4% P 2O5,
14,1% K2O.
bèo tây, rơm rạ, chất thải rắn thành phố… được ủ với một số phân men như phân
chuồng, nước giải, lân, vôi… cho đến khi hoai mục.
Phân xanh: là loại phân hữu cơ, sử dụng các loại bộ phận trên mặt đất của
cây. Phân xanh thường được sử dụng tươi, không qua quá trình ủ. Cây phân
xanh thường là cây họ đậu hoặc cỏ lào, cây quỳ dại…
Than bùn, phân dơi, tro: than bùn tạo thành từ xác các loài thực vật khác
nhau. Trong than bùn hàm lượng chất vô cơ là 18 – 24%, phần còn lại là các
chất hữu cơ. Trong tro có 1 – 30% K 2O và 0,6 – 19% P2O5. Trong phân dơi có
hàm lượng lân rất cao.
Ngoài ra còn có phân vi lượnggồm các nguyên tố Cu, Zn, Mn, B, Mo, Fe,
Co,... chúng được bón ở dạng đơn hoặc hỗn hợp.Phân trung lượng là những
phân có chứa các chất dinh dưỡng trung lượng như Ca, Mg, S.
Phân vi sinh vật: là những chế phẩm trong đó có chứa các loài vi sinh vật
có ích như vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn. Gồm một số loại sau:
Phân vi sinh vật cố định đạm: có nhiều loài vi sinh vật có khả năng cố
định N từ không khí như tảo lam (Cyanobacterium), vi khuẩn Azotobacter,
Bradyrhizobium, Rhyzobium, xạ khuẩn Actinomyces, Klebsiella. Trên thị trường
hiện nay có một số loại như sau: phân nitragin, phân Azotobacterin, phân
Azozin…
Phân vi sinh vật hòa tan lân: gồm các vi sinh vật có khả năng phân hủy
lân như Aspergillus, Pseudomonas, Bacillus, Micrococens… Trên thị trường có
một số loại như: Phosphobacterin…
1.1.2. Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
1.1.2.1. Phân bón đối với năng suất cây trồng
Theo Trần Văn Chiến, Phan Trung Quý (2006), từ ngày có công nghệ
phân bón hóa học ra đời, năng suất cây trồng tăng lên rõ rệt. Trong những thập
kỉ cuối thế kỉ 20 ( từ 1960 – 1997), diện tích đất trồng lúa trên thế giới chỉ tăng
có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng108% và sản lượng lúa tăng 164,4%,
đất, giống, mật độ gieo trồng, tưới tiêu,...) sử dụng phân bón hợp lý luôn là cơ sở
quan trọng cho việc phát huy hiệu quả các biện pháp kỹ thuật khác.
Bảng 1.2. Các nguyên nhân làm giảm hiệu quả của phân bón
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Nguyên nhân làm giảm hiệu quả phân bón
Kỹ thuật làm đất kém
Giống cây trồng không thích hợp
Kỹ thuật gieocấy kém
Thời vụ gieo cấy không thích hợp
Mật độ gieo cấy không thích hợp
Vị trí và cách bón phân không thích hợp
Chế độ nước không thích hợp
Trừ cỏ dại không kịp thời
Phòng trừ sâu bệnh không tốt
Bón phân không cân đối
Mức độ giảm(%)
10 – 25
5 – 20
-
Bón phân Ca, Mg, S có tác dụng làm tăng chất lượng protein, dầu, tinh
dầu cho các loại cây trồng (theo Cẩm Hà, 2012)
Vì vậy bón phân cân đối và hợp lí cho cây trồng vừa làm tăng năng suất,
vừa làm tăng chất lượng sản phẩm.
1.1.2.4. Phân bón đối với môi trường
Trong trồng trọt, cần bón phân cho cây trồng nhằm đạt năng suất cao, chất
lượng tốt tăng độ che phủ đất do đó bón phân cũng để giữ ổn định và bảo vệ đất
trồng khỏi quá trình xói mòn, rửa trôi, làm đất tốt hơn.
Bón phân hữu cơ giúp cải thiện tính chất lý, hóa, sinh của đất, đồng thời
đất tích lũy thêm mùn và các chất dinh dưỡng, nâng cao độ phì cho đất. Do đó
bón phân hữu cơ và vôi là các phương tiện cải tạo môi trường đất toàn diện và
hiệu quả cao.
Bón phân hóa học với lượng hợp lí có tác dụng tăng cường hoạt động của
vi sinh vật có ích, tăng cường sự khoáng hóa chất hữu cơ có sẵn trong đất,
chuyển độ phì tự nhiên sang độ phì thực tế. Bón phân lân giữ đất khỏi bị chua
hóa do trong phân lân còn chứa một lượng canxi cao (Nguyễn Thanh Bình,
2008)
1.1.2.5. Phân bón đối với thu nhập của người sản xuất
Bón phân là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết định với nông sản và
hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật khác, nên trong trồng trọt người sản xuất rất
coi trọng đầu tư phân bón. Vì vậy, việc sử dụng phân bón hiệu quả sẽ làm tăng
nhiều thu nhập và lợi nhuận cho người sản xuất. Bón phân cân đối trong trồng
trọt có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa việc đạt năng suất cây trồng cao và
chất lượng sản phẩm để đảm bảo thu nhập cao cho nông dân (Nguyễn Như Hà
xí
2 – 26
3 – 25
2 – 1500
0,3 – 0,8
20 – 40600
5,2 – 55
2 – 260
0,3 – 24
5 – 3300
2 – 60
0,1 – 55
0,09 – 0,2
16 – 5300
7,8 – 30
50 – 3000
6,6 – 15
700 - 49000
15 – 250
Phân Lân
Vôi
2 – 1200
0,1 – 24
0,1 – 170 0,04 – 0,1
66 – 245
10 – 15
1 – 12
ngoài ra trong quá trình sản xuất phân bón làm phát thải ra một lượng lớn các
khí thải ( NH3, CH4 , CO2,...), hệ quả của nó là tạo ra hiện tượng hiệu ứng nhà
kính, quá trình được minh họa bằng các phương trình:
CO + O3
=>CO2+ O2
NO + O3
=>NO2+ O2
CH4 + O3 =>CO2 + H2O
Do vậy làm suy giảm tầng ozon.
Hiệu ứng nhà kính và suy giảm tầng ozon làm cho quá trình cản trở tia
hồng ngoại giảm, mặt đất chịu thêm tác dụng của tia năng lượng, đồng thời cũng
ảnh hưởng đến cả phần hơi nước của tầng khí quyển. Hệ quả của các quá trình
này làm trái đất nóng lên, hạn hán, cháy rừng, sa mạc hóa... ( Lê Văn Khoa,
2011).
+ Ảnh hưởng đến môi trường nước: Trong lượng phân bón chưa được cây
sử dụng, một phần còn lại ở trong đất, một phần bị rửa trôi theo nước mặt do
nước mưa chảy tràn, các công trình thủy lợi ra các ao hồ, sông suối gây ô nhiễm
nguồn nước mặt. Một phần do trọng lực theo chiều dọc ngấm xuống tầng nước
ngầm làm ô nhiễm nguồn nước ngầm.
+ Ảnh hưởng đến môi trường đất:làm cho đất bị chua hóa khi bón không
hợp lý một số loại phân có chứa thành phần là axit tự do như phân supe Lân,
sunfat Đạm (có chứa axit sunfuric dư), ngoài ra khi tăng cường bón phân hóa
học, rễ cây phải hô hấp mạnh để hấp thu dinh dưỡng sẽ giải phóng CO 2, kết hợp
với nước tạo thành H2CO3. Catrion H+ ở bề mặt lông hút sẽ trao đổi với các
Nước
Trung Quốc
Ấn Độ
Mỹ
Braxin
Indonesia
Pakistan
Pháp
Canada
Đức
Nga
Tổng
Lượng phân tiêu thụ ( triệu tấn)
51,10
27,95
20,18
9,80
4,90
3,76
3,05
2,91
2,33
2,26
128,24
Nguồn: Nguyễn Như Hà và Nguyễn Văn Bộ, 2013
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO,
2015)nhu cầu của thị trường phân bón thế giới trong năm 2015 ước tính tăng
+1,4%
Phân lân
(P2O5)
41,4
40,5
41,1
+1,6%
40,8
-0,9%
41,6
+2,1%
Phân Kali
(K2O)
29,2
30,4
32,0
+5,4%
31,9
-0,2%
33,0
+3,3%
Tổng
cộng
179,1
180,7
183,4
+1,5%
Trong đó, 9 công ty lớn thuộc tập đoàn hóa chất Việt Nam (Vinachem), 2 công
ty thuộc Tập đoàn dầu khí (PVN). Trong giai đoạn 2009 - 2013, lượng sản xuất
phân bón tăng trên 1 triệu tấn, với mức tăng trưởng trung bình hàng năm đạt
8,6% so với năm gốc 2009.
Bảng 1.6. Lượng phân bón vô cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm
(Đơn vị tính: nghìn tấn N, P2O5, K2O)
Năm
N
P2O5
K2O
NPK
N+P2O5+K2O
1985
342,3
91,0
35,9
54,8
469,2
450,0
180,0
2283,0
2005
1155,1
554,1
354,4
2007
1357,5
551,2
516,5
115,9
2063,6
179,7
2425,2
Nguồn: Trương Hợp Tác, 2009
nhau đang phá hoại mùa màng. Trong đó có khoảng 9000 loài sâu bọ, 5000 loài
dịch bệnh thực vật và 8000 loài cỏ dại. Nói chung 5% trong số đó có thể phát
triển gây ra các bệnh dịch lớn ( Theo LHQ, 2012).
1.2.1.2.Ở Việt Nam
Ngày 04/02, tại thành phố Hòa Bình, Trung tâm bảo vệ thực vật (BVTV)
phía Bắc thuộc Cục BVTV phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hòa
Bình tổ chức Hội nghị tổng kết công tác bảo vệ thực vật năm 2015 và triển khai
nhiệm vụ công tác bảo vệ thực vật năm 2016 các tỉnh phía Bắc.
Theo đó, năm 2015, thời tiết tại các tỉnh trong vùng phía Bắc diễn biến bất
thường. Vụ Xuân rét đậm, rét hại, kéo dài hơn; một số vùng có sương muối,
băng giá, mưa tuyết và băng giá như Sapa (Lào Cai), Sìn Hồ (Lai Châu), Đồng
Văn (Hà Giang). Vụ mùa nắng nóng xuất hiện sớm, phổ biến từ 35-38 độ C, có
nơi lên đến 40 độ C. Về mức độ gây hại, năm 2015 các đối tượng dịch hại chủ
yếu như sâu cuốn lá nhỏ, rầy, sâu đục thân, ốc bươu vàng, bệnh đạo ôn, bệnh
khô vằn, bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn, bệnh lùn sọc đen mức hại thấp, phân bố
hẹp và chuột, bệnh vàng lá mức hại cao hơn so với năm 2014. Tuy nhiên, nhờ
công tác dự báo, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, nên mức độ thiệt hại không cao.
Lúa vẫn được mùa, năng suất và sản lượng lúa cao hơn năm trước. Các cây
trồng khác sinh trưởng, phát triển tốt và năng suất được đảm bảo (Cục BVTV,
2015).
1.2.2. Khái niệm về thuốc bảo vệ thực vật
Theo Trần Văn Hai (2013) thì “thuốc bảo vệ thực vật hay nông dược là
những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để
bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại
đến tài nguyên thực vật. Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ
dại, chuột và các tác nhân khác.”
Việc phân loại thuốc BVTV có thể thực hiện theo nhiều cách như phân loại theo
đối tượng phòng trừ hoặc theo gốc hóa học. Cụ thể:
-
Nhóm lân hữu cơ: Wofatox Bi-58, ...: có độ độc cấp tính tương đối cao, mau
phân hủy trong cơ thể và môi trường hơn nhóm clo hữu cơ.
-
Nhóm Carbamate: Mipcin, Basa, Sevin, ...: có độ độc cấp tính tương đối cao,
khả năng phân hủy tương tự nhóm lân hữu cơ. Đây là thuốc được sử dụng rộng
rãi vì tương đối rẻ tiền mà hiệu lực cao.
-
Nhóm Pyrethoide: Decis, Sherpa, Sumicidine, ...: dễ bay hơi, tương đối mau
phân hủy trong cơ thể người và môi trường.
-
Các hợp chất Pheromone: là những hóa chất đặc biệt do sinh vật tiết ra để kích
thích hành vi của những sinh vật khác cùng loài. Các chất điều hòa sinh trưởng
côn trùng (Nomolt, Applaud, ...) là những chất dùng để biến đổi sự phát triển
của côn trùng. Chúng ngăn cản côn trùng biến thái hoặc ép chúng phải trưởng
thành từ rất sớm. Loại này ít độc với người và môi trường.
-
Nhóm thuốc trừ sâu vi sinh (Dipel, Thuricide, Xentari, NPV, ...): ít độc với
người và các sinh vật không phải là dịch hại.
∗
Chữ
nước đen
biển trên dải xanh lá trên nền trắng
cây
Nguồn: Trần Văn Hai, 2013
∗
Phân loại theo dạng thuốc
∗
ND: Nhũ Dầu, EC: Emulsifiable Concentrate.
DD: Dung Dịch, SL: Solution, L: Liquid, AS: Aqueous Suspension.
BTN: Bột Thấm Nước, BHN: Bột Hòa Nước, WP: Wettable Powder,
DF: Dry Flowable, WDG: Water Dispersible Granule, SP: Soluble
∗
∗
∗
∗
∗
∗
Powder.
HP: huyền phù FL: Flowable Liquid, SC: Suspensive Concentrate.
H: hạt, G: granule, GR: granule. P: Pelleted (dạng viên)
BR: Bột rắc, D: Dust.
đất,... làm chất hữu cơ không được phân hủy đất nghèo dinh dưỡng, độ phì nhiêu
giảm sút.
Hóa chất BVTV tích đọng và gây ô nhiễm nước bề mặt ruộng lúa, sông
ngòi, ao hồ, nước ngầm. Chúng tiêu diệt các loài sinh vật trong nước: tôm, cua,
cá...
∗
Đối với môi trường nước
Bảng 1.8. Tính tan của hóa chất BVTV trong môi trường nước
Hóa chất BVTV
DDT
Aldrin
Haptechclor
Dieldrin
Lindan
Carbaryl
Carbofuran
Diazinion
Parathion
Malathion
Dimethoate
2–4–D
2–4–5T
Tính tan trong nước (mg/l)
0,0012
0,01
0,056
mà thuốc BVTV được sử dụng trong những khu vực quây kín, thông khí không
được thông thoáng.
1.2.4.2. Ảnh hưởng đến con người
Khi thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong thực phẩm vào cơ thể con người
qua đường ăn uống, chúng có thể bị loại bớt theo khí thở, theo phân hoặc
nước tiểu. Tuy nhiên, các chất độc hại này vẫn chuyển hóa qua gan. Số thuốc
bảo vệ thực vật dễ hòa tan trong nước thì sẽ bị loại bỏ nhưng lại có những hóa
chất sẽ tạo thành những chất trao đổi trung gian độc hơn, tích lũy trong một
số cơ quan hoặc mô mỡ gây tổn thương và kèm theo các triệu chứng ngộ độc
nguy hiểm.
Thuốc bảo vệ thực vật có trong thức ăn, đồ uống với lượng lớn có thể
gây ngộ độc cấp tính như gây rối loạn tiêu hóa (nôn mửa, tiêu chảy), rối loạn
thần kinh (nhức đầu, hôn mê, co giật hoặc co cứng cơ…), trụy tim mạch, suy
hô hấp rất dễ dẫn đến tử vong.
Để giảm thiểu ngộ độc do thuốc bảo vệ thực vật, người tiêu dùng cần
lưu ý: chỉ nên mua rau, quả có nguồn gốc sản xuất an toàn; không mua rau
quả dập nát, héo úa, có mùi lạ, có dấu hiệu bất thường nên ngâm rau quả
trong nước sạch ít nhất ba lần hoặc rửa dưới vòi nước chảy để loại trừ phần
thuốc bảo vệ thực vật còn tồn dư; nấu chín và mở vung khi nấu để loại trừ các
thuốc bảo vệ thực vật còn sót qua đường bay hơi(theo Tác hại của các độc tố
đối với sức khỏe, 2012) .
1.2.5. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
1.2.5.1. Trên thế giới
Hoá chất BVTV có thể được coi như sử dụng đầu tiên là dung dịch huyền
phù Boocđo (1881). Trong môt thời gian dài, người ta dùng các chất vô cơ như
HCN, Đồng Asennat, Chì Asenat … làm thuốc trừ dịch hại cây trồng .