Nâng cao nhận thức cho học sinh trường THPT Tôn Đức Thắng về việc quản
lý, bảo vệ các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền của nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Biển, đảo Việt Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Biển
không chỉ chứa đựng tiềm năng kinh tế to lớn, cửa ngõ mở rộng quan hệ giao
thương với quốc tế mà còn đóng vai trò quan trọng bảo đảm an ninh, quốc phòng
đồng thời là địa bàn chiến lược trọng yếu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Vì vậy, bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc không chỉ thể
hiện tư duy của Đảng ta trong các nghị quyết đại hội mà còn trở thành một trong
những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn quân,
toàn dân, của cả hệ thống chính trị.
Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc
Việt Nam trong mấy ngàn năm lịch sử. Nắm vững và vận dụng quy luật đó, ngày
nay Đảng ta khẳng định: “Xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam”.
Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng xác định Giáo dục Quốc phòng - An
ninh là một bộ phận quan trọng trong xây dựng nền Quốc phòng toàn dân, đáp ứng
yêu cầu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Trong những
năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Giáo dục Quốc phòng - An ninh là bộ
phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, an ninh nhân dân”
Luật Giáo dục Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã xác định mục
tiêu giáo dục là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tuởng độc lập dân tộc và
CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Chương trình Giáo dục Quốc phòng – An ninh góp phần giáo dục toàn diện
năng lực đề kháng trước những cám dỗ còn thấp, dễ bị lôi kéo bởi những nguồn
thông tin sai lệch.
Từ ý nghĩa và thực tiễn đó tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài “Nâng
cao nhận thức cho học sinh trường THPT Tôn Đức Thắng về việc quản lý, bảo
vệ các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam”
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1. Cơ sở lý luận.
Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần
thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09NQ/TƯ ngày 09/02/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó
nhấn mạnh rằng thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương. Nghị quyết
đã xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến
năm 2020 bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Một là, Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên
cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với
cơ cấu đa dạng, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với
tầm nhìn dài hạn;
Hai là, phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm
quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển
vùng biển, ven biển, các hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công
nghiệp hoá và hiện đại hoá;
2
Ba là, tập trung khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ
môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có
hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các
nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước;
Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TƯ ngày 09/02/2007 của Ban
quyền vùng biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, Việt
Nam cũng đang phải đối mặt với những nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch
3
chưa từ bỏ âm mưu can thiệp vào công việc nội bộ, gây mất ổn định chính trị - xã
hội, xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nước ta.
Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng
Việt Nam hiện nay. Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung
đặc biệt quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an
ninh nhân dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội
chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an
ninh xã hội; duy trì trật tự kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của
đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù
địch, không để bị động, bất ngờ”.
2. Cơ sở thực tiễn
Biển đảo Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc
chủ quyền của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều này đã được chứng
minh bằng lịch sử và các tài liệu khoa học. Các tư liệu khoa học và pháp lý được
công bố hiện nay, đều thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền
liên tục, của Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Tuy nhiên những năm gần đây, Trung
Quốc đã có nhiều hành động xâm hại đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam: cản
trở ngư dân Việt Nam đánh bắt thủy - hải sản, tấn công các tàu Việt trên vùng biển
của chính Việt Nam, ngang ngược xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo
Hoàng Sa…Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm
trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm
phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của
chủ nghĩa Việt Nam.
Với cách giáo dục này này tôi đã giúp các em chủ động hơn, ý thức hơn và
nắm được kiến thức kĩ hơn, tốt hơn...từ đó các em thấy được thực tế vấn đề như thế
nào, để các em tích cực hơn nữa trong công cuộc cùng toàn Đảng, toàn dân tham
gia quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền của nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
III.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO
HỌC SINH TRƯỜNG THPT TÔN ĐỨC THẮNG VỀ VẤN ĐỀ
QUẢN LÝ, BẢO VỆ CÁC VÙNG BIỂN, ĐẢO THUỘC CHỦ
QUYỀN CỦA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
1. Tăng cường giáo dục quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề
chủ quyền biển, đảo Việt Nam cho học sinh trường THPT Tôn Đức
Thắng.
Giáo dục quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề chủ quyền
biển, đảo Việt Nam cho học sinh, giúp học sinh nhìn nhận đúng đắn khách quan về
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt
Nam.
Giáo dục quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với vấn đề chủ quyền
biển, đảo Việt Nam cho học sinh gồm các nội dung sau:
Bảo vệ các quyền của quốc gia theo các chế độ pháp lý khác nhau, phù hợp
với luật pháp quốc tế trên các vùng biển khác nhau, trên các đảo, quần đảo và thềm
lục địa của quốc gia.
Bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia
trên vùng biển quốc gia; bảo vệ những đặc quyền về bảo tồn, quản lý, thăm dò khai
thác tài nguyên thiên nhiên trên vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa của
quốc gia. Vấn đề chủ quyền và lợi ích kinh tế của nước ta trên biển có mối quan hệ
hội chủ nghĩa Việt Nam bao hàm cả bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân... bảo
vệ mục tiêu chiến lược biển đảo, bảo vệ các dự án phát triển trên các vùng biển,
phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước mạnh về biển.
Bảo vệ công cuộc lao động sản xuất, tính mạng và tài sản của nhân dân trên
các vùng biển, phòng chống thiên tai, địch họa và các rủi ro khác; bảo vệ lợi ích và
quyền công dân của người dân đã được chính sách của Đảng, Nhà nước ta thừa
nhận; bảo vệ môi trường sống, bảo vệ nhân dân được sống trong môi trường tự
nhiên, môi trường văn hóa xã hội trong sạch, lành mạnh. Mọi hoạt động kinh tế trên
vùng biển là sự thể hiện làm chủ của nhà nước Việt Nam trên các vùng biển của
mình. Các hoạt động đó chỉ có thể đạt được hiệu quả khi phát huy được vai trò lãnh
đạo của Đảng, năng lực quản lý nhà nước ở các Bộ, ngành, từ trung ương đến từng
địa phương cơ sở, vai trò làm chủ và ý thức của nhân dân làm ăn trên biển. Xây
6
dựng thế trận chiến tranh nhân dân trên biển ngày càng vững chắc làm cơ sở cho
bảo đảm chủ quyền an ninh quốc gia trên biển là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa ở nước ta, bảo vệ cuộc sống hòa bình của nhân dân.
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam, trong đó có sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa
của Tổ quốc. Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, sự lãnh đạo của Đảng
càng phải được tăng cường và chỉ có như vậy mới phát huy được cao nhất bản lĩnh,
trí tuệ, khí phách con người Việt Nam để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng, mà ở
đây là bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi mà yêu
cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa đặt ra ngày càng cao, với nhiều tình
huống phức tạp, khó lường thì vai trò lãnh đạo của Đảng cần phải được nhận thức
đầy đủ và khẳng định trong thực tiễn. Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, chủ
trương, phương châm, đối sách chiến lược để xử lý những vấn đề nảy sinh trong
tranh chấp chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa. Phải xây dựng các tổ chức đảng trong
các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo, các địa phương ven biển trong
chú trọng nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, nhất là các địa phương ven
biển và lực lượng vũ trang thấy rõ tình hình phức tạp ở Biển Đông, yêu cầu cao của
nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong bối cảnh nước ta mở cửa, hội nhập.
Trên cơ sở đó, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp sức
mạnh trong nước và sức mạnh của cộng đồng quốc tế để thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Cùng với đó, công tác Đảng, công tác
chính trị phải hướng vào xây dựng tổ chức, con người vững mạnh; đẩy mạnh phong
trào Thi đua Quyết thắng; thực hiện tốt công tác dân vận, tham gia giúp dân nuôi
trồng thủy sản, phát triển kinh tế biển, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai,
góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” trên biển ngày càng vững chắc.
Tăng cường lãnh đạo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng
cường QP-AN trên biển. Đây là quan điểm nhất quán của Đảng ta được thể hiện rõ
trong Nghị quyết Đại hội XI, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hai nhiệm vụ đó có mối quan hệ khăng khít,
hỗ trợ lẫn nhau, tạo sức mạnh để phát huy nguồn lực từ biển, xây dựng tiềm lực
quốc phòng, giữ vững chủ quyền quốc gia trên biển, mở rộng giao thương quốc tế
và khu vực. Bởi vậy, các cấp, các ngành cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm
túc Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới. Theo đó, phát triển kinh tế biển phải tương xứng với vị thế và tiềm năng của
biển nước ta; kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng cường QP-AN, bảo vệ chủ
quyền, biển, đảo. Việc kết hợp phải được thực hiện trong từng chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, trên từng địa bàn; trong tăng
cường tiềm lực, lực lượng, thế trận QP-AN và nhiệm vụ, phương án, kế hoạch tác
chiến, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Để việc gắn kết hai nhiệm vụ đó mang
lại hiệu quả thiết thực, cần xây dựng các chính sách phù hợp nhằm khai thác tiềm
năng, lợi thế từ biển; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với tăng cường
QP-AN trên biển. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để tiếp tục
xây dựng lực lượng, tổ chức điều chỉnh, bố trí và triển khai phát triển kinh tế - xã
hội trên vùng biển, đảo kết hợp với thế trận QP-AN một cách hợp lý; thúc đẩy
nhanh quá trình dân sự hóa trên biển gắn với xây dựng thế trận QP-AN, “thế trận
Công tác quản lý, bảo vệ và giữ vững chủ quyền biển, đảo của Việt Nam là
nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, mà không phải là
trách nhiệm của riêng một lực lượng nào. Trách nhiệm quản lý, bảo vệ các vùng
biển Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, như Luật
Biên giới quốc gia (Điều 31, 36, 37), Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng (Điều 1), Nghị
định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Biên giới quốc gia (Điều 26 đến Điều 32); Nghị định
161/2003/ NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới
biển (Điều 22)...
Điều 9 Nghị định 161/2003/ NĐ- CP của Chính phủ quy định: “Quản lý, bảo
vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực
biên giới biển là trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng
vũ trang, chính quyền địa phương và mọi công dân”.
Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính
phủ) đã quy định Quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển
của Việt Nam. Điều 21, Chương III đã nêu: việc kiểm soát trên biển của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được giao cho các lực lượng: Hải quân nhân dân và
các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ các đảo; Bộ đội Biên
phòng Việt Nam; Cảnh sát nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ tuần tra trên biển; Các
lực lượng nửa vũ trang trên các thuyền vận tải và tàu thuyền đánh cá của Việt Nam
được trao trách nhiệm kiểm soát theo từng yêu cầu công tác và có mang dấu hiệu rõ
ràng; và Các lực lượng kiểm soát chuyên môn của các ngành: Hải quan, Y tế, Kiểm
dịch làm nhiệm vụ kiểm soát từng mặt công tác của ngành mình.
9
Cần lưu ý, một số nội dung của Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 trái với
quy định của Luật Biên giới quốc gia thì bị bãi bỏ; Điều 40 Luật Biên giới quốc gia
năm 2003 quy định: “Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2004;
Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ”. Theo khoản 5 Điều 111
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của
Việt Nam. Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động theo quy định của Pháp
lệnh này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam (Điều 1); Lực lượng Cảnh
sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân của Việt Nam, đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý
thống nhất của Chính phủ. Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt
động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam (Điều 2); và Lực lượng Cảnh sát biển
10
Việt Nam hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có trách
nhiệm thực hiện, phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo quy
định của pháp luật. Quy chế phối hợp hoạt động, trách nhiệm cụ thể của các lực
lượng do Chính phủ quy định (Điều 3). Các nội dung nói trên của Pháp lệnh lực
lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 đã kế thừa Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam năm 1998, nhưng có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình và
nhiệm vụ mới của Tổ quốc trong việc quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo và
thềm lục địa Việt Nam.
Để quản lý và bảo vệ khu vực biên giới biển, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 quy định về Quy chế khu vực biên giới
biển. Theo đó, khu vực biên giới biển đã được quy chế hóa như sau:
Một là, Chính phủ thống nhất chỉ đạo các hoạt động quản lý, bảo vệ biên
giới quốc gia trên biển và duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong khu vực biên
giới biển; Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Công an thống nhất hướng dẫn
chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các cấp ven biển tổ chức quản lý, bảo vệ biên giới quốc
gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển theo quy
định của pháp luật; Bộ Ngoại giao chỉ đạo, hướng dẫn các Bộ, ngành, Ủy ban nhân
dân các cấp thực hiện chính sách xây dựng biên giới, các điều ước quốc tế về biên
giới mà Việt Nam đã ký kết với các nước hữu quan. Phối hợp với Bộ Quốc phòng
công trình phục vụ nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, giữ gìn an
ninh, trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển (điều 23).
Trên cơ sở Nghị định số 161/2003/NĐ-CP ngày 18/12/2003 của Chính phủ
quy định về Quy chế khu vực biên giới biển, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư
số 89/2004/TT-BQP ngày 19/6/2004 để hướng dẫn thực hiện Nghị định nói trên.
Theo đó, tại mục 1 phần III của Thông tư này đã nhấn mạnh: Bộ đội Biên phòng là
lực lượng nòng cốt chuyên trách, chủ trì phối hợp với các lực lượng quân đội, công
an, cảnh sát biển, hải quan và các lực lượng liên quan khác trong việc thực hiện
nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển.
Như vậy, các lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh, quốc phòng trên biển
bao gồm: Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng và Hải quân, hoạt động phối hợp giữa
các lực lượng này sẽ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định. Các lực lượng kiểm
tra, kiểm soát chuyên ngành gồm: Kiểm ngư, Thanh tra giao thông, Hải quan,
Thanh tra môi trường, Y tế và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam v.v...
Hiện nay, nhiều Bộ, ngành có liên quan trực tiếp và có chức năng về quản lý
biển. Ví dụ như, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Giao thông vận
tải, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Tổng Cục Hải quan,
Bộ Thông tin và Truyền thông, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Ủy ban
Quốc gia tìm kiếm - cứu nạn, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan vv...
Nhiệm vụ của các lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Việt Nam
Tham gia quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo và thềm lục địa, Đảng và
Nhà nước ta đã giao cho nhiều cơ quan, tổ chức đảm nhiệm trọng trách quan trọng
này trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Điều đó đã được quy định cụ thể trong
nhiều văn bản pháp luật.
Nghị định 30-CP ngày 29/01/1980 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính
phủ) về quy chế cho tàu thuyền nước ngoài hoạt động trên các vùng biển của Việt
Nam. Tại Điều 22 Nghị định này đã quy định nhiệm vụ cho các lực lượng kiểm
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp
luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên để góp
phần giữ gìn an ninh, trật tự, hòa bình và ổn định trên các vùng biển (Điều 8).
Ngoài ra, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có nhiệm vụ thu thập, tiếp nhận
thông tin, xử lý kịp thời và thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan theo quy
định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là
thành viên; tham gia tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục sự cố trên biển, và thực hiện các
hoạt động bảo vệ môi trường, tổ chức ứng phó sự cố môi trường biển (điều 9),phối
hợp với các lực lượng khác bảo vệ tài sản của nhà nước, tính mạng tài sản của
người và phương tiện hoạt động hợp pháp trên các vùng biển và thềm lục địa Việt
Nam, phối hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ trang để bảo vệ chủ quyền, an
ninh quốc gia trên các hải đảo, vùng biển thuộc lãnh thổ của Việt Nam và quyền
chủ quyền trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
13
Nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát biển theo Pháp lệnh năm 2008 nói trên
cũng đã được ghi nhận trong Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm
1998, nhưng đã được điều chỉnh và tăng thêm chức năng nhiệm vụ cho phù hợp với
tình hình biển, đảo Việt Nam hiện nay.
Tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam còn có lực lượng Bộ
đội Biên phòng. Theo Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997 quy định thì Bộ đội
Biên phòng là lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng, của Nhà nước Việt Nam, là
một thành phần của Quân đội nhân dân Việt Nam, làm nòng cốt, chuyên trách quản
lý, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh, trật tự biên giới quốc gia trên đất
liền, các hải đảo, vùng biển... Bộ đội Biên phòng có nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát
bảo vệ biên giới lãnh thổ quốc gia trên biển theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nghị định 25/2008/NĐ-CP ngày 04/3/2008 của Chính phủ quy định về chức
năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo đó,
HS thấy được vai trò, vị trí cũng như tầm quan trọng của bảo vệ chủ quyền biển,
đảo của nhà nước ta.
Các ngành và địa phương
Các ngành và địa phương đã tích cực xây dựng nhiều chiến lược, quy hoạch
phát triển các ngành, lĩnh vực liên quan đến biển. Thực hiện các chủ trương của
Đảng (Chỉ thị số 20-CT/TW, ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát
triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá), chấp hành Chỉ thị
399/TTg của Thủ tướng Chính phủ, các ngành, các địa phương đã tiến hành quy
hoạch, trong đó rõ nhất là quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm
2010, các quy hoạch chuyên ngành thủy sản (khai thác xa bờ, nuôi tôm và hải sản ở
các vùng đồng bằng sông Hồng, miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long, thủy lợi
phục vụ nuôi trồng thủy sản ở bán đảo Cà Mau, quy hoạch thông tin cứu nạn ngành
thủy sản...); chiến lược phát triển ngành dầu khí; quy hoạch phát triển ngành tàu
thủy; các quy hoạch về phát triển cảng, tìm kiếm cứu nạn, v.v... Đến nay, các tỉnh
ven biển đều có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, có nội
dung định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực về biển. Ngoài ra, đã tiến hành một
số quy hoạch liên quan đến phát triển kinh tế biển như quy hoạch phát triển các đảo
Phú Quốc, Phú Quý, Côn Đảo; quy hoạch phát triển một số khu kinh tế ven biển
như Vân Phong, Cam Ranh, Chân Mây, Chu Lai, Nhơn Hội…
Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển
Quy mô kinh tế biển và vùng ven biển tăng lên, cơ cấu ngành, nghề có thay đổi
cùng với sự xuất hiện ngành kinh tế mới như khai thác dầu khí, tìm kiếm cứu hộ
cứu nạn... Năm 2000, GDP của kinh tế biển và vùng ven bằng 47% GDP cả nước.
Năm 2005, GDP của kinh tế biển và vùng ven biển bằng hơn 48% GDP cả nước,
trong đó, GDP của kinh tế biển chiếm khoảng gần 22% tổng GDP cả nước.
Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của ngành kinh tế diễn ra trên biển
chiếm tới 98%, trong đó, khai thác dầu khí chiếm 64%; hải sản 14%; hàng hải (vận
tải biển và dịch vụ cảng biển) 11%; du lịch biển trên 9%. Các ngành kinh tế có liên
quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí,
chế biến thuỷ, hải sản, thông tin liên lạc, v.v... bước đầu phát triển.
nghề biển như hậu cần nghề cá; công nghiệp gắn với cảng; cảng biển và vận tải
biển, du lịch biển, nghiên cứu khoa học về biển, v.v...
Những phát triển mới ở một số hải đảo
Ở một số hải đảo đã có bước phát triển mới. Hiện nay, ở những đảo có điều
kiện phát triển đều có dân cư, kết cấu hạ tầng được tăng lên rõ rệt nhờ nguồn vốn
Biển Đông - hải đảo (hình thành hệ thống giao thông trên đảo, nhiều đảo gần bờ có
điện lưới, các đảo xa bờ có máy phát điện, một số đảo sử dụng điện mặt trời, trên
các đảo đã xây dựng các cơ sở cung cấp nước ngọt). Vai trò kinh tế của các đảo
tăng lên rõ rệt, nhiều đảo đã phát triển mạnh nghề cá, đặc biệt là đánh bắt xa bờ,
phát triển du lịch, bảo vệ và phát triển rừng, v.v. Tương lai có nhiều đảo như Vân
Đồn, Cát Hải, Côn Đảo, Phú Quốc... sẽ phát triển thành những trung tâm để ra
biển.
Về công tác đối ngoại liên quan đến biển
Công tác đối ngoại liên quan đến biển đã đạt được một số kết quả quan
trọng. Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết một số thỏa thuận trên biển với các nước
láng giềng: Hiệp định vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia (l982), Thỏa thuận
khai thác chung vùng chồng lấn thềm lục địa Việt Nam - Malaysia (l992), Hiệp
định về phân định ranh giới biển Việt Nam - Thái Lan (l997), Hiệp định phân định
lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt
16
Nam - Trung Quốc ký kết năm 2000 (Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn
Hiệp định này ngày 15/6/2004) và Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam Indonesia (2003). Ngoài ra, Việt Nam cũng mở diễn đàn trao đổi về vấn đề chủ
quyền hai quần đảo với Philippin (1995), Trung Quốc (1995) và Malaysia, tham gia
ký kết các văn kiện mang tính chất khu vực về Biển Đông, triển khai một số dự án
hợp tác song phương và đa phương với các nước liên quan, trong đó có dự án
nghiên cứu khoa học biển Việt Nam - Philippin (JOMSRE).
Về quốc phòng, an ninh trên biển
Nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trên biển được bảo đảm. Việt Nam đã đàm
17
biển, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế chủ động, tích cực phát triển và khai thác
tiềm năng của biển, cho các nước bạn bè an tâm hợp tác, liên doanh liên kết làm ăn
với Việt Nam.
4. Giáo dục nâng cao nhận thức cho học sinh trường THPT Tôn Đức
Thắng công ước LHQ về Luật biển 1982, DOC, COC....
Nội dung giáo dục chú trọng vào các quan điểm, chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước về biển, đảo, Luật Biển Việt Nam, Chiến lược Biển Việt Nam đến
năm 2020, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các Hiệp định đã ký
kết về phân định ranh giới trên biển giữa nước ta với các nước có liên quan, Tuyên
bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC),… Qua đó, thống nhất nhận
thức, tạo sự chuyển biến tích cực về ý thức, trách nhiệm của học sinh trong nhà
trường về công tác giáo dục, tuyên truyền biển, đảo.
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống, khơi dậy lòng yêu nước
chân chính, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; coi trọng xây dựng “thế trận lòng dân”,
củng cố niềm tin của học sinh đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà
nước; nâng cao nhận thức chính trị, ý thức chấp hành pháp luật Việt Nam, pháp luật
quốc tế về biển trong HS của nhà trường… Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, động viên, cổ vũ học sinh tích cực
hưởng ứng các hoạt động hướng về biển, đảo và tham gia quản lý, bảo vệ chủ
quyền biển, đảo của Tổ quốc; đồng thời, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng
tình hình căng thẳng ở Biển Đông có các hành động kích động chống phá.
5. Tuyên truyền, phổ biến về vấn đề biển, đảo Việt Nam cũng như các:
Hiến pháp 2013, Luật Biển 2012 và các Nghị quyết của Quốc hội,
Chính phủ về vấn đề biển, đảo Việt Nam cho học sinh
Công tác tuyên truyền biển, đảo cần bám sát thực tiễn tình hình, không
ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền phù
hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng, đồng thời tận dụng có hiệu quả các
trường, phải gắn kết giữa lịch sử với hiện tại để học sinh thấy được ý nghĩa và tầm
quan trọng của biển, đảo trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; làm cho
mỗi học sinh của trường thấy được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với chủ
quyền biển, đảo quốc gia. Từ đó đoàn kết, chung sức đồng lòng quyết tâm làm chủ,
bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Nhà trường cần thường xuyên tổ chức nhiều hoạt động giáo dục ngoại khóa,
kết hợp cùng thời gian lên lớp với các hình thức truyền tải nội dung đa dạng, phong
phú, hấp dẫn khác nhau nhằm thu hút đông đảo học sinh tham gia. Các nội dung để
tuyên truyền chủ yếu là giới thiệu về vùng biển chủ quyền của Việt Nam bao gồm
các vùng nước theo luật biển Quốc Tế như Vùng Nội thủy, vùng Lãnh hải, vùng
Tiếp giáp lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Giới thiệu về hệ thống
các đảo lớn (huyện đảo) và các quần đảo. Điều kiện kinh tế xã hội, đặc điểm dân
cư, cuộc sống thường ngày của người dân trên các đảo.
Có thể tiến hành các phương pháp như: tổ chức các hội thi đố vui để học; thi
văn nghệ hát về biển, đảo; thi vẽ tranh với chủ đề Biển, đảo; tổ chức các cuộc thi
tìm hiểu kiến thức về biển, đảo theo hình thức viết, trắc nghiệm với chính sách
động viên, khen thưởng hấp dẫn thi kể chuyện; hùng biện với chủ đề biển, đảo…
nhằm tạo sân chơi sôi nổi, hấp dẫn và lôi cuốn đa số học sinh toàn trường tham gia.
6. Nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh
19
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là một tổ chức chính trị - xã hội của
thanh niên Việt Nam được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam sáng
lập, lãnh đạo và rèn luyện. Tổ chức đoàn chính là trường học cộng sản của thanh
niên Việt Nam, là người đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi của tuổi trẻ.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới
cũng như khu vực đã tác động mạnh mẽ đến thế hệ trẻ. Những tác động đó đã ảnh
việc mới của tôi. Nhưng sau đó, tôi thấy các em mạnh dạn hơn, yêu thích hơn, sáng
tạo hơn, thoải mái hơn khi đến tiết học vì thông qua đó các em có thể tự do phát
20
biểu ý kiến, nói lên suy nghĩ, cảm nhận của mình về các vấn đề mà các em đã được
biết, đã được tìm hiểu.
Từ kết quả khảo sát thực tế cho thấy, có đến 90% các em thích thú với việc
tự mình tìm hiểu thực tế và kết quả học tập của các em cũng cải thiện rõ rệt. Dưới
đây là kết quả thống kê của tôi đối với những em giáo dục nhận thức bảo vệ biển
đảo Việt Nam so với những em chưa được triển khai ở các năm học trước. Sau khi
các em tìm hiểu, viết báo cáo và thực hiện báo cáo về nội dung mình từ những báo
cáo của các em tôi đã sử dụng kiến thức tìm kiếm được của các em, để các em vận
dụng vào bài kiểm tra.
Nội dung kiểm tra kiến thức các em học sinh lớp 11 về bảo vệ biển đảo
Việt Nam
* Câu hỏi 1: Em hãy kể tên các đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam? Là công dân Việt Nam thì em sẽ làm gì khi có
sự xâm phạm đến các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền của nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam?
* Câu hỏi 2: Em có nhận định như thế nào về việc Trung Quốc chiếm đóng
trái phép trên quần đảo Hoàng Sa của đất nước ta?
Kết quả đánh giá bằng điểm số sau khi các em làm bài tôi ghi nhận sau
đây:
Kết
Lớp
quả
bài
kiểm
%
SL
%
38
6
16%
7
18%
25
64%
0
0%
36
4
11%
11b4
37
5
14%
6
16%
26
70%
0
0%
11b5
34
4
12%
5
21
Kết
Lớp
quả
bài
kiểm
tra của
các em 11a
NH:
2016- 11b2
2017
11b3
Sĩ số
học
sinh
Kết quả
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
SL
0%
32
10
31%
14
44%
8
25%
0
0%
35
13
37%
11
31%
35
9
26%
13
37%
13
37%
0
0%
177
53
30%
58
33%
66
3. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Trên cơ sở căn cứ vào những điều kiện cũng như tình hình thực tế nhà trường
mà tổ chức tiến hành các hình thức tuyên truyền phù hợp. Thông qua công tác này
sẽ giúp học sinh hiểu hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng cũng như tiềm năng của
biển, đảo Việt Nam; các đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà
nước ta về chiến lược biển, đảo trong tình hình mới. Qua đó, giúp nâng cao ý thức
và trách nhiệm hơn cho học sinh của trường trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo
thiêng liêng của Tổ quốc. Đồng thời, giúp học sinh tăng cường cảnh giác, bản lĩnh
hơn với các âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch và các loại tội phạm đang
hàng ngày, hàng giờ tác động, chuyển hóa tư tưởng, lôi kéo họ vào các hoạt động
chống Đảng, Nhà nước ta và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Đề tài áp dụng hiệu quả tại trường THPT Tôn Đức Thắng và có khả năng áp
dụng trên các trường THPT trên toàn tỉnh Đồng Nai.
Vì vậy tôi mạnh dạn đề xuất một số vấn đề có liên quan đến môn học như
sau:
Cần đầu tư trang thiết bị hơn nữa để công tác giảng dạy đạt kết quả cao
hơn, vì đây là môn học được xem là môn đặc thù nên tài liêu tham khảo, dụng cụ
giảng dạy còn rất thiếu thốn.
Các cấp, ban, ngành cần tạo điều kiện hơn nữa để giáo viên có điều kiện nâng
cao nhận thức và trình độ chuyên môn, để công tác giảng dạy, truyền thụ kiến thức
được tốt hơn, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu trong thời kì mới.
Công tác tập huấn hàng năm cần thực hiện bài bản hơn, chặt chẽ hơn . Bên
cạnh đó, qua các đợt thi giáo viên giỏi, các đề tài sáng kiến kinh nghiệm, nếu giáo
viên nào, đề tài nào đạt kết quả cao cần triển khai mở rộng cũng như đưa vào
chương trình tập huấn, để những giáo viên khác có thể tham khảo, nếu thấy phù
hợp với điều kiện địa phương, cơ quan nơi mình đang công tác thì có thể áp dụng,
để công tác giảng dạy đạt kết quả cao…
Người viết
Cán bộ
GDQP&AN
Giáo dục quốc phòng và an ninh
TNCS
Thanh Niên cộng sản
ĐH
Đại học
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
THPT
Trung học phổ thông
25