1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài.
Như ta đã biết, môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo
bao quanh con người. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt
đối với đời sống con người, sự phát triển kinh tế, văn hóa của nhân loại. Khi môi
trường bị ô nhiễm sẽ gây hại đến sức khỏe con người, sự phát triển của sinh vật
và làm giảm chất lượng cuộc sống. Đặc biệt môi trường có vai trò vô cùng to lớn
đối với sự phát triển của trẻ, bởi giai đoạn này cơ thể trẻ rất non nớt và đang
phát triển mạnh cả về thể lực và tâm lý. Một môi trường tự nhiên sạch đẹp giúp
cho cơ thể trẻ phát triển tốt, một xã hội lành mạnh sẽ giúp cho nhân cách trẻ
được hình thành. Có thể nói rằng môi trường là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Hiện nay vấn đề ô nhiễm môi trường
đang diễn ra liên tục ở tất cả các nước trên thế giới, ô nhiễm môi trường ảnh
hưởng tới toàn cầu như tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước, hạn hán, lũ
lụt... Ở Việt Nam đang bị ô nhiễm nặng nề do sự bùng nổ dân số cùng với quá
trình đô thị hóa nhà máy, xí nghiệp đã tạo ra nhiều khí thải, lượng rác trong sinh
hoạt ngày càng nhiều nhưng chưa được quan tâm xử lý tốt...
Trong những năm gần đây vấn đề khắc phục ô nhiễm và khủng hoảng môi
trường trên toàn cầu là một mục tiêu lớn của các quốc gia. Sự thiếu hiểu biết của
con người là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên sự ô nhiễm và suy
thoái môi trường. Con người là yếu tố chính làm cho tình trạng ô nhiễm gia tăng
trầm trọng nhưng chính con người cũng là nhân tố bảo vệ môi trường và cải
thiện môi trường sống. Để có một môi trường sống trong sạch, tiết kiệm chi phí
cho quốc gia thì việc giữ gìn và bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả mọi
người, mọi nhà, mọi lứa tuổi. Bảo vệ môi trường là những hoạt động giúp cho
môi trường trong sạch, bảo vệ môi trường sinh thái, ngăn chặn khắc phục hậu
quả xấu do con người, thiên nhiên gây ra, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn
tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách và
có tính xã hội sâu sắc cần được giáo dục cho con người ngay từ lứa tuổi còn thơ.
Đây là giai đoạn đặc biệt nhạy cảm của đời người và cũng là giai đoạn đặt nền
hội.
- Tuyên truyền tới các bậc phụ huynh, cộng đồng nhận thức đúng vai trò,
nhiệm vụ và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong gia đình và
trường mầm non.
- Nâng cao các nội dung hình thức bảo vệ môi trường, lồng ghép vào các hoạt
động thực hành bảo vệ môi trường để phù hợp và đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện
nay.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về việc “Giáo dục trẻ 4 – 5 tuổi lớp B2 bảo vệ môi trường ở
trường mầm non Thiệu Duy- Huyện Thiệu Hóa”
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng nhiều phương pháp nhằm đạt hiệu
quả cao nhất như:
- Tự học tập tài liệu bồi dưỡng chuyên môn và tạo môi trường hoạt động cho
trẻ.
- Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan minh họa.
- Phương pháp thực hành, trải nghiệm.
- Phương pháp quan sát, trò chuyện.
- Phương pháp dạo chơi, tham quan.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
- Phương pháp lồng ghép, tích hợp.
- Phương pháp tuyên dương, khích lệ.
- Phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin.
- Phương pháp tuyên truyền phối hợp với phụ huynh, cộng đồng.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2
ban hành Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực ngày
1/7/2006.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Hiện nay, môi trường trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang
bị ô nhiễm nặng nề. Trước thực trạng đó giáo dục bảo vệ môi trường đã trở
thành vấn đề trở lên cấp bách mang tính chiến lược toàn cầu vì vậy chính phủ
đưa ra nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuyên truyền giáo dục
môi trường nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường, vì thế cần
giáo dục con người ngay từ lúc tuổi thơ để trẻ hiểu và nhận thức về môi trường
một cách tổng quát hơn. Đối với các cháu nhỏ đang ở độ tuổi mẫu giáo trong các
trường mầm non đã có một số biện pháp để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho các cháu. Ở một số môn học cũng được lồng ghép chủ đề môi trường vào
3
giảng dạy, góp phần làm sạch hơn môi trường của chúng ta. Tuy nhiên các hoạt
động đó vẫn chưa đem lại hiệu quả lắm vì đa số trẻ nhỏ chưa có ý thức cao trong
việc bảo vệ môi trường, những việc làm của các cháu chưa có tính tự giác, khi
nào giáo viên nhắc nhở, yêu cầu thì các cháu mới làm, nếu có thì chỉ ít cháu làm.
Chính vì thế, trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã gặp một số thuận lợi và
khó khăn như sau:
* Thuận lợi:
- Được sự quan tâm của phòng giáo dục, hàng năm đã tổ chức chuyên đề
bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên.
- Thường xuyên được dự các buổi sinh hoạt chuyên môn tại trường để trao
đổi đúc rút kinh nghiệm.
- Dự giờ đồng nghiệp để trau dồi kiến thức nâng cao chất lượng về việc phát
huy tính tích cực giáo dục trẻ có ý thức bảo vệ môi trường.
- Được sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu nhà
Số
trẻ
khảo
sát
Số
trẻ
Tỷ lệ
%
Số
trẻ
41
12
29,27
19
Tỷ lệ
%
Chưa đạt
Số
trẻ
Tỷ lệ
41
12 29,27 18
43,9
11 26,82
và phá hoại môi trường.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Từ bảng khảo sát đầu năm như trên, tôi đã thấy khả năn tiếp nhận giáo dục môi
trường của trẻ là đạt chưa cao so với nhu cầu cần được có của trẻ. Để trẻ có thể
tự tin mạnh dạn và có ý thức cao hơn trong giáo dục môi trường thì rất cần sự cố
gắng của bản thân tôi, bởi vậy mà tôi luôn luôn cố gắng tìm tòi những kinh
nghiệm mới, phương pháp mới phù hợp với khả năng vốn có của trẻ.
Giải pháp 1: Xây dựng môi trường lớp học.
- Ngay từ đầu năm học theo kế hoạch và sự chỉ đạo của nhà trường, tôi xây
dựng môi trường lớp học thân thiện đối với trẻ. Xây dựng kế hoạch lao động vệ
sinh, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, giá tủ, thiết bị vệ sinh như thùng rác, xô, chậu,
bồn cầu luôn được giữ gìn sạch sẽ. Đồ dùng, đồ chơi được sắp xếp gọn gàng,
ngăn nắp, từng góc riêng biệt tôi đều làm mới, để hấp dẫn trẻ, tạo cảm giác hứng
thú luôn mong muốn được sắp xếp ngăn nắp.
- Để tạo cảnh quan sân trường, trước giờ học tôi thường cho trẻ nhặt lá cây,
nhặt rác để tạo môi trường sạch đẹp. Còn đối với các góc đồ chơi, đầu tuần tôi
thường tổ chức trẻ thi đua lau dọn, sắp xếp đồ chơi gọn gàng.
- Đặc biệt xây dựng góc thiên nhiên của lớp tạo điều kiện cho trẻ được hoạt
động, được trải nghiệm. Góc thiên nhiên là nơi dành cho các hoạt động chăm
sóc cây cối như: Nhặt cỏ, bắt sâu, tưới nước, lau lá... Khi chăm sóc cây, ở trẻ sẽ
nảy sinh những kĩ năng cũng như tình cảm yêu mến, bảo vệ cây.
Tôi chuẩn bị những chai lọ bỏ đi, thùng xốp bỏ đất vào cho trẻ gieo hạt, hàng
ngày trẻ thay nhau chăm sóc và quan sát sự nảy mầm sinh trưởng của cây.
Xây dựng góc thiên nhiên có các cây xanh như: Cây nha đam, hoa mười giờ,
cây hoa bỏng...
- Dạy trẻ tạo ra những sản phẩm tạo hình. Từ đó giáo dục trẻ lòng yêu thiên
* Hoạt động chung.
- Hoạt động học là một trong các hoạt động cơ bản của trẻ ở trường. Trong
giờ học dưới sự hướng dẫn của cô, trẻ tích cực lĩnh hội các tri thức đơn giản
dưới các biểu tượng về các sự vật hiện tượng xung quanh. Hoạt động học giúp
cho việc củng cố và hệ thống hóa các kiến thức mà trẻ tích lũy được trong cuộc
sống hàng ngày. Vì vậy, có thể sử dụng hoạt động này để thực hiện lồng ghép,
tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường một cách hiệu quả. Ở đây, trẻ
được tham gia nhiều hoạt động học khác nhau. Phát triển thể chất, khám khá
khoa học, âm nhạc, tạo hình, làm quen với tác phẩm văn học...
Ví dụ: Trong giờ hoạt học có chủ đích làm quen với tác phẩm văn học, dạy trẻ
bài thơ: “Hoa kết trái”[4] của tác giả Thu Hà. Khi trò chuyện với trẻ về nội
dung bài thơ, tôi đặt ra câu hỏi trẻ:
Hoa có tác dụng gì đối với con người ?
Từ đó, cô giáo dục trẻ cần phải biết bảo vệ, chăm sóc thì cây mới cho con
người nhiều hoa thơm quả ngọt.
* Hoạt động ngoài trời:
- Cho trẻ lao động tập thể: Trẻ nhặt lá trong bồn hoa.
Tôi cho trẻ quan sát bồn hoa trong sân trường. Phát hiện trong bồn hoa có một
số vỏ hộp sữa khi đó hỏi trẻ:
Trong bồn hoa có những gì ?
Điều gì sẽ xảy ra nếu trong bồn hoa ngày càng có nhiều thêm các vỏ hộp sữa ?
Vỏ hộp sữa phải để ở đâu ?
6
Sau đó, cô cùng trẻ nhặt vỏ hộp sữa trong bồn hoa bỏ vào thùng rác.
- Cho trẻ dạo chơi quan sát cây xanh. Cô nêu tác dụng của cây là cho bóng mát
để chúng mình vui chơi những ngày nắng nóng, cây giúp điều hòa không khí.
Qua đó, giáo dục trẻ không được hái lá, bẻ cành, leo trèo cây, mà phải thường
xuyên chăm sóc, tưới nước, nhổ cỏ...cho cây.
ngăn nắp, gọn gàng, có ý thức tiết kiệm nước và các nguyên liệu.
+ Góc học tập. Cho trẻ xem sách tranh và phân biệt hành vi làm ô nhiễm môi
trường như (không vặn vòi nước khi dùng xong, ném rác xuống ao hồ, bẻ hoa
ngắt cành...), và những hành vi tốt như (lau bàn ghế, chăm sóc cây, vứt rác đúng
nơi quy định...). Yêu cầu trẻ tô màu những hành vi đúng, gạch chéo những hành
vi sai.
+ Góc tạo hình. Cô cho trẻ xé dán vườn hoa. Ngoài việc khuyến khích trẻ xé
dán được bức tranh đẹp, thì trẻ cần phải biết sắp xếp - cất dọn đồ dùng (hồ dán,
giấy màu...) . Sau khi trẻ hoạt động xong giấy vụn rơi vãi ở lớp rất nhiều, cô yêu
cầu trẻ nhặt để vào thùng rác đúng nơi quy định.
* Vệ sinh - ăn trưa.
- Đây là hoạt động nhằm hình thành một số nề nếp, thói quen trong sinh hoạt,
giúp đáp ứng nhu cầu sinh lí của trẻ, tạo cho trẻ trạng thái thoải mái, vui vẻ.
- Tập cho trẻ thói quen rửa
tay bằng xà phòng trước khi
ăn, sau khi đi vệ sinh. Các
con rửa tay không được té
nước vào người nhau, nhắc
trẻ biết tiết kiệm nước,
không vặn vòi nước quá to,
dùng xong vặn vòi lại.
- Giúp cô kê bàn ghế, chia
thìa, chia cơm, gấp khăn,
phơi khăn... Trước khi ăn
mời cô, mời bạn. Khuyến
khích trẻ ăn hết suất, ăn ngon
miệng, cơm rơi vãi nhặt để
gọn gàng vào đĩa, không
ngậm lâu trong miệng, không
nói chuyện khi ăn, ăn phải
Khi dạy trẻ ở các chủ đề tôi đã trú trọng đến nội dung lồng ghép tích hợp
các kiến thức bảo vệ môi trường vào nội dung bài học.
9
Ví dụ 1: “Chủ đề trường mầm non” [5] ngoài việc cung cấp kiến thức cho
trẻ về chủ đề, tôi còn giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn trường lớp sạch sẽ, không
hái hoa bẻ cành cây xung quanh trường lớp...Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi
“chọn những hành vi đúng – sai”. Cô làm tranh về việc giữ gìn bảo vệ môi
trường của một bạn nhỏ như: bé vứt rác vào thùng, vứt rác bừa bãi, bé ngồi lên
bàn, bé tranh giành đồ chơi... Sau đó chia trẻ thành hai đội, mỗi đội có một bức
tranh yêu cầu trẻ phải bật qua các vòng và yêu cầu một đội khoanh tròn những
hành vi đúng, một đội khoanh tròn các hành vi sai. Thời gian được tính sau một
bản nhạc, đội nào khoanh được nhiều kết quả đúng yêu cầu là đội thắng cuộc.
Ví dụ 2: “Chủ đề bản thân” [5] giáo dục trẻ biết lợi ích của việc giữ gìn vệ
sinh thân thể, vệ sinh môi trường đối với sức khỏe con người. Trẻ có hành vi và
thói quen tốt trong ăn uống. Mời cô, mời bạn, không ăn quà vặt ngoài đường...
Cho trẻ khám phá thực hành trải nghiệm 5 giác quan và qua đó giáo dục trẻ biết
chăm sóc giữ gìn đôi mắt như. Không dụi tay bẩn lên mắt, rửa mặt hàng ngày
bằng nước và khăn sạch, biết đội mũ, đi ô khi ra nắng, trời mưa, thường xuyên
đánh răng trước khi đi ngủ và sau khi ngủ dậy...
Ví dụ 3: “Chủ đề gia đình”[5] trẻ thấy được sự thay đổi của môi trường xung
quanh nhà của mình. Biết quý trọng giữ gìn đồ dùng trong gia đình, lau rửa đồ
dùng bàn ghế, quét nhà, không vẽ lên tường nhà, không khạc nhổ bừa bãi... có ý
thức về những việc nên làm như: khóa vòi nước khi không sử dụng, tắt điện khi
ra khỏi phòng...
Tiết khám phá khoa học “Một số đồ dùng sử dụng điện trong gia đình
bé”. Trẻ biết được một số đồ dùng sử dụng điện trong gia đình như: Bóng điện
thắp sáng, ti vi, tủ lạnh, bàn là, quạt, nồi cơm điện... Cô giáo dục trẻ những kĩ
năng sử dụng đồ dùng bằng điện đúng cách vừa tiết kiệm điện lại có thể bảo
Những động vật sống dưới nước rất đa dạng như: Tôm, cá, cua... các con vật
này đang có nguy cơ cạn kiệt do thiếu ý thức của con người, khai thác bừa bãi,
dùng bom mìn để đánh bắt.
Hay những con vật sống trong rừng cũng ngày càng khan kiếm. Đặc biệt là
những động vật quý hiếm như: Voi, hổ, báo, tê giác... con người săn bắn tùy tiện.
Trước nguy cơ đó, để bảo vệ các con vật thì chúng mình cần phải làm gì ?
Ví dụ 6: “Chủ đề giao thông”[5]. Nước ta đang trên đường hội nhập kinh tế,
hàng loạt công trình, nhà máy, xí nghiệp mọc lên, nhu cầu phương tiện xe cộ đi
lại của người dân ngày một gia tăng. Lượng khí thải do các phương tiện giao
thông ô tô, xe máy, tàu hỏa... thải khói bụi vào không khí rất là độc hại.
Cho trẻ chơi trò chơi: “Tìm những hành vi đúng, hành vi sai”. Cô cho trẻ xem
những hình ảnh: Người đi xe máy không đội mũ bảo hiểm, ngồi trên xe thò đầu
giơ tay ra cửa sổ, người ngồi sau đứng lên xe máy, xe đạp, người đi bộ đi trên
vỉa hè, đi đúng luật lệ giao thông, trẻ em đá bóng dưới lòng đường.... Cô yêu cầu
trẻ chọn những hành vi đúng, hành vi sai.
Giáo dục trẻ khi đi trên đường phải đi cùng người lớn, đi bên phía tay phải,
không được chơi dưới lòng đường, đội mũ bảo hiểm để tránh tai nạn, khi ngồi
trên tàu xe phải ngồi im không được thò đầu, giơ tay ra cửa sổ.
Ví dụ 7: “Chủ đề các hiện tượng tự nhiên”[5]. Giúp trẻ biết về các hiện tượng
tự nhiên như: Gió, mây, mưa, sấm chớp, lũ lụt, hạn hán...
Qua đó trẻ biết phân biệt được đặc điểm của nước, nước sạch, nước bẩn,
lợi ích của nước như: con người cần nước để uống, tắm rửa, giặt quần áo, lau
nhà, nấu ăn. Con vật, cây xanh cần nước để sống và phát triển, nước giúp điều
hòa không khí và tạo ra vẻ đẹp cho môi trường. Công viên nước, đài phun nước,
hồ nước... Nguyên nhân làm cho nước bị ô nhiễm do đổ các chất bẩn, rác thải
trong sinh hoạt, nước thải chưa được xử lí, các hóa chất trong quá trình sản
xuất, xác chết của động vật, thực vật, cần phải tiết kiệm nước sạch trong sinh
hoạt, không vứt rác và thải chất bẩn xuống nước.
Tác hại do một số hiện tượng tự nhiên mang lại: Bão lụt làm cho nhà cửa
bị sập, cầu cống đường xá đi lại khó khăn, cây cối đổ, cây hoa màu vùi ngập
Giải pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin.
Trong giai đoạn hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác
giảng dạy là vô cùng hữu ích. Sử dụng công nghệ thông tin giúp cho trẻ có tư
duy trực tiếp để phát huy tính tích cực, trẻ hứng thú bao nhiêu thì kết quả đạt
được càng tốt bấy nhiêu. Cách sử dụng biện pháp này giúp trẻ hứng thú hơn, tư
duy phát triển mạnh, sự ghi nhớ các hình ảnh được dễ dàng. Trẻ xem các hình
ảnh, đoạn videoclip, băng hình, trò chơi có nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường. Ngoài ra có thể sưu tầm những tài liệu về môi trường và sử dụng trên đĩa
hình đưa vào máy tính những giờ đón, trả trẻ thường xuyên mở trên máy tính
cho trẻ xem các hình ảnh như: Tệ nạn chặt phá rừng, đốt phá rừng lấy củi, lũ lụt,
thiên tai, nguồn nước bẩn làm cá, tôm... chết. Những hình ảnh trẻ em tắm nước
bẩn, phóng uế bừa bãi... qua những hình ảnh đó có thể tiến hành ứng dụng dạy
trẻ trên tiết học hoặc trong các hoạt động để khắc sâu kiến thức giáo dục môi
trường.
Giải pháp 5: Tái sử dụng các nguyên vật liệu, phế thải làm một số đồ
dùng đồ chơi.
- Bên cạnh những biện pháp trên, tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn những
nguyên vật liệu, phế thải bỏ đi để hướng dẫn trẻ cùng thực hiện. Khi trẻ làm tôi
giải thích cho các con hiểu: Làm đồ dùng đồ chơi từ nguyên vật liệu phế thải là
12
việc làm có ý nghĩa bảo vệ môi trường. Vì cô và các con đã tiết kiệm được
nguyên liệu và góp phần giảm bớt đi lượng rác thải rất lớn đang thải ra môi
trường. Trẻ hiểu được từng việc làm của mình sẽ là động cơ để trẻ hình thành
những hành vi giúp cô tham gia bảo vệ môi trường. Tạo hứng thú cho trẻ khi
được khám phá các nguyên vật liệu tự tay mình làm những thứ đồ chơi thích thú
đó. Tôi cho rằng làm tốt công tác này thì hiệu quả giờ học được tăng cao.
- Ngoài ra, tôi sưu tầm thêm các mẫu đồ chơi trên mạng Internet, sách báo, tập
chí... để làm phong phú thêm ngân hàng đồ chơi tại lớp phục vụ cho việc dạy
Ngày hội bé đến trường và bế giảng năm học: Bố mẹ, người thân mua
bóng bay, cờ, bánh kẹo, bim bim cho trẻ đến trường. Các con không được vứt
cán cờ, cán bóng, vỏ kẹo bánh ra sân trường...
Trẻ tự hào về về một số điệu múa, bài hát, truyện cổ tích, món ăn truyền
thống của từng vùng ở từng ngày lễ. Trẻ biết yêu quý, bảo vệ và duy trì các nghề
13
truyền thống ở địa phương. Trẻ biết phong tục, lối sống của một số dân tộc, ảnh
hưởng của văn hóa đối với môi trường thiên nhiên và cuộc sống của con người.
Giải pháp 7: Phối kết hợp với phụ huynh, cộng đồng.
Tôi nhận thấy việc đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường đến với trẻ
ngoài việc giáo viên triển khai tốt ở lớp cần phải có sự phối kết hợp của phụ
huynh ở gia đình và toàn xã hội. Phụ huynh là nguồn động viên khích lệ và luôn
sát cánh cùng với nhà trường, những hoạt động của nhà trường muốn thành công
cần có sự đồng lòng, hưởng ứng, góp sức của các bậc phụ huynh.
Trường tôi tổ chức họp phụ huynh định kỳ 2 lần / năm học. Trong các
buổi họp cha mẹ học sinh, tôi phổ biến rõ nề nếp và những quy định chung của
trường về chăm sóc giáo dục trẻ. Tôi đã nói rõ ý nghĩa và tầm quan trọng về môi
trường cho phụ huynh được biết.
Lập kế hoạch phối hợp với phụ huynh theo từng chủ đề. Thể hiện tốt vai
trò liên kết giữa gia đình và nhà trường, mà từ đó tôi có kế hoạch điều chỉnh,
giáo dục trẻ cho phù hợp.
Trao đổi thông tin cần thiết với phụ huynh trong giờ đón và trả trẻ, phụ
huynh ở nhà thường xuyên giáo dục trẻ có ý thức bảo vệ môi trường. Bên cạnh
đó, bố mẹ luôn là tấm gương để trẻ bắt chước làm theo, gia đình thường xuyên
rèn nề nếp, thói quen cho trẻ ở nhà như: Cùng bố mẹ tham gia chăm sóc bảo vệ
cây trồng, vật nuôi trong gia đình, giữ gìn vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, tích cực diệt
duồi, muỗi, nhán...
Các bậc phụ huynh cũng là những tuyên truyền viên đóng vai trò quan
Chưa đạt
Số
Tỷ lệ
Trẻ
%
0
0
14
2. Tích cực tham gia các
hoạt động gần gũi, bảo vệ
môi trường, lớp học.
37
90,25
4
9,75
0
0
3. Biết chia sẻ và hợp tác
với bạn bè và người xung
Nhìn vào bảng trên cho ta thấy việc áp dụng các biện pháp như đã trình bày ở
trên đã mang lại kết quả thật rõ rệt, các cháu có thói quen bảo vệ môi trường
ngăn nắp biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sạch sẽ, tích cực tham
gia vào hoạt động tập thể để góp phần bảo vệ môi trường, kể cả những cháu nhút
nhát nhất đã biết chia sẻ hợp tác với bạn bè, biết bộc lộ cảm xúc, phản ứng với
những hành vi làm ô nhiễm hay phá hoại môi trường. Chơi với bạn biết đoàn kết
giúp đỡ lẫn nhau. Trẻ không hái hoa, ngắt lá, bẻ cành, biết bỏ rác đúng quy định
mà cô không cần nhắc nhở. Điều này chứng tỏ rằng kiến thức cô dạy đã ăn sâu
vào tiềm thức của trẻ.
* Đối với bản thân.
Với vai trò là người giáo viên, là người hướng dẫn trẻ nên bản thân phải
nắm chắc nội dung bảo vệ môi trường. Để từ đó tìm ra những phương hướng,
biện pháp tích cực vận dụng các phương pháp phù hợp gắn với cuộc sống thực
tế của trẻ. Hình thành cho trẻ những hành vi thái độ bảo vệ môi trường thường
xuyên và liên tục.
Luôn luôn nhận thức được bảo vệ môi trường và hướng mọi người bảo vệ
môi trường là vấn đề cấp bách.
Nhận thức đúng việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách hiệu quả,
hợp lí
Luôn tìm tòi và khám phá sử dụng và tái chế các nguyên vật liệu, phế thải
làm đồ dùng dạy học.
* Đối với đồng nghiệp.
Từ những phương pháp bảo vệ môi trường tôi đưa vào thực hiện trẻ của
lớp đạt hiệu quả khá khả quan, nên chị em đồng nghiệp cũng đã áp dụng đưa vào
thực hiện ở lớp mình.
* Đối với nhà trường.
Nhà trường khuyến khích mọi giáo viên hãy phát huy hơn nữa, tích cực
nghiên cứu tìm tòi nhiều biện pháp hay để đưa vào công tác giảng dạy trong nhà
trường giáo dục trẻ bảo vệ môi trường đạt hiệu quả.
15
Thanh Hóa, ngày 24 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình viết không sao chép
nội dung của người khác.
Người viết sáng kiến
Trần Thị Thúy
Lê Thị Hằng
16
Tài liệu tham khảo
[1]: Hội nghị Liên Hợp Quốc về “môi trường và con người’’ năm 1972 họp tại
stockholm.
[2]: Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ chính trị
[3]: QĐ số 1363/QĐ- TT ngày 17/10/2001 của Thủ tướng chính phủ
[4]: Tuyển chọn Trò chơi, bài hát, thơ ca, truyện, câu đố trẻ 4-5 tuổi theo chủ đề
Tác giả: Lê Thu Hương ( chủ biên) nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
[5]: Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non
theo chủ đề trẻ 4-5 tuổi ( theo chương trình giáo dục mầm non mới)
Tác giả: Lê Thu Hương( chủ biên) nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
17
Mục lục
NỘI DUNG
1. Mở đầu
Giải pháp 7: Phối kết hợp với phụ huynh, cộng đồng.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động
giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
3. Kết luận, kiến nghị
3
5
5
6
12
12
1. Kết luận
2. Kiến nghị
16
16
9
13
14
14
16
Tài liệu tham khảo
18