1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bàng quang tăng hoạt (hay Overactive Bladder - OAB) là khái niệm
được các tác giả P. Abram và A.Wein đưa ra lần đầu năm 1997 để chỉ tình
trạng rối loạn đi tiểu như tiểu gấp, tiểu nhiều lần, tiểu đêm, tiểu không tự chủ,
… đã được loại trừ các nguyên nhân thực thể. Năm 2002, Hiệp hội tiểu tự chủ
quốc tế (International Continent Society - ICS) chính thức chấp nhận sử dụng
thuật ngữ bàng quang tăng hoạt và đưa ra những định nghĩa cụ thể về tình
trạng bệnh lý này. Theo ICS, chẩn đoán BQTH khi có sự hiện diện của triệu
chứng tiểu gấp, thường đi kèm với tiểu nhiều lần và tiểu đêm, có hay không
kèm theo són tiểu. Các biểu hiện trên xuất hiện mà không có nhiễm khuẩn
đường tiết niệu, không có các tổn thương bệnh lý tại chỗ hoặc không có các
tác nhân chuyển hóa kèm theo có thể gây nên các triệu chứng trên. Trong định
nghĩa này, triệu chứng tiểu gấp là tiêu chuẩn vàng. Chẩn đoán BQTH khi có
triệu chứng tiểu gấp và một trong những triệu chứng còn lại .
Theo một nghiên cứu do Steward WF và cộng sự thực hiện năm 2001
tiến hành trên 5.204 người trưởng thành tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh bàng
quang tăng hoạt trong cộng đồng là 16,5%, ở nam 16% và nữ 16,9% nhưng
khác nhau về mức độ nặng của bệnh ở hai giới . Tỉ lệ mắc và mức độ nghiêm
trọng của BQTH được ghi nhận gia tăng theo tuổi . Nghiên cứu EPIC thực
hiện tại Canada và 4 nước Châu Âu (Đức, Italia, Thụy Điển và Anh) vào năm
2006, tỷ lệ mắc BQTH của người trưởng thành tại cộng đồng là 11,8%, trong
đó nam chiếm 10,8% nữ 12,8% . Một nghiên cứu khác tiến hành tại Châu Á
do ASFU tiến hành năm 2004 ở 11 nước Châu Á tiến hành trên 5.502 phụ nữ
trên 18 tuổi, có các triệu chứng tiểu nhiều trên 8 lần/24 giờ, tiểu gấp, són tiểu
gấp. Kết quả cho thấy có tới 53,1 % bị OAB . Nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ
này ở Châu Á là 29,9% ở nam giới .
2
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm về bàng quang tăng hoạt
Thuật ngữ bàng quang tăng hoạt để chỉ sự rối loạn trong giai đoạn đổ
đầy nước tiểu của bàng quang. Tình trạng bàng quang tăng hoạt là do sự co
bóp không tự chủ của cơ bàng quang trong khi bệnh nhân vẫn đang kiềm chế
phản xạ đi tiểu.
1.1.1. Chẩn đoán hội chứng bàng quang tăng hoạt
Theo hiệp hội tiểu không tự chủ quốc tế, chẩn đoán bàng quang tăng
hoạt khi có sự hiện diện của triệu chứng tiểu gấp, thường đi kèm với tiểu
nhiều lần, tiểu đêm, có thể kèm theo són tiểu. Các biểu hiện trên mà không
có nhiễm khuẩn tiết niệu, không có các tổn thương tại chỗ và không có các
tác nhân chuyển hóa kèm theo có thể gây nên các triệu chứng trên. Trong
định nghĩa này triệu chứng tiểu gấp là tiêu chuẩn vàng. Chẩn đoán bàng
quang tăng hoạt khi có triệu chứng tiểu gấp kèm theo một trong các triệu
chứng còn lại .
Hỏi các triệu chứng của bệnh:
Thầy thuốc cần tìm hiểu mức độ cơ bản các triệu chứng của bàng quang
tăng hoạt, mức độ ảnh hưởng của các triệu chứng này đến chất lượng sống và
các triệu chứng bàng quang của bệnh nhân để đảm bảo rằng các triệu chứng
này không liên quan đến bệnh lý đường tiết niệu dưới.
Các triệu chứng bàng quang tăng hoạt gồm
- Tiểu gấp: bệnh nhân than phiền có cảm giác buồn tiểu một cách đột
ngột, cần phải đi tiểu ngay và rất khó có thể nhịn được (còn tiểu có kiểm
soát). Đây là triệu chứng bắt buộc trong chẩn đoán BQTH.
5
Vì thế, đã có những bảng câu hỏi kèm theo chấm điểm cụ thể cho từng
câu hỏi nhằm giúp thuận lợi cho việc đánh giá chẩn đoán, và so sánh hiệu quả
điều trị bàng quang tăng hoạt với các phương pháp khác nhau.
1.1.2.1. Bảng câu hỏi của Coyne (2002) OAB q
Coyne lần đầu tiên giới thiệu bộ câu hỏi OAB-q vào năm 2002, sau đó
OAB-q được Ủy ban soạn thảo câu hỏi của hiệp hội tiểu không tự chủ Quốc tế
chấp nhận như là một bảng câu hỏi mẫu khi sử dụng đánh giá chẩn đoán bàng
quang tăng hoạt. Bảng này tập trung khá nhiều câu hỏi đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các triệu chứng bàng quang tăng hoạt đến chất lượng sống của
người bệnh.
Ban đầu bảng hoàn chỉnh gồm 62 câu hỏi trong đó có 13 câu hỏi đánh
giá các triệu chứng, 4 câu hỏi đánh giá chung và 44 câu hỏi đánh giá mức độ
ảnh hưởng của các triệu chứng bàng quang tăng hoạt đến chất lượng sống của
bệnh nhân (ảnh hưởng đến thói quen sinh hoạt hàng ngày, đến hiệu suất công
việc, hoạt động xã hội, đi du lịch, giấc ngủ, hoạt động tình dục…). Sau đó bộ
câu hỏi được rút ngắn xuống còn 33 câu với 8 câu đánh giá về triệu chứng, 25
câu đánh giá về ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh. Mỗi câu hỏi
bệnh nhân sẽ có 6 lựa chọn để trả lời tùy thuộc vào mức độ bệnh nhân cảm
nhận được: không bao giờ, một ít, thỉnh thoảng, khá nhiều lần, nhiều lần, rất
nhiều lần và được cho điểm từ 1 đến 6 lần lượt theo thứ tự như trên .
1.1.2.2. Bảng câu hỏi của Homma (2006) OABSS
Năm 2006 Homma tác giả người Nhật Bản đã giới thiệu bảng câu hỏi
đánh giá bàng quang tăng hoạt dựa vào 4 triệu chứng bao gồm: tiểu nhiều lần
vào ban ngày, tiểu nhiều lần vào ban đêm, tiểu gấp và són tiểu gấp . Mỗi triệu
chứng được phân chia thành các mức độ cụ thể để tính điểm. Cách phân chia
mức độ để tính điểm của Homma dựa vào kết quả nghiên cứu dịch tễ học về
nhân hiểu các câu trả lời để đánh giá chính xác và đồng nhất giữa các bệnh
nhân .
Trong khi đó bộ cung cụ để chẩn đoán bàng quang tăng hoạt của
Blaivas OABSS được xây dựng và áp dụng chủ yếu cho người Châu Âu, chưa
7
có nhiều nghiên ở các nước châu Á cứu áp dụng bộ câu hỏi này. Sự khác nhau
về văn hóa, chủng tộc và kích thước của người Châu Âu, do đó theo nhận
định của chúng tôi, bảng câu hỏi OABSS cần phải được nghiên cứu hiệu
chỉnh cho phù hợp với văn hóa, tính cách và đặc điểm của người châu Á.
Trong khi đó bộ công cụ đánh giá chẩn đoán bàng quang tăng hoạt của
Homma là bộ câu hỏi OABSS có các câu hỏi được định nghĩa chính xác, rõ
ràng và dễ hiểu.Tác giả Homma đã tiến hành so sánh độ nhạy cảm của
OABSS và nhật ký đi tiểu (một công cụ quan trọng trong việc theo dõi, đánh
giá và chẩn đoán bàng quang tăng hoạt trên lâm sàng) trong việc đánh giá các
triệu chứng bàng quang tăng hoạt trước và sau điều trị cho bệnh nhân bằng
thuốc kháng muscarinic . Tác giả đã chứng minh có mối liên quan khá chặt
chẽ (hệ số Kappa = 0,33-0,8) và có hệ số tương quan cao (Spearman’rho ≥
0,05)giữa các câu hỏi đánh giá trong bộ câu hỏi OABSS và các biến tường
ứng trong nhật ký đi tiểu trước điều trị và sau điều trị 12 tuần. Tác giả
Homma đã đưa ra kết luận rằng, OABSS có độ nhạy cao trong việc chẩn đoán
và đánh giá hiệu quả điều trị. Trong khi thực hiện phỏng vấn bộ câu hỏi
OABSS của Homma đơn giản và phù hợp hơn cho việc sàng lọc bệnh bàng
quang tăng hoạt tại cộng đồng so với nhật ký đi tiểu phải theo dõi ít nhất 3
ngày vốn phù hợp hơn cho chẩn đoán trong các bệnh viện. Chính vì sự đơn
giản, dễ thực hiện tại cộng đồng và độ tin cậy cao, bộ cậu hỏi OABSS của
Homma phù hợp hơn cho việc đánh giá, chẩn đoán sàng lọc bệnh nhân tại
cộng đồng hơn việc sử dụng nhật ký đi tiểu .
1.1.3. Dịch tễ học và tần suất mắc bệnh bàng quang tăng hoạt
Năm 2009, ở Mỹ W Cheung, tiến hành nghiên cứu phỏng vấn 325 người
tham gia với độ tuổi 18-97, có 311 người hoàn tất bộ câu hỏi. Kết quả cho
thấy có 53,2% phụ nữ tiền mãn kinh và 44,3% phụ nữ sau mãn kinh bị bàng
quang tăng hoạt. Trong đó phụ nữ tiền mãn kinh có tỷ lệ bàng quang tăng hoạt
thể hỗn hợp cao hơn sau mãn kinh với tỷ lệ 64,4% và 52,1%. Phụ nữ sau mãn
kinh có tỷ lệ bàng quang tăng hoạt có cảm giác tiểu gấp cao hơn thể rỉ tiểu
9
gấp với 18,8% và 10,2%. Kết quả này cũng cho thấy bàng quang tăng hoạt
tăng cao có ý nghĩa ở nhóm phụ nữ tiền mãn kinh có chứng béo phì .
Năm 2011 cũng ở Mỹ Karin S. Coyne và công sự tiến hành nghiên cứu ở
nam và nữ từ 40 tuổi trở lên từ nghiên cứu dịch tễ học triệu chứng đường tiết
niệu dưới (EpiLUTS). Kết quả cho thấy tỷ lệ triệu chứng bàng quang tăng
hoạt không xuất hiện thường xuyên ở nam là 27,2% và 43,1% ở nữ. trong khi
tỷ lệ này là 15,8% ở nam và 32,6% ở nữ có triệu chứng bàng quang tăng hoạt
xuất hiện thường xuyên .
Năm 2015, Malaysia, Ahmad SM và cộng sự tiến hành nghiên cứu tỷ lệ
bàng quang tăng hoạt ở 573 bệnh nhân nữ đến khám tại phòng khám sản phụ
khoa trong vòng 6 tháng. Kết quả cho thấy tỷ lệ bàng quang tăng hoạt chiếm
19,1%. Trong đó những phụ nữ có tiền sử đẻ thai to, sa sinh dục có tỷ lệ bị
bàng quang tăng hoạt cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân không có
tiền sử. Hơn một nửa số bệnh nhân có triệu chứng bàng quang tăng hoạt là
không được điều trị, họ cho rằng việc điều trị không cần thiết .
Năm 2016, tại Trung Quốc, Fang An tiến hành nghiên cứu trên 2.161
người tham gia trả lời câu hỏi, có 86,4% hoàn thành trả lời với độ tuổi 18-97
tuổi. Tỷ lệ bàng quang tăng hoạt 8,8% (191/2161) trong đó tỷ lệ nữ giới trên 50
tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn (p
Nếu bệnh nhân không theo dõi được thì có thể sử dụng nhật ký đi tiểu.
Nhật ký đi tiểu có thể được sử dụng để ghi nhân những dữ liệu và đánh giá cả
hai rối loạn tiểu gấp và són tiểu gấp. Việc theo dõi nhật ký đi tiểu trong 3 ngày
là một bước đầu tiên quan trọng để bắt đầ một quá trình thay đổi hành vi điều
trị bàng quang tăng hoạt. Tần số đi tiểu khác nhau giữa các bệnh nhân. Trong
cộng đồng người trưởng thành khỏe mạnh, tần số đi tiểu trung bình là 6
lần/ngày hay khoảng cánh giữa các lần đi tiểu là 3-4 giờ .
Cũng cần phải loại trừ nguyên nhân gây đi tiểu nhiều do thuốc bằng
cách hỏi xem bệnh nhân có đang phải sử dụng thuốc gì hay không. Một số
thuốc tây cũng như thuốc đông y có thể gây đi tiểu nhiều lần như lợi tiểu râu
ngô, bông má đề…và một số thuốc khác như: thuốc lợi tiểu, thuốc chông trầm
cảm, thuốc chống tăng huyết áp, thuốc ngủ, thuốc an thần, ma túy và các
thuốc giảm đau.
1.1.5. Nghiên cứu về tiền sử bệnh
Cần khai thác các bệnh phối hợp vì chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp
11
đến chức năng của bàng quang gây nên các triệu chứng đường tiết niệu dưới.
Các bệnh thường phối hợp với bàng quang tăng hoạt như:
• Các bệnh về thần kinh như: đột quỵ, bệnh parkinson, bênh xơ
cứng cột bên teo cơ và tổn thương tủy sống.
• Các bệnh lý nội khoa mạn tính như: các nguyên nhân gây hạn
chế vận động do tai biến mạch máu não, bệnh tiểu đường cơ biến chứng, các
rối loạn đại tiện (ỉa đùn hoặc táo bón), đau khung chậu mạn tính, tiền sử
nhiễm khuẩn tiết niệu tái diễn, đái máu đại thể, bệnh tăng nhãn áp góc đóng,
bệnh suy giảm nhận thức…, tiền sử phẫu thuật vùng tiểu khung và tia xạ vùng
khung chậu.
1.1.6. Điều trị bàng quang tăng hoạt
tiểu nên thực hiện từ 3 – 7 ngày để đảm bảo kết quả có giá trị.. Ghi chú càng
nhiều thì có càng nhiều dữ kiện để bác sĩ xem xét nguyên nhân và đưa ra
những tư vấn chi tiết hơn cho bệnh nhân.
- Tập đi tiểu theo giờ: Nhiều bệnh nhân cứ cố đi tiểu nhiều lần để
tránh bị són tiểu mà không có ý thức về việc thói quen đi tiểu nhiều lần có
thể làm nặng hơn tình trạng bệnh. Nên lập kế hoạch để bệnh nhân dần tập đi
tiểu theo giờ, tập kìm nén cảm giác mắc tiểu nếu chưa đến thời gian quy
định. Hướng dẫn bệnh nhân khoảng thời gian thích hợp giữa 2 lần đi tiểu là
3 – 4 giờ, và không nhất thiết cứ phải đi tiểu mỗi khi có cảm giác khác lạ
trong bàng quang. Việc quy định giờ cũng nên uyển chuyển: tùy theo dung
tích chứa đựng của bàng quang, lượng nước uống hàng ngày, loại công việc,
nhiệt độ của môi trường làm việc, cự ly và sự thuận lợi của nhà vệ sinh...
của mỗi cá nhân.
- Điều chỉnh chế độ ăn uống: Một số thức ăn và thức uống có tính lợi
tiểu hoặc gây kích thích bàng quang. Các loại nên kiêng dùng là caffein, bia
rượu, thức uống có đường,... Chất thường được nhắc đến là caffein, vì có rất
nhiều người nghiện uống cà phê. Nhiều thực phẩm có chứa caffein, và đáng
lưu ý là có hơn 1000 loại thuốc tây loại không cần kê toa (OTC) trong thành
13
phần có chứa caffein. Caffein vừa có tính lợi tiểu, vừa làm tăng sức co bóp
cơ bàng quang, vừa làm tăng kích thích bàng quang. Khuyên bệnh nhân
dùng những loại thay thế không chứa caffein. Trong trường hợp khó bỏ
được, bệnh nhân không nên uống quá 200mg/ngày, tức là không quá 2 ly cà
phê mỗi ngày, để hạn chế các triệu chứng tiểu gấp, tiểu nhiều lần.
- Điều chỉnh lượng nước uống: Uống nước qúa nhiều sinh ra lượng tiểu
nhiều dẫn đến tiểu nhiều lần, uống nước quá ít sinh ra tăng nồng độ nước
tiểu dẫn đến kích thích niêm mạc bàng quang gây tiểu gấp và là điều kiện
chạy vội làm tăng áp lực trong bụng, dễ kích thích bàng quang co bóp nên
càng làm trầm trọng thêm triệu chứng. Nên khuyên bệnh nhân khoan vội
chạy đi tiểu mà ở lại vị trí, hướng dẫn cho bệnh nhân các phương pháp căn
bản để tập kìm nén khi xuất hiện cảm giác mắc tiểu gấp
•Ngồi xuống nếu được, hít thở sâu và thư giãn;
•Làm xao lãng cảm giác muốn tiểu (chẳng hạn như tập trung chơi ô sắp
chữ, hoặc suy nghĩ về việc khác, hoặc đếm số thứ tự từ 1 đến 100...);
•Chủ động co thắt cơ đáy chậu (hoặc co thắt mạnh và nhanh 5 – 6 lần,
hoặc co thắt vừa phải và giữ 10 giây).
Ý nghĩa của việc co thắt cơ đáy chậu là ngăn chặn sự dãn nở cơ thắt
trong niệu đạo, tránh nước tiểu đi xuống đoạn đầu niệu đạo làm kích thích
cơ chóp bàng quang. Nếu bệnh nhân chưa biết co thắt cơ đáy chậu thì xem
cách tập cơ đáy chậu ở phần sau.
- Tập luyện bàng quang: Là áp dụng các biện pháp kìm nén đi tiểu nêu
trên kết hợp với theo dõi trên nhật ký đi tiểu, để từ từ kéo dài khoảng thời
gian giữa 2 lần đi tiểu. Có thể lúc đầu bệnh nhân phải đi tiểu mỗi 30 – 60
phút, sau đó tập kéo dài thêm mỗi 15 – 30 phút mỗi 1 -2 tuần, để dần dần đạt
mục tiêu giữ được 3 – 4 giờ. Theo y văn thì cần thực hiện các biện pháp tập
kìm nén và tập bàng quang ít nhất 6 tuần để thấy hiệu quả. Tập co thắt cơ sàn
15
chậu Tập cơ sàn chậu là một trong những biện pháp chính điều trị tiểu không
kiểm soát gắng sức do suy yếu sàn chậu. Trong BQTH, tập cơ đáy chậu có ý
nghĩa nhằm hỗ trợ việc kìm nén đi tiểu để điều trị tình trạng tiểu gấp hay tiểu
gấp không kiểm soát. Có 3 phương pháp tập luyện tăng dần theo mức độ, tùy
thuộc vào khả năng và thời gian của mỗi bệnh nhân cũng như trang bị và mức
độ được đào tạo của cơ sở y tế. Nhìn chung, khoảng thời gian cần thiết tập để
việc tập cơ đáy chậu đem lại hiệu quả tối thiểu là 3 tháng.
để lưu ý bệnh nhân không được gồng bụng mỗi khi tập co thắt cơ sàn chậu.
Kết hợp với tập cơ sàn chậu mà sức cơ sẽ hiện lên màn hình để bệnh theo
dõi và đánh giá được hiệu quả của tập luyện. Tần suất tập là từ mỗi ngày
một lần đến mỗi tuần một lần tùy theo tác giả, mỗi lần khoảng 20 phút kích
thích điện và khoảng 20 phút tập co thắt cơ đáy chậu. Những ngày không tập
bằng máy có thể kết hợp tập sàn chậu bằng 2 phương pháp nêu trên.
1.1.6.2. Bước điều trị thứ hai: Các biện pháp dùng thuốc
a) Các thuốc kháng muscarinics
Hiện nay thuốc nhóm kháng muscarinics là loại được ưu tiên chọn lựa
trong điều trị bàng quang tăng hoạt [18] [30]. Thụ thể muscarin bao gồm
năm phân nhóm, M1-M5, và được tìm thấy ở bàng quang. Các thụ thể M3
chịu trách nhiệm chính về sự co bóp đi tiểu bình thường của bàng quang
[30]. Thuốc kháng muscarinics hoạt động bằng cách ngăn chặn các thụ thể
muscarin trên cơ chóp do đó giảm khả năng co thắt của bàng quang [30].
Các thuốc kháng muscarinics có thể được chia thành hai nhóm chính:
- Không chọn lọc với tất cả thụ thể muscarin.
- Chọn lọc nhiều hơn cho thụ thể muscarin M2 và M3.
b) Một số loại thuốc khác
- Estrogen đặt âm đạo có thể làm cải thiện chủ quan các triệu chứng
của hội chứng bàng quang tăng hoạt [LE2, GRB (Oxford)].
17
- Một số thuốc khác có tác dụng kháng cholinergic cũng đã được
nghiên cứu điều trị bàng quang tăng hoạt. Thuốc chống trầm cảm nhóm ba
vòng như imipramine và amitryptyline đã được sử dụng bàng quang hoạt
động quá mức. Tuy nhiên tác dụng kháng cholinergic của nhóm này yếu.
- Botulinum toxin type A được sử dụng trong trường hợp điều trị bằng
các thuốc kháng cholinergic không còn tác dụng
loạn chức năng thần kinh vùng đáy chậu.
- Tình trạng dùng đồ uống có cồn, café: một số đồ uống có tính lợi tiểu
hoặc gây kích thích bàng quang. Cafein vừa có tính lợi tiểu vừa làm tăng sức
co bóp cơ bàng quang, vừa làm tăng kích thích bàng quang.
Hiện nay, các đặc tính hóa học và dược lý của caffein (1,3,7trimethylxanthine) đối với hệ thần kinh đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Tác
dụng tăng khả năng kích thích của tủy sống và giảm tái hấp thu các chất điện
giải trong ống thận của caffein có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tiểu
không kiểm soát. Sự kích thích quá mức cấu trúc lưới gây ra bởi một số
lượng lớn các phân tử caffein cũng là một trong những cơ chế của triệu
chứng BQTH. Một cơ chế có thể khác là caffein làm tăng hình thành và bài
tiết nước tiểu thứ sinh. Thể tích nước tiểu tăng lên làm tăng tải trọng lên thụ
thể muscarinic của bàng quang. Ở một giai đoạn nhất định, tình trạng thiếu
hụt hoặc giảm nhạy cảm trên thụ thể muscarinic ở người có tuổi làm bàng
quang mất khả năng phản ứng với lượng nước tiểu tăng thêm, dẫn đến xuất
hiện triệu chứng tiểu gấp, tiểu nhiều lần và đôi khi có són tiểu gấp.
- Tình trạng hút thuốc lá/thuốc lào: hút thuốc có liên quan mật thiết với
triệu chứng đường tiết niệu dưới ở nam giới và với tiểu gấp và són tiểu gấp ở
nữ giới. Sự liên quan trên càng gia tăng ở người hút thuốc lá kinh niên do bị
ho nhiều làm tăng áp lực bụng.
- Ở phụ nữ, tình trạng tiền mãn kinh và mãn kinh có làm tăng nguy cơ
mắc bệnh bàng quang tăng hoạt cả về tỉ lệ mắc lẫn mức độ nghiêm trọng của
bệnh .
19
1.3. Tình hình nghiên cứu về bệnh bàng quang tăng hoạt
1.3.1. Thực trạng bàng quang tăng hoạt trên thế giới
Tuổi càng cao tỷ lệ mắc bàng quang tăng hoạt càng nhiều ở cả hai giới,
tăng gấp 1,3 lần sau 40 tuổi và 2,1 lần sau 70 tuổi . Theo các chuyên gia
và Thụy Điển
Chẩn
nhiều lần 85%, tiểu
đoán gấp 54%, són tiểu gấp
BQTH dựa trên 36%; riêng són tiểu
bộ
câu
OABSS
hỏi gấp ở nữ chiếm tỷ lệ
của cao hơn nam, các
Blaivas.
triệu
chứng
khác
Nghiên cứu mô giống nhau ở hai giới.
2
Stewart WF
3
Vaughan
cộng
(2011)
và Nghiên
cứu Nghiên
cứu
sự được tiến hành phỏng vấn 6.000
ở Phần Lan
người có độ tuổi
từ 18-79 nhằm
khảo sát mức độ
ảnh hưởng của
BQTH đến chất
Tần suất bệnh tăng
theo tuổi từ 2-19% ở
nữ và 0,3-8,9% ở
nam.
Trong
đó
BQTH ướt chiếm
6,1% nữ 9,3% cao
hơn nam 2,6%, và
45% són tiểu thể hỗn
hợp; 10,4% BQTH
khô trong đó nữ
lượng sống. Khảo
sát 2 tiêu chỉ: tần
suất đi tiểu và
mức
độ
ảnh
hưởng, kết quả có
62,4%
người
đồng ý trả lời.
Lapitan M.C
và cộng sự
hay còn gọi là
nghiên
cứu
ASFU (2001)
4
5
Được tiến hành
nghiên cứu ở
11 nước châu
Á
Tiến hành nghiên
cứu mô tả cắt
ngang 5.502 phụ
Kết quả: tỷ lệ BQTH
53,1%, chủ yếu là
tiểu gấp 65,4%, tiểu
nhiều lần 55,4%, són
tiểu
gấp
chiếm
21,4%. Trong đó có
21,1% bệnh nhân
thấy bị ảnh hưởng
nhiều cần được điều
trị. Tấn suất bệnh
tăng theo tuổi và
người có tiền sử gia
đình rối loạn đi tiểu
làm tăng nguy cơ gấp
1,6 lần. Nghiên cứu
cho thấy tỷ lệ dân
thành thị bị cao hơn
1,2 lần dân nông thôn.
Kết quả cho thấy có
69% nam và 44% nữ
có BQTH khô có cơ
bàng quang co bóp
không tự chủ. Trong
đó 90% nam và 58%
22
cứu
19.165
người
tham gia từ 18
tuổi trở lên được
phỏng vấn qua
điện thoại để
khảo sát triệu
chứng đường tiết
niệu
dưới,
BQTH, rỉ tiểu
gấp
và
triệu
chứng tắc nghẽn
đường tiết niệu
dưới.
Tỷ lệ BQTH dự đoán
tăng 20,1% từ năm
2008 đến 2018, ước
số người mắc BQTH
trên toàn thế giới
năm đạt tới 546 triệu
người năm 2018.
Ước tính theo vùng
tăng cao nhất là khu
vực châu Á cụ thể:
Châu Phi tăng từ
BQTH.
bệnh
nhân
trên 50 tuổi có tỷ lệ
mắc bệnh cao hơn
23
người trẻ có ý nghĩa
thống
kê.
Những
người béo phì, thừa
cân hoặc có ≥ 3 con
có
nguy
cơ
mắc
cao hơn nữ 2,6%
(p
25
tuổi rộng trến 18 tuổi. trong khi đó, tỷ lệ bàng quang tăng hoạt không giống
nhau ở các độ tuổi mà có xu hướng tăng dần theo tuổi. Nhóm tuổi trung niên
và trường thành thường chiếm tỷ lệ cao hơn và thực tế nhu cầu phải điều trị ở
nhóm này thường lớn hơn. Trong khi đó, chưa có nghiên cứu nào được báo
cáo tại Việt Nam về tỷ lệ mắc bệnh bàng quang tăng hoạt ở nhóm tuổi này.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng mắc chứng bàng
quang tăng hoạt ở nhóm trung niên và người lớn tuổi nhằm có được kết quả
tin cậy để tham khảo cũng như làm cơ sở xây dựng kế hoạch chăm sóc điều trị
cho đối tượng bệnh nhân này.
1.3.3. Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, Hà Nam có 784.045
người, chiếm 4,0% dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân số 954
người/km², 90,4% dân số sống ở khu vực nông thôn và 9,6% sống ở khu
vực đô thị. Nhóm độ tuổi từ 40 tuổi trở lên có 294.774 người, chiếm 37,6%.
Huyện Duy Tiên có dân số vào khoảng 126.000 người, bao gồm 2 thị
trấn: Hòa
Mạc (huyện
lị), Đồng Văn và
16
xã: Bạch Thượng, Châu
Giang, Châu Sơn, Chuyên Ngoại, Đọi Sơn, Duy Hải, Duy Minh, Hoàng
Đông, Mộc Bắc, Mộc Nam, Tiên Ngoại, Tiên Nội, Tiền Phong, Trác Văn, Yên