1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọ đề tài:
Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở các nhà trường của hệ thống giáo dục
Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm từng năm học của từng cấp
học. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật vừa mang tính nhân văn sâu sắc vừa là
trách nhiệm của gia đình - nhà trường - xã hội, là thể hiện sự quan tâm của
Đảng, nhà nước đối với những trẻ em bị thiệt thòi, không may mắc phải những
khuyết tật mà mình không bao giờ mong muốn.
Việc giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật trong các nhà trường tuy đã được
các nhà trường quan tâm thực hiện, nhưng trên thực tế, giáo dục trẻ khuyết tật
nhằm giúp các em tiến bộ, nắm bắt được các kiến thức kĩ năng trong quá trình
học tập là việc hết sức khó khăn, vất vả đối với giáo viên trực tiếp dạy dỗ các
em. Sĩ số lớp đông, làm sao đảm bảo chất lượng chung của lớp, làm sao có đủ
thời gian trong từng tiết học để hỗ trợ riêng cho trẻ khuyết tật nắm được bài
học? Mặt khác trẻ khuyết tật thường có tâm lí mặc cảm, tự ti, thậm trí còn gây
rối trong quá trình tham gia tiết học hoặc không thích tham gia học tập, rèn
luyện cùng bạn trong lớp, làm cách nào để giúp trẻ khuyết tật tham gia học tập,
nắm được các kiến thức, kĩ năng mà thầy cô truyền thụ...là cả một vấn đề nan
giải đối với người giáo viên đứng lớp ?.
Tìm hiểu về trẻ khuyết tật, chúng ta thấy có rất nhiều dạng khuyết tật của
trẻ: khuyết tật về các cơ quan vận động, khuyết tật về ngôn ngữ, khiếm thính,
khiếm thi, đa tật...các dạng khuyết tật này khá dễ nhận biết khi tiếp xúc hay quan
sát trẻ trong cuộc sống. Nhưng có một dạng khuyết tật mà các nhà nghiên cứu
về khuyết tật trẻ em thường gọi đó là trẻ gặp khó khăn trong việc học, trong dân
gian thường có cách gọi : trẻ thiểu năng trí tuệ, trẻ bị bệnh thần kinh... Trẻ
khuyết tật gặp khó khăn trong việc học là trẻ thoạt nhìn, những em này không có
những biểu hiện gì khác biệt về ngoại hình, về một số hoạt động của trẻ trong
hoạt động, vui chơi, nhưng nếu đi sâu vào khám phá mới cả là một vấn đề cần
bàn luận.
Trong xã hội hiện nay, do đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Đặc biệt là một xã vùng cao của huyện miền núi Cẩm Thủy, Thanh Hóa vừa
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh khuyết tật học hòa nhập lớp 1A, 2B, 4A, 5A, 5B của trường tiểu
học Cẩm Giang, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Phân tích và tổng hợp các tài liệu lý luận và những văn bản có liên quan
đến vấn đề nghiên cứu.
+ Tham khảo tài liệu nghiên cứu cơ sở thực tiễn về giáo dục hòa nhập trẻ
khuyết tật.
+ Tìm hiểu thực trạng trẻ khuyết tật trong địa bàn, liên hệ phối hợp với
giáo viên chủ nghiệm, giáo viên bộ môn và phụ huynh, tìm hiểu tâm sinh lý, cá
tính của trẻ, sơ lược về các dạng khuyết tật.
-Nhóm phương pháp trải nghiệm:
+ Thực hành trải nghiệm, quan sát trong quá trình giảng dạy, trong các
hoạt động của học sinh trên lớp, trong nhà trường có trẻ khuyết tật học hòa nhập.
-Phương pháp đánh giá: Theo dõi, đánh giá sự tiến bộ của trẻ, phát huy
điểm tích cực, giúp đỡ, hạn chế những khiếm khuyết của trẻ trong tất cả các hoạt
động của các em ở nhà trường.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong xã hội loài người, người sinh ra không phải ai cũng gặp may mắn,
nhiều trẻ sinh ra đã mắc phải những tật bệnh quái ác, đó là những thiệt thòi mà
người khuyết tật phải gánh chịu suốt đời. Tổng số dân trong toàn xã là 4994 mà
số người khuyết tật là 148 người. Tỉ lệ người khuyết tật như điều tra tại xã Cẩm
Giang, huyện Cẩm Thủy lên đến 3,0% dân số. Trong đó có các dạng khuyết tật
sau:
- Khiếm thính , khiếm thị, khuyết tật về ngôn ngữ, cơ quan vận động, đa
tật và một dạng khuyết tật rất phổ biến đó là dạng khuyết tật về trí tuệ, một dạng
khuyết tật chiếm số lớn trong số trẻ khuyết tật. Đặc điểm của dạng khuyết tật
này là trẻ về ngoại hình ít có những khác biệt so với trẻ bình thường khác nhưng
chương trình riêng phù hợp với các dạng khuyết tật (KT) của trẻ. Nhưng do điều
kiện kinh tế xã hội, khó khăn của gia đình trẻ KT, đa số trẻ KT không thể đến
các trường chuyên biệt nên hầu hết các em được đưa vào học hòa nhập với trẻ
em bình thường khác trong các cơ sở giáo dục từ mầm non đến các cấp học cao
hơn.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1.Thực trạng trẻ khuyết tật ( KT) nói chung và trẻ gặp khó khăn trong
việc học(GKKTVH) nói riêng tại địa bàn toàn xã.
Xã Cẩm Giang là là xã vùng cao của huyện Cẩm Thủy có 4994 dân số
sống chủ yếu là sản xuất nông, lâm nghiệp đời sống dân cư còn gặp những khó
khăn nhất định, tỉ lệ hộ nghèo khoảng trên 4,62% , số trẻ suy dinh dưỡng trong
độ tuổi 0 - 5 tuổi chiếm đến trên 20% số trẻ. Trẻ độ tuổi tiểu học của nhà trường
278 học sinh em tham gia học tập tại nhà trường trong một năm học. Theo thống
kê các năm học, thực hiện nhiệm vụ giáo dục, BHG đã chỉ đạo các giáo viên phụ
trách phổ cập huy động đạt 100 % số trẻ 6 - 11 tuổi ra lớp , trong đó có số trẻ
khuyết tật trong độ tuổi cũng được huy động đạt 100% số cháu ra lớp hòa nhập.
Đây là sự cố gắng rất lớn của nhà trường trong những năm vừa qua.
Năm học 2016 - 2017, theo thống kê, số trẻ khuyết tật huy động ra lớp đạt
6/6 cháu, trong đó số trẻ khuyết tật gặp khó khăn trong việc học 3 em chiếm tới
3
50 % khuyết tật. Số trẻ gặp khó khăn trong việc học trong đó có cả trẻ mắc về
thần kinh, não bộ, trẻ câm, trẻ khuyết tật vận động (trẻ đa tật)...Như đã nói ở
trên, trẻ gặp khó khăn trong việc học có ngoại hình bình thường, có một số hoạt
động, vui chơi như đứa trẻ bình thường khác nhưng việc ghi nhớ các kiến thức
kĩ năng trong việc học chữ, làm toán, ghi nhớ các kiến thức đã học là rất khó
khăn. Có những em trong hoạt động vui chơi được đánh giá là khá năng động, là
chủ trò của nhiều trò chơi trên sân trường nhưng trong việc học thì có mấy chữ
cái thì học mãi vẫn không nhớ được mặt chữ, học trước quên sau. Cụ thể như là
hiểu kĩ về đặc điểm tâm sinh lí trẻ khuyết tật nói chung, trẻ gặp khó khăn trong
việc học nói riêng để giúp giáo viên trong nhà trường hiểu và tổ chức thực hiện
việc giáo dục trẻ khuyết tật.
Có được sự quan tâm của nhà nước, cộng đồng, các tổ chức xã hội, nhà
trường, đặc biệt là của cha mẹ trẻ KT luôn dành những tình cảm, sự ưu ái đối
với các em, hỗ trợ thầy cô cùng giúp đỡ, giáo dục trẻ KT trong nhà trường.
2.2.3. Những khó khăn
Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khuyết tật gặp khó khăn trong việc học nói
riêng thường có thái độ mặc cảm, tự ti, xa lánh, không thích tham gia hoạt động
chung với bạn bè, hay bị bạn bè và một số người thiếu ý thức trêu chọc nên dễ
nổi khùng, tủi thân. Bạn bè trong lớp cũng có thái độ phân biệt đối xử, ít chơi
với trẻ KT ...
Đối với trẻ khó khăn việc học (KKVH), do khuyết tật bộc lộ không rõ
ràng nên cha mẹ trẻ KT KKVH thường không muốn đưa con đến cơ sở y tế để
kiểm tra, xác nhận, sợ ảnh hưởng đến tương lai sau này của trẻ làm cho trẻ chịu
nhiều thiệt thòi trong chế độ chăm sóc đối với trẻ KT và cũng gây khó khăn cho
việc thực hiện việc giáo dục, rèn luyện của giáo viên.
Do học hòa nhập nên việc quản lí, dành thời gian để hỗ trợ cho trẻ KT,
khó khăn trong việc học rất hạn chế vì phải lo chất lượng chung của cả lớp nên
nhiều khi trẻ KT, KKTVH thiếu đi sự quan tâm, hỗ trợ của lớp, của giáo viên.
2.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ khuyết tật học hòa
nhập.
Trẻ khuyết tật dù có những khiếm khuyết nhất định nhưng cũng có những
nhu cầu và năng lực nhất định dù ở mức độ nào đó. Do đó tổ chức giáo dục cho
trẻ khuyết tật cần tính đến việc lựa chọn phương pháp, phương tiện và hình thức
tổ chức giáo dục phù hợp.
5
Trong nhiều năm học qua, giáo dục tiểu học Cẩm Giang, huyện Cẩm
tác động, giáo dục phù hợp là khởi đầu cho thành công trong giáo dục trẻ KT.
- Động viên, khuyến khích trẻ KT tham gia vào tất cả các hoạt động
(trong điều kiện không ảnh hưởng đến KT của trẻ) để trẻ KT quên đi những mặc
cảm, tự ti của mình.
2.3.3. Bạn bè và bạn học trong lớp đối với trẻ KT :
- Tạo mọi điều kiện để học sinh trong lớp kết bạn, gần gũi và sẵn sàng
giúp đỡ bạn mình bị KT. Có thái độ tôn trọng, thông cảm và động viên bạn KT
vượt qua khó khăn vì KT để vươn lên trong học tập rèn luyện. Sẵn sàng động
viên khen ngợi bạn KT khi bạn đó làm hoàn thành một việc được giao nào đó,
dù chỉ là hoàn thành ở mức độ nhỏ nhất. Không có những lời lẽ xúc phạm, khơi
gợi nỗi đau khuyết tật của bạn.
- Tổ chức các hoạt động (theo nhóm hoặc cặp đôi) đưa các trẻ KT tham
gia vào các hoạt động học tập, vui chơi cũng như rèn luyện những kĩ năng cần
thiết, tạo ra sự tiến bộ cho trẻ KT. Hoạt động nhóm là hết sức quan trọng trong
6
việc giúp đỡ học sinh khuyết tật học hòa nhập. Bởi hoạt động học hầu như diễn
ra ở nhóm. Mỗi nhóm thường 4 - 6 em. Nhóm trưởng là người nhận nhiệm vụ
từ giáo viên, điều hành hoạt động của nhóm và báo cáo kết quả học tập của
nhóm với giáo viên. Trong hoạt động nhóm học sinh có thể đổi bài, vở để kiểm
tra bài làm của bạn, nói cách nghĩ, cách làm của mình cho bạn nghe, tiếp thu ý
kiến của bạn, bảo vệ chính ý kiến, kết quả của mình. Qua đó học sinh trong
nhóm đã hỗ trợ lẫn nhau, đặc biệt là giúp đỡ học sinh khuyết tật nắm bắt kiến
thức cơ bản của bài học, hoàn thiện bài của mình một cách tốt nhất có thể.
Thông qua học nhóm đòi hỏi tự giác của mỗi cá nhân, tự quản của tập thể
nhóm. Tự học, tự chia sẻ cặp đôi, trao đổi là quy trình hoạt động nhóm, trong
khi chia nhóm giáo viên cần phải chia những em có học lực tốt ngồi cùng nhóm
với các em học sinh khuyết tật để giúp đỡ các em học sinh khuyết tật. tạo điều
kiện tốt nhất cho các em khuyết tật được nêu lên ý kiến của mình khi có thể.
phải dạy những nội dung ít quan trọng có trong chương trình giáo dục cho học
sinh bình thường khác.
- Tăng cường việc rèn luyện lặp đi lặp lại nhiều lần những kiến thức kĩ
năng mà học sinh KT khó khăn trong việc nắm bắt và ghi nhớ. Dùng những đồ
dùng và phương tiện giảng dạy hợp lí, hấp dẫn để tăng khả năng tái hiện, ghi
nhớ cho trẻ KT, nhất là trẻ KTKKVH.
- Thường xuyên nắm bắt khả năng ghi nhớ và thực hiện các kĩ năng của
trẻ KT, trên cơ sở đó để phát hiện ra những khả năng nhận thức của từng trẻ KT
để có các giải pháp tác động hợp lí giúp trẻ KT tiếp thu kiến thức kĩ năng một
cách hiệu quả.
- Hệ thống câu hỏi về kiến thức, kĩ năng trong bài học cần đơn giản, vừa
sức với trẻ KT, thông tin ngắn gọn, rõ ý và có những gợi ý để trẻ KT có thể hiểu
và trả lời được.
- Đối với trẻ KT, KKVH cần có sự định hướng, làm mẫu hoặc chia nhỏ
các thao tác trong thực hiện các kĩ năng như viết, tính toán, các bước thực hiện
trong khi làm một việc nào đó để các em hiểu, dễ làm theo.
- Giáo viên cần tranh thủ thời gian ngoài giờ học để động viên, tâm sự,
rèn luyện cho các em KT, KKVH những kiến thức kĩ năng cần thiết mà các em
còn chưa nắm vững. Chính sự gần gũi chia sẻ của giáo viên giúp các em KT có
thêm người bạn lớn, sẵn sàng chia sẻ tình cảm của mình, nêu ra được những khó
khăn và mong chờ sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè.
- Tuyệt đối không có sự trách phạt đối với trẻ khuyết tật, KKVH dù trẻ
KT không hoàn thành nhiệm vụ được giao mà phải tìm những điểm cố gắng,
làm được của trẻ KT, KKVH (dù rất nhỏ) để khen, động viên và kích thích các
em vươn lên để thực hiện tốt các việc mà các em chưa hoàn thành.
2.3.6. Tổ chức tốt các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- Do khuyết tật nên khi vui chơi, một số trẻ khuyết tật thường không tham
gia, chính vì vậy cần tổ chức các hoạt động vui chơi phù hợp, động viên trẻ KT
tham gia. Trong quá trình hoạt động tập thể sẽ làm cho các em KT quên đi
những mặc cảm của mình, tham gia thực hiện tốt các kĩ năng cần thiết để rèn
KT, KKVH.
- Thường xuyên có thông tin hai chiều giữa nhà trường, giáo viên chủ
nhiệm (GVCN) với gia đình trẻ KT để nắm bắt những thay đổi, sự tiến bộ hoặc
những vấn đề nảy sinh trong quá trình giáo dục trẻ KT để cùng có những giải
pháp thống nhất giúp đỡ, giáo dục trẻ KT.
2.3.8. Nhà trường, Hiệu trưởng với việc giáo dục trẻ KT.
-Ngay từ đầu năm học, ban giám hiệu nhà trường chọn giáo viên có kinh
nghiệm, tâm huyết, nhiệt tình trách nhiệm cao làm công tác chủ nhiệm có học
sinh
khuyết tật học hòa nhập.
- Triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo công tác giáo dục hòa nhập cho
trẻ khuyết tật của các cấp ngành đến toàn thể giáo viên.Tham gia tập huấn, tổ
chức chuyên đề các nội dung liên quan đến công tác giáo dục hòa nhập
cho trẻ khuyết tật ngay từ đầu năm học.
- Cần tổ chức điều tra, nắm bắt về số lượng trẻ KT, các dạng KT của trẻ
sinh sống trên địa bàn để xây dựng kế hoạch giáo dục khi đưa trẻ vào giáo dục
hòa nhập
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, giáo viên nhân viên nhà
trường trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục hòa nhập trẻ KT, coi đó là một
nhiệm vụ trọng tâm của năm học.
Đối với giáo viên chủ nhiệm phụ trách lớp có trẻ KT phải là người có
trách nhiệm cao, có tình thương và thái độ tốt, sẵn sàng giúp đỡ trẻ KT trong
mọi tình huống. Biết lập kế hoạch giáo dục trẻ KT và có những giải pháp hợp lí
để giúp trẻ KT tiến bộ từng ngày.
- Tổ chức tốt việc tập huấn nhận thức, phương pháp giáo dục trẻ
KT,KKVH, xây dựng kế hoạch, tổ chức đội ngũ, lực lượng tham gia giáo dục trẻ
KT và triển khai thực hiện việc giáo dục trẻ KT học hòa nhập.
- Ban giám hiệu nhà trường làm tốt công tác tham mưu, phối hợp chặt
chẽ giữa nhà trường - gia đình và xã hội Tư vấn cho giáo viên chủ nhiệm thấm
nhuần bản chất của việc làm tốt công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật sẽ
Hồ sơ giáo dục dành cho người khuyết tật bao gồm: sổ theo dõi chăm sóc
sức khỏe, kế hoạch học tập cá nhân, bài làm, bài tập kiểm tra, học bạ, giấy khai
sinh, giấy chứng nhận hoàn thành cấp học, Sổ theo dõi sự tiến bộ của trẻ, giấy
chứng nhận bệnh án của trẻ, phiếu thống kê, Kết quả tìm hiểu về trẻ khuyết tật.
Đặc biệt thông qua hồ sơ kết quả tìm hiểu về trẻ khuyết tật giáo viên có thể giúp
học sinh khuyết tật hòa nhập và tiến bộ một cách tốt nhất. Từ đó giáo viên có thể
đưa ra được nội dung tìm hiểu - Khả năng của trẻ - nhu cầu đáp ứng. Với nội
dung yêu cầu về thể chất cần theo dõi sự phát triển thể chất và giác quan, lao
động đơn giản. Khả năng ngôn ngữ cần theo dõi hình thức, vốn từ, phát âm, khả
năng nói, khả năng đọc, khả năng viết. Khả năng nhận thức là cảm giác, tri giác,
trí nhớ, tư duy chú ý, khả năng thực hiện nhiệm vụ. Khả năng hòa nhập điều đó
thể hiện ở quan hệ bạn bè, quan hệ tập thể, hành vi, tính cách. Bên cạnh đó môi
trường giáo dục cũng hết sức quan trọng đó là gia đình, nhà trường và cộng
đồng là yếu tố giúp trẻ khuyết tật tiến bộ hàng ngày.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Việc thực hiện giáo dục trẻ khyết tật trên địa bàn toàn xã Cẩm Giang
trong độ tuổi đến trường tiểu học nhà trường đã huy động được tối đa trẻ khuyết
tật ra lớp, tuy nhiên trong những năm qua trên địa bàn không có những trẻ
khuyết tật như khiếm thị, bại não, đa tật nặng không thể ra học được mới không
huy động ra lớp.
Nhà trường đã thực hiện tốt công tác quản lí, duy trì trẻ khuyết tật trong
năm học, tổ chức tốt các hoạt động giáo dục mang lại sự tiến bộ cho trẻ KT, đặc
biệt là trẻ KT KKVH. Nhà trường, giáo viên đã xây dựng kế hoạch, triển khai
thực hiện phương pháp giảng dạy, đánh giá phù hợp với đối tượng trẻ khuyết tật.
11
Qua các hoạt động, các giờ học, các biện pháp đã áp dụng một cách triệt
để và có hiệu quả các em ngày càng yêu trường, mến bạn hơn. Các em học sinh
những hiểu biết, kĩ năng nhất định để sống, làm việc, đóng góp những thành
công trong cuộc sống cho xã hội.
Thông qua bài viết này, tôi mong muốn các nhà giáo dục, các cấp quản lí,
các thầy cô giáo hãy hiểu hơn về trẻ KT, đồng cảm và có thái độ đúng, giúp đỡ,
hỗ trợ trẻ khuyết tật trong học tập, lao động giúp các em vững bước, tự tin trong
cuộc sống của mình. Chúng ta vẫn nhận thức sâu sắc rằng, công tác giáo dục hòa
nhập học sinh khuyết tật là một việc làm hết sức khó khăn, vất vả, ngoài việc
điều chỉnh, lựa chọn những kiến thức, phương pháp, hình thức dạy học, đánh giá
phù hợp với từng loại đối tượng trẻ khuyết tật, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị phù
hợp từng loại tật, còn cần có sự yêu thương, lòng kiên trì nhẫn nại, chăm chút
từng ngày, từng giờ, trân trọng từng sự tiến bộ, dù nhỏ, của các em. Nghĩa là, đòi
hỏi cần có một tấm lòng, cái tâm ở mỗi một cán bộ quản lý, giáo viên.
12
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Cẩm Thủy, ngày 15 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết
Hoàng Nam Chinh
Nguyễn Thị Cúc
MỤC LỤC
TT
1
1
2
2
2
2
2
3
5
11
12
NHỮNG TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI VIẾT
1. Trẻ khuyết tật
- Trẻ KT
14
2. Trẻ khuyết tật khó khăn việc học
- Trẻ KT, KKVH
NHỮNG TƯ LIỆU THAM KHẢO:
1. Quản lí giáo dục trẻ khuyết tật - Bộ GDĐT ( Viện KHGDVM)- 2009
2. Sổ tay giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật - BGDĐT
3. Các luật: Luật GD, Luật CS,BV & GD trẻ em ; Công ước quyền trẻ em.
4. Các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ, Sở về giáo
dục hòa nhập trẻ khuyết tật