1. PHN M U
1.1. Lớ do chn ti
Trớc yêu cầu đổi mới của sự nghiệp đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế và xu hớng toàn cầu hoá. Chúng ta cần phải
phát triển nhanh hơn, mạnh hơn, hiệu quả hơn trên lĩnh vực
Giáo dục và Đào tạo.
Với mục tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo đợc Chính phủ phê
duyệt về chủ trơng đổi mới chơng trình Giáo dục phổ
thông. Đổi mới về chơng trình và nội dung phơng pháp
nhằm nâng cao chất lợng Giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ,
phát huy t duy sáng tạo và năng lực tự học của học sinh. Đáp
ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc phù hợp với thực tiễn và truyền
thống Việt nam. Tiếp cận trình độ giáo dục ở các nớc phát
triển trong khu vực và trên thế giới.
o to con ngi mi mt cỏch ton din phự hp vi s phỏt trin
hin nay, vic giỏo dc con ngi mi cú y cỏc tiờu chun v trỡnh , kin
thc,... ỏp ng nhu cu phỏt trin ca thi i thỡ cựng vi nhng i mi v
ni dung dy hc l s i mi phng phỏp dy hc, coi trng, khuyn khớch
dy hc trờn c s hot ng hc tp tớch cc, ch ng sỏng to ca hc sinh.
Vi hot ng ch o ca hc sinh, ngi thy ch úng vai trũ t chc hng
dn, hc sinh t khỏm phỏ kin thc v gii quyt vn di s trao i, tho
lun, hp tỏc, thng nht ý kin hỡnh thnh kin thc. Vic i mi phng
phỏp dy hc khụng th núi trờn lý thuyt m mi ngi giỏo viờn cn vn dng
thc t trong mi tit dy hc toỏn. Giỏo viờn cn phi hiu i mi mi i
tng hc sinh l i mi cỏi gỡ? mi mch kin thc toỏn hc truyn th nh
th no hc sinh tip thu kin thc d, sõu, chc ú mi l i mi phng
phỏp dy hc.
Dy hc toỏn tiu hc nú cú mt v trớ vụ cựng quan trng vỡ cỏc kin
thc, k nng ca mụn toỏn tiu hc cú nhiu ng dng trong i sng, chỳng rt
Đề tài nghiên cứu, tổng kết về các biện pháp giúp học sinh lớp 5 giải các
bài toán có yếu tố hình học.
1.4. Phương pháp nghiên cứu :
Để viết sáng kiến này, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp thống kê kết quả.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Mục tiêu của quá trình dạy học toán ở Tiểu học cơ bản là cung cấp cho học
sinh những cơ sở ban đầu về số học các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng
cơ bản và một số yếu tố hình học đơn giản. Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực
hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống.
Bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, kích
thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học toán, phát triển hợp lý khả năng suy luận và
biết diễn đạt đúng các suy luận đơn giản. Giải các bài toán có nội dung hình học
được xem là một trong năm nội dung chính của môn Toán ở Tiểu học. Và cùng với
các nội dung khác góp phần rèn luyện trí tuệ cho học sinh. Đồng thời nó cung cấp
các biểu tượng ban đầu về các dạng hình, giúp học sinh làm quen với có khái niệm
hình học sơ đẳng, tập sử dụng các dụng cụ học tập, hình thành cho các em một số
kĩ năng thực hành hình học như: Nhận biết, phân tích ước lượng các đại lượng
hình học, học sinh được rèn luyện năng lực quan sát, so sánh, tổng hợp, dự đoán từ
2
đơn giản đến phức tạp, đến trừu tượng hoá. Tạo cho học sinh có khả năng hoạt
động, năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ nói và viết.
Các yếu tố hình học tuy không giữ vị trí là hạt nhân, cốt lõi nhưng có một vai
giảng giải, vì vậy học sinh tiếp cận kiến thức một cách trừu tượng không hiểu bản
chất của một số công thức hình học.
- Giáo viên thường sử dụng giáo án điện tử khi dạy các tiết hình học để ít phải dùng
đồ dùng dạy học nhiều, cồng kềnh, khó diễn đạt. Nhưng thực tế khi xây dựng các
công thức hình học trên giáo án điện tử bị lướt rất nhanh nên học sinh rất khó tưởng
tượng khi quan sát hình trên màn chiếu dẫn đến không hiểu bài.
- Khi dạy các tiết thực hành luyện tập, giáo viên hướng dẫn chưa tỉ mỉ, chưa biên
soạn được các bài tập trắc nghiệm để khắc sâu kiến thức cho học sinh nên học sinh
chưa áp dụng được vào thực tế.
3
- Hiện nay để thực hiện tốt thông tư 22, giáo viên chấm bài phải nhận xét, chữa lỗi
rất kĩ . Vì vậy, một tiết dạy giáo viên chỉ tranh thủ chấm 5 đến 6 bài mà không kiểm
tra được tất cả học sinh trong lớp.
b/ Về học sinh: - Kiến thức hình học rất trừu tượng, nhiều khi các em tiếp thu kiến
thức mang tính chất công nhận chứ chưa hiểu bản chất và con đường đi đến các công
thức toán học đó. Học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc lĩnh hội các kiến thức
hình học mang tính chất trừu tượng mới.
- Học sinh còn lúng túng khi thực hành một số thao tác cơ bản chẳng hạn như :
+ Biểu tượng về các hình nắm chưa vững cho nên còn nhầm lẫn giữa diện tích
xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật, nhầm lẫn giữa đặc
điểm của hình hộp chữ nhật và hình lập phương.
+ Học sinh chưa thực sự nắm chắc được khái niệm hình học, nhất là ở lớp 5 các
khái niệm đã phát biểu thành công thức.
+ Học sinh còn gặp nhiều khó khăn trong việc vẽ hình. Đặc biệt hạ đường cao
của hình tam giác chưa chuẩn xác.
+ Khả năng tưởng tượng khi vẽ hình còn hạn chế như vẽ hình hộp không vẽ nét
khuất hoặc thiếu.
Nguyên nhân là do:
- Một số bài làm của học sinh chưa biết tư duy để vẽ hình chính xác.
- Vận dụng công thức tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần của hình
hộp chữ nhật và hình lập phương còn nhầm lẫn.
- Bài làm của học sinh trình bày chưa khoa học, lời giải hình học chưa chặt chẽ.
2.2.3 CÁC BIỆN PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Để giải quyết những khó khăn trong qúa trình dạy học môn hình học,
người giáo viên phải có kiến thức tốt về hình học và lòng say mê nghề nghiệp,
biết sử dụng các phương pháp dạy học sao cho hợp lý nhất thì kết quả dạy học
mới được nâng cao. Vì vậy tôi đã nghiên cứu và áp dụng một số giải pháp, biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy Hình học cho học sinh lớp 5.
* Các biện pháp chủ yếu :
4
Biện pháp 1 : Giáo viên cần nghiên cứu nội dung chương trình, hệ thống hoá
và nắm chắc những kiến thức hình học học sinh cần nắm vững ở lớp 5.
Biện pháp 2 : Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm cho mỗi tiết dạy.
Biện pháp 3 : Khi dạy các dạng toán hình học cần áp dụng phương pháp dạy
đặc trưng cho mỗi dạng bài.
Biện pháp 4 : Ở mỗi tiết dạy giáo viên cần nghiên cứu để nêu ra các ‘’ tình huống
có vấn đề’’ để tự học sinh giải quyết nhằm khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Biện pháp 5 : Vận dụng linh hoạt một số phương pháp dạy học tích cực để
dạy các yếu tố hình học
* Các biện pháp tổ chức thực hiện.
Biện pháp 1. Hệ thống hoá và nắm chắc những kiến thức hình học học sinh
cần nắm vững ở lớp 5.
Giáo viên cần xác định đúng nhiệm vụ dạy học hình học để có định hướng
đổi mới phương pháp dạy học trong từng mạch kiến thức, từng bài dạy. Vì vậy
5
+ Nhận dạng và vẽ được hình tròn. Nắm được các yếu tố trong hình tròn.
+ Biết tính chu vi và diện tích hình tròn theo công thức tổng quát. Dựa vào công
thức tính diện tích hình tròn để tính bán kính, đường kính của hình tròn.
- Hình hộp chữ nhật; Hình lập phương: Biết nhận dạng các hình, nắm được quy
tắc, công thức tổng quát, cách tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần và
thể tích. Biết giải các bài tập có nội dung hình học.
- Đơn vị đo thể tích: Được giới thiệu trực tiếp. Chẳng hạn cm 3; dm3 là thể tích
của hình lập phương có cạnh dài 1cm; 1dm. Nêu mối quan hệ giữa hai đơn vị
thể tích kế tiếp nhau.
Các nội dung hình học ở các lớp 1,2,3,4 được dạy xen kẽ với các kiến thức số
học, yếu tố đại số, đo đại lượng và giải toán nhằm tạo ra mối liên hệ hữu cơ và
sự hỗ trợ chặt chẽ giữa các tuyến kiến thức với nhau và dạy rải rác trong chương
trình từ đầu năm học đến cuối năm. Song ở lớp 5 là lớp duy nhất các yếu tố
hình học được dạy tập trung trong một chương, số tiết dạy nhiều hơn, kiến thức
kĩ năng đòi hỏi cao hơn so với các lớp dưới.
Biện pháp 2 : Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm cho mỗi tiết dạy.
Trong mỗi tiết học toán, giáo viên cần có bài tập trắc nghiệm để kiểm tra kiến
thức, kĩ năng nắm bài của học sinh. Mỗi tiết học tối đa chỉ có 35 phút, giáo viên
không thể chấm hết bài cho học sinh toàn lớp, nếu kiểm tra miệng thì cũng chỉ
được một số em. Vì vậy, có được hệ thống bài tập trắc nghiệm sẽ giúp giáo viên
nắm bắt được toàn bộ học sinh cả lớp xem trong tiết dạy đó em nào tiếp thu tốt,
em nào còn chưa hiểu bài để từ đó giáo viên có phương án kèm cặp, bổ sung
kiến thức cho các em. Nhưng khi sử dụng bài tập trắc nghiệm giáo viên cần phải
linh hoạt, khéo léo đưa ra lúc nào cho phù hợp và hiệu quả. Đối với những bài
dạy kiến thức mới, giáo viên cần đưa bài tập trắc nghiệm vào giữa tiết dạy khi
vừa hình thành xong kiến thức mới, hoặc ở cuối tiết dạy. Còn đối với các tiết
luyện tập, giáo viên nên đưa bài tập trắc nghiệm sau hết một mạch kiến thức.
1. Tam giác có 3 góc nhọn.
2. Tam giác có 2 góc nhọn, 1 góc tù.
3. Tam giác vuông.
Bài 3 :
B
A
M
C
Trong tam giác ABC :
1. CM là đường cao, AM là cạnh đáy.
2. CM là đường cao, AB là cạnh đáy.
Ví dụ 2 : Dạy tiết Diện tích hình tam giác.
Bài tập trắc nghiệm : Chọn phương án đúng
Bài 1 : Tính diện tích tam giác ABC ?
A
4cm
5cm
B
H
C
6cm
A làm
B làm
2
S= 6x4 : 2= 12cm
S= 5x4 : 2 = 10cm2
2dm
4dm
3dm
Hình N
Hình M
Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống.
a) Diện tích xung quanh của hai hình hộp chữ nhật bằng nhau.
b) Diện tích toàn phần của hai hình hộp chữ nhật bằng nhau
c) Diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật M lớn hơn diện tích xung
quanh của hình hộp chữ nhật N.
Hầu hết các tiết toán về hình học đều có thể thiết kế được các bài tập trắc
nghiệm, vì vậy giáo viên cần nghiên cứu để có hệ thống bài tập trắc nghiệm phù
hợp giúp cho tiết dạy đạt hiệu quả cao.
Biện pháp 3 : Lựa chọn phương pháp đặc trưng cho mỗi dạng bài.
Để phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học, phù hợp với sự
phát triển tư duy và nhận thức của các em, trong quá trình dạy học các dạng toán
hình học cho học sinh lớp 5 tôi đã vận dụng một cách thường xuyên và linh hoạt
các phương pháp dạy học trong quá trình tổ chức các hoạt động học tập cho học
sinh lớp 5 như:
+ Phương pháp trực quan
+ Phương pháp phối kết hợp chặt chẽ giữa tư duy cụ thể với tư duy trừu
tượng
+ Phương pháp thực hành luyện tập
Cụ thể, trong mỗi dạng toán, trong quá trình tổ chức dạy các dạng toán hình học
cho học sinh lớp 5 tôi đã thực hiện như sau:
1. Dạy về hình học phẳng:
a) Các yếu tố hình học phẳng gồm:
+ Hình tam giác: Các loại tam giác, chiều cao, đáy, diện tích hình tam giác
h: đường cao của hình tam giác
Sau khi biết cách tính diện tích hình tam giác giáo viên hướng dẫn học sinh suy
ra cách tính chiều cao hay cạnh đáy
S=
axh
2
=>
h=
Sx2
a
Ví dụ 2 . Dạy về hình tròn, tâm, đường kính, bán kính:
- Học sinh đã được làm quen với hình tròn bằng cách quan sát các đồ vật, mẫu
vật .... có dạng hình tròn ở lớp 1. Lên lớp 5 học sinh được biết thêm về các yếu
tố của hình tròn. Khi dạy giáo viên có thể tiến hành như sau:
Giới thiệu hình tròn .
- Giáo viên gọi cho học sinh nêu các ví dụ về hình tròn (mặt trời...)
- Giáo viên giới thiệu compa, cách sử dụng.
Để vẽ được hình tròn ta phải dùng compa.
A
M
0
r
-Gợi ý: Cho học sinh nhận xét mối liên hệ giữa đường kính , bán kính, số pi (
π = 3,14 ).
-Vậy chu vi của hình tròn ta lấy đường kính nhân với số pi ( π = 3,14 ) và công
thức là :
C= d x 3,14
O
Cụ thể bằng trực quan (hình vẽ ) giáo viên thực hiện lăn hình tròn trên một
đường thẳng đã vẽ. Đánh dấu điểm A của đường tròn nằm trên đường thẳng
trước khi lăn điểm A đó sau khi lăn hình tròn được một vòng . Gợi ý cho học
sinh : chu vi hình tròn chính là độ dài đường tròn . Dùng thước mét đo đoạn
thẳng để học sinh thấy được chu vi hình tròn . Từ trực quan để học sinh nắm
được cách tính chu vi hình tròn.
C= d x 3,14 Hoặc: C= r x 2 x3,14
C: Chu vi hình tròn
d: Đường kính hình tròn
r: Bán kính hình tròn
10
2. Dạy về hình học không gian:
Ở lớp 5 ngoài nhiệm vụ bổ sung và phát triển những biểu tượng hình học
phẳng. Chương trình còn phát triển một số biểu tượng hình học không gian cho
học sinh. Các em được giới thiệu đầy đủ các yếu tố đặc điểm của hình hộp chữ
nhật, hình lập phương. Cách tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần và
thể tích của hình đó.
a) Giới thiệu hình hộp chữ nhật:
- Giáo viên cho học sinh quan sát hình hộp chữ nhật bằng mô hình
- Học sinh mỗi em một bao diêm → có dạng hình hộp chữ nhật
Gợi ý cho học sinh nêu :
+ 2 lớp hình lập phương
+ Mỗi lớp gồm 4 x 3 hình lập phương
Gợi ý cho học sinh tính : Thể tích này là
V= 4 x 3 x 2 = 24( cm3)
Giúp cho học sinh nêu: “ Muốn tính thể tích của hình hộp chữ nhật ta lấy chiều
dài nhân với chiều rộng, rồi nhân với chiều cao ( cùng đơn vị đo )
Công thức: V= a x b x c
V: Thể tích của hình hộp chữ nhật
a: Chiều dài hình hộp chữ nhật
b: Chiều rộng của hình hộp chữ nhật
c: Chiều cao của hình hộp chữ nật
Cũng tương tự như vậy, xây dựng công thức tính thể tích của hình lập phương.
V= a x a x a
Khi học sinh đã nắm được quy tắc và công thức tính. Giáo viên nên hình thành
cho học sinh các quy tắc tính ngược được.
Suy ra từ công thức
V
V
Ví dụ: Chiều cao =
;
axb=
axb
c
Khi dạy các yếu tố hình học ở lớp 5, giáo viên quan tâm đến việc tổ chức các
hoạt động thực hành. Tăng cường so sánh đối chiếu để hệ thống hoá các quy tắc,
công thức tính toán giúp học sinh nhớ lâu. Đồng thời cần chú ý đúng mức đến
việc nâng cao năng lực tư duy của học sinh lớp 5. Để giúp các em nhớ được
công thức (kể cả công thức ngược) thì giáo viên phải thường xuyên ôn tập, hệ
thống hoá để giúp các em nhận thấy có thể từ quy tắc này trong khi dạy giáo
nhật để tính, nắm được 1dm 3 = 1l.
Ví dụ 2: Một tam giác có đáy là 20cm, có diện tích bằng hình vuông có cạnh
10cm, tính đường cao của tam giác đó.
*Đối với bài toán này để đi tính chiều cao tam giác phải biết tính diện tích tam
giác mà diện tích tam giác bằng diện tích hình vuông. Để giải bài toán này học
sinh áp dụng quy tắc tính diện tích hình vuông sau đó áp dụng cách tính ngược
h=
S ×2
để làm bài.
a
Ví dụ 3: Một nhà máy đào một cái bể ngầm hình hộp chữ nhật dài 12m, rộng 6m
và sâu 3m. Đất đào lên cứ 1m 3 nặng 1,25 tấn. Nếu dùng xe tải loại 5 tấn để
chuyển số đất đó thì phải bao nhiêu chuyến mới hết?
Học sinh tìm thể tích của bể, tìm khối lượng đất, từ đó tính tải trọng của xe để
tìm ra số chuyến xe.
Như vậy từ các kiến thức đã học, học sinh đã biết vận dụng vào thực tế cuộc sống.
Với cách tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh ở từng dạng bài như trên
tôi đã giúp các em nắm chắc được kiến thức bài học, giúp các em tự tìm tòi, khám
phá và tiếp thu được nội dung kiến thức một cách chủ động, phát huy được tính tích
cực trọng học tập của học sinh, có thể nói cá thể hóa hoạt động học tập của học sinh
một cách triệt để.
Biện pháp 4 : Nghiên cứu để nêu ra các “ tình huống có vấn đề’’ để tự học sinh giải
quyết nhằm khắc sâu kiến thức cho các em trongmỗi tiết dạy.
Đối với học sinh tiểu học, nếu như các em được tiếp nhận kiến thức theo
trình tự nội dung sách giáo khoa đôi khi các em dễ quên đi các công thức toán
học mới được xây dựng. Vì trong quá trình hình thành kiến thức không có
những tình huống cần động não để giải quyết thì sẽ không nhớ lâu. Cho nên,
việc tạo ra những tình huống có vấn đề trong các tiết dạy hình học là rất cần
Nhìn chung, trong tiết dạy có tình huống vấn đề cần giải quyết thì giáo viên
cần vận dụng phù hợp với các đối tượng học sinh của lớp mình, làm thế nào để
đạt được hiệu quả cao nhất.
Ví dụ 1 : Khi dạy bài Diện tích hình tam giác. Sách giáo khoa viết qui tắc tính
diện tích tam giác như sau : Muốn tính diện tích hình tam giác ta lấy độ dài đáy
nhân với chiều cao(cùng đơn vị đo) rồi chia cho 2
Đối với tiết dạy này giáo viên có thể nêu ra 2 tình huống :
Một là : Cho tam giác ABC có đáy AB = 8cm, chiều cao AH = 4cm. Tính diện
tích tam giác ABC ?
Ở tình huống này giáo viên đã cho dữ kiện chiều cao không tương ứng với
đáy AB của tam giác ABC. Như vậy nếu học tiếp thu chậm sẽ áp dụng máy móc
công thức tính diện tích tam giác và vẫn tính được bằng 16cm2 .
Giáo viên cần yêu cầu học sinh vẽ hình theo dữ kiện đề bài ra và nhận xét.
Với học sinh có năng lực giáo viên chỉ cần hỏi : Em có băn khoăn gì khi áp dụng
công thức tính diện tích tam giác trong bài toán này không ?
Còn đối với học sinh tiếp thu chậm, giáo viện cần gợi mở hơn : Em hãy chú ý
chiều cao AH và đáy của AB của tam giác có tương ứng với nhau không ? ( tức là
đường cao có được hạ từ đỉnh đối diện xuống cạnh đáy AB không ?). Từ đó học sinh
sẽ phát hiện bài toán này với dữ kiện cho như vậy không thể tìm được diện tích tam
giác ABC. Giáo viên yêu cầu học sinh có năng lực sẽ giải quyết vấn đề bằng cách
sửa lại dữ kiện bài toán. ( có thể chiều cao CH = 4cm hoặc cạnh đáy BC = 8 cm).
Sau đó cho học sinh thực hiện tính diện tích tam giác. Giáo viên sẽ kiểm tra học sinh
14
tiếp thu chậm, còn học sinh khác sẽ tự kiểm tra bài của nhau. Qua cách giải quyết
vấn đề đó, học sinh chắc chắn sẽ nhớ kiến thức sâu và chắc hơn.
Hai là : Cho tam giác ABC có đáy AB = 8dm, chiều cao CH = 40cm. Tính diện
tích tam giác ABC ?
thế nào ? (Học sinh đưa ra 3 phương án, một là hình minh họa phải bỏ đi 6 con
cá, hai là thêm dữ kiện thể tích của cá không đáng kể, ba là cho thêm thể tích
của 6 con cá). Nhưng tôi đã đặt tiếp vấn đề : trong thực tế cuộc sống thì thể tích
15
6 con cá có thực và tính được nên không thể sửa theo phương án 2, mà chỉ sửa
dữ kiện bài toán theo phương án 1 và 3 của học sinh đưa ra.
Qua tình huống trên, giáo viên và học sinh đã giải quyết được một loạt vấn đề :
Khi đưa hình minh họa trong các bài toán hình học phải chính xác, học sinh biết được
khi ra một đề toán cần áp dụng thực tế của cuộc sống vì toán học gắn liền với cuộc
sống hàng ngày, bản thân học sinh tự phát hiện ra vấn đề cần giải quyết qua cách đặt
vấn đề của giáo viên, vì thế học sinh rất hứng thú trong giờ học toán đó và nắm kiến
thức rất chắc chắn. Một số học sinh có năng lực còn biết cách tính thể tích của một vật
bằng cách cho vật đó vào một bể chứa nước và tính thể tích nước dâng.
Trên đây chỉ là một vài ví dụ dựa vào ‘’hạt sạn’’ của sách giáo khoa để tạo ra tình
huống có vấn đề áp dụng dạy một số tiết hình học, hiệu quả của tiết học là kích thích
được sự say mê học toán ở học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Biện pháp 5 : Vận dụng linh hoạt một số phương pháp dạy học tích cực để
dạy các yếu tố hình học.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần phải biết lựa chọn các phương pháp
dạy học đặc trưng phù hợp với mỗi tiết dạy, ở bài nào thì chúng ta cần áp dụng
phương pháp gì, đó là cả một vấn đề cần đến sự đầu tư kĩ lưỡng của giáo viên.
Cần phải biết phối hợp, vận dụng hợp lý các phương pháp nhằm đạt được mục
đích, yêu cầu của từng tiết dạy. Đổi mới phương pháp dạy học không loại bỏ các
phương pháp dạy học truyền thống mà phải vận dụng các phương pháp đó để tổ
chức cho học sinh hoạt động học tập theo kiểu mới, tạo điều kiện cho từng học
sinh được tham gia giải quyết vấn đề, từ đó thu nhận kiến thức mới và luyện kĩ
năng mới. Mỗi phương pháp dạy học chỉ có tác dụng tốt khi nó được sử dụng
C(B)
M
16
- Bằng cách cắt ghép hình để hướng dẫn học sinh tìm ra quy tắc chung.
a) Lấy M là điểm chính giữa của BC. Nối AM, cắt theo đường AM được tam
giác ABM và tứ giác AMCD.
b) Ghép tam giác ABM vào vị trí KCM ta được tam giác ADK.
Vì diện tích hình thang ABCD bằng diện tích của tam giác ADK và bằng
(DK x AH): 2 = (DC + CK) x AH x
1
2
Vì CK = AB nên ta có công thức diện tích hình thang là: (AB + CD) x AH x
1
2
Như vậy, đối với học sinh tiểu học không cần phải chứng minh chặt chẽ bằng
suy diễn logic mà chỉ cần dựa vào quan sát trực quan để rút ra kết luận.
Một số tiết dạy hình học giáo viên sử dụng giáo án điện tử để thực hiện cắt
ghép hình rút ra công thức toán học. Thực tế các tiết học đó học sinh không hiểu
bản chất và con đường đi đến công thức mà chỉ công nhận, vì vậy dễ quên và
vận dụng máy móc. Theo kinh nghiệm của bản thân khi dạy các tiết về hình học
giáo viên nên triệt để sử dụng đồ dùng trực quan thì hiệu quả dạy học sẽ cao
hơn.
tổng thời gian học toán. Vì vậy phương pháp thực hành luyện tập được sử dụng
thường xuyên trong các tiết dạy toán.
- Giáo viên có thể sử dụng phương pháp này để dạy kiến thức mới, bằng cách
hướng dẫn học sinh sử dụng các đồ dùng học tập của từng học sinh để học bài
mới một cách tích cực. Tiếp đó, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thực hành,
luyện tập để vận dụng kiến thức mới học trong các trường hợp từ đơn giản đến
phức tạp, qua thực hành- luyện tập, học sinh càng hiểu và nắm vững kiến thức
mới.
Ví dụ: Khi dạy về tính diện tích hình tam giác. Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh
chuẩn bị 2 hình tam giác bằng nhau. Học sinh thực hành cắt đôi một hình tam
giác thành 2 tam giác theo đường cao sau ghép với hình tam giác còn lại để
được một hình chữ nhật.
Sau đó so sánh diện tích hình tam giác mới với diện tích hình chữ nhật ->
diện tích hình chữ nhật bằng 2 lần diện tích hình tam giác ban đầu.
Mà tính diện tích hình chữ nhật bằng chiều dài x chiều rộng nên diện tích
hình tam giác bằng chiều rộng nhân chiều dài chia 2, mà: chiều dài chữ nhật
bằng cạnh đáy hình tam giác, chiều rộng hình chữ nhật bằng chiều cao hình tam
giác vậy diện tích hình tam giác bằng đáy nhân chiều cao chia 2 (Cùng một đơn
vị đo).
Vậy bằng phương pháp thực hành cắt, ghép hình học sinh đã rút ra được kết
luận chung cho việc tính diện tích hình tam giác.
Trong các tiết luyện tập về hình học, học sinh được thực hành luyện tập giải
các loại bài tập dạng từ dễ đến khó, để củng cố kiến thức mới và rèn kỹ năng. Sử
dụng phương pháp này chủ yếu để học sinh tăng cường luyện tập. Vì vậy giáo
viên cần tạo điều kiện để học sinh được luyện tập nhiều và đặc biệt là cần tổ
chức, hướng dẫn học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hành-luyện
tập, tránh làm thay hoặc áp đặt cho học sinh.
Như vậy, khi giảng dạy các yếu tố hình học trong một tiết dạy giáo viên
phải biết kết hợp khéo léo các phương pháp trên, tạo không khí lớp học thoải
mái nhẹ nhàng. Đặc biệt mỗi giáo viên cần lựa chọn các phương pháp đảm bảo
TL
SL
TL
10 em
32 %
21 em
68%
Chưa hoàn thành
SL
TL
So sánh với kết quả trước khi áp dụng kinh nghiệm này,tôi nhận thấy:
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các em không còn thấy lúng túng khi thực
hành, tạo cho các em tâm lý tự tin vững vàng và hứng thú, say mê, yêu thích
môn học này.Vì vậy kết quả đạt được đã cao hơn hẳn.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I . Kết luận: Việc nghiên cứu về nội dung và phương pháp dạy các yếu tố hình
học ở lớp 5. tôi rút ra kết quả sau: Dạy học theo phương pháp tích cực hoá hoạt
động người học qua nội dung dạy học về các yếu tố hình học lớp 5, học sinh
ham thích học tập, chủ động tích cực nắm bắt và lĩnh hội kiến thức theo yêu cầu
của tiết học. Giáo viên cần tập trung vận dụng một số nội dung sau đây:
1. Tư duy của học sinh Tiểu học đang trong quá trình hình thành và phát
là từ trực quan đến tư duy trừu tượng). Vì vậy giáo viên cần chú ý đến việc sử
dụng các đồ dùng trực quan khi giảng dạy. Trẻ em thường tiếp thu hệ thống kiến
thức còn thiếu chặt chẽ, lô gíc. Nếu tư duy chưa đúng các em sẽ thừa nhận
nhưng không hiểu. Dựa vào đặc điểm đó để giáo viên có thể điều chỉnh phương
pháp dạy học để học sinh tiếp thu những kiến thức về hình học tốt hơn.
7. Giáo viên cần phải chấm chữa bài thường xuyên để nắm bắt được tình
hình tiếp thu bài của học sinh để điều chỉnh phương pháp dạy học kịp thời.
8. Cần phải vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, đặc biệt là dạy
học phát huy tính tích cực của học sinh, các em được chủ động trong việc tìm và
tiếp nhận kiến thức mới, các em sẽ nắm vấn đề chắc chắn hơn và hiểu sâu hơn
về nội dung kiến thức được tiếp nhận.
9. Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp để trau dồi kiến thức cho bản
thân.
II. KIẾN NGHỊ
1. Về phía nhà trường:
- Nhà trường thường xuyên bổ sung sách tham khảo về môn toán cho giáo
viên, học sinh.
- Tổ chức phong trào giải toán cho học sinh theo định kỳ, tham gia thi giải
toán qua thư của báo “Toán tuổi thơ”. Tổ chức câu lạc bộ “Giúp nhau học toán”
ở các lớp 4, 5”
2. Về phía giáo viên:
- Để nâng cao chất lượng học tập về hình học của học sinh hiệu quả thì GV
cần linh hoạt các hoạt động và hình thức tổ chức dạy học.
- GV nên để HS tự tìm kiếm, tự khai thác và đề xuất cách giải và chọn cách giải
hay và sáng tạo nhất. GV là người cuối cùng chốt cách giải hay nhất, ngắn gọn
nhất, dễ hiểu nhất.
Trên đây là một số kinh nghiệm giảng dạy: “ Một số kinh nghiệm dạy các
yếu tố hình học ở lớp 5” mà tôi đã rút ra trong quá trình giảng dạy. Hi vọng với
sáng kiến kinh nghiệm này sẽ giúp tôi và đồng nghiệp có thêm một số biện pháp
để nâng cao và phát huy khả năng toán học cho HS có năng khiếu hình học.
NHÀ XUẤT
BẢN
Phương pháp dạy học toán Đỗ Trung Hiệu - Kiều Đức NXB
Giáo
- Tập 2
Thành- Nguyễn Hùng dục năm 1998
Quang
2
Giáo trình tâm lí lứa tuổi Đặng Vũ Hoạt ( Chủ biên ) NXB Đại học
học sinh Tiểu học
- Phó Đức Hòa
Quốc gia Hà
Nội
3
Sách giáo khoa Toán 5
Đỗ Đình Hoan ( Chủ biên)
NXB
Giáo
dục năm 2000
4
Sách giáo viên toán 5
NXB
Giáo
dục năm 1999
23
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
1. Phần mở đầu
1
1.1 Lí do chọn đề tài :
1
1.2 Mục đích nghiên cứu
2
1.3 Đối tượng nghiên cứu
2
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2. Kiến nghị
20
24