I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc Tiểu học được coi là bậc học nền
móng. Móng chắc nền vững là cơ sở đảm bảo cho việc xây dựng ngôi nhà học
vấn .
Học sinh (HS) Tiểu học, giáo viên (GV) là lực lượng giáo dục (GD)
chính, giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động GD. Với trọng trách là người
quyết định chất lượng GD, là người đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách.
Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này thì đất nước phải có một đội ngũ những người
có trình độ văn hoá cao, chuyên môn nghiệp vụ tốt, tay nghề vững vàng. Trong
nhà trường nói chung, trường Tiểu học nói riêng, đội ngũ GV là một tập thể có
vai trò cực kì quan trọng, quyết định sự thành bại của mỗi một nhà trường. Nó
ảnh hưởng trực tiếp rất lớn tới việc thực hiện mục tiêu, chất lượng của công tác
GD. Có nhiều hình thức dạy học khác nhau: GD từ xa, GD bằng băng hình,…
cho dù đạt hiệu quả tới đâu thì hình thức GD qua hình ảnh trực tiếp của người
thầy vẫn là một phương pháp không thể thiếu được đối với HS bậc Tiểu học và
nó mang lại hiệu quả cao nhất. Sở dĩ như vậy là vì GD không đơn thuần là việc
truyền thụ tri thức mà còn là truyền thụ cách giao tiếp người - người, và mọi kĩ
năng sống để hình thành và hoàn thiện nhân cách. Do vậy, chất lượng của GV
ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của GD. Một nhà trường có tập thể GV đoàn
kết, nhất trí cao, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về tư tưởng, trong
sáng về phẩm chất thì chất lượng GD không thể thấp kém và ngược lại. Đây
chính là cái đích của công tác xây dựng đội ngũ GV trong trường học.
Thực tiễn GD nói chung và GD tiểu học nói riêng nhiều năm qua cho
thấy: năng lực sư phạm của GV tiểu học còn nhiều bất cập. Sự bất cập rất đa
dạng: cả về tri thức chuyên môn lẫn phương pháp và kĩ năng sư phạm; cả về khả
năng tổ chức, quản lí quá trình dạy học - GD lẫn năng lực giao tiếp ứng xử sư
phạm; Từ điểm xuất phát, đội ngũ GV tiểu học có nguồn đào tạo đa dạng, dẫn
đến sự không đồng đều về năng lực. Ngoài ra, hoàn cảnh sống và giao tiếp
thường xuyên trong một địa bàn bó hẹp cũng là những yếu tố ảnh hưởng không
nhỏ. Để giải quyết những bất cập ấy, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, việc tổ
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là trách nhiệm của toàn xã
hội, song ngành giáo dục bao giờ cũng giữ vai trò trọng yếu.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 2 khóa VIII về những giải
pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu GD-ĐT từ năm 2010 và tầm nhìn đến năm
2020 đã nêu: “ Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã
hội tôn vinh, giáo viên phải đủ đức, đủ tài.". “Xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo
động lực cho người dạy, người học, giáo viên là nhân tố quyết định, là lực lượng
cốt cán để biến mục tiêu giáo dục thành hiện thực, có vai trò quyết định về chất
lượng và hiệu quả giáo dục”. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: "Nghề dạy
học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý." và “ Nghề dạy học là nghề
sáng tạo bậc nhất vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Những năm
qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao. Đội ngũ này đã đáp ứng
quan trọng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp
phần vào thắng lợi của sự nghiệp CNH-HĐH của đất nước. Tình hình trên đòi
hỏi phải tăng cường xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một
2
cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính
chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển giáo dục từ
2010-2020.
Sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Các Nghị quyết Đại hội của
Đảng khẳng định: "Giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng
đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo thực hiện các mục tiêu
kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư cho GD là một
hướng chính của đầu tư phát triển". Trong định hướng phát triển GD&ĐT, Nghị
quyết lần thứ hai BCHTW Đảng khoá VIII tiếp tục khẳng định: "Muốn tiến hành
CNH, HĐH thắng lợi phải phát triển mạnh GD&ĐT, phát huy nguồn lực con
tưởng chính trị, phẩm chất nghề nghiệp; Bồi dưỡng về tri thức văn hoá, năng lực
chuyên môn nghiệp vụ; Bồi dưỡng về vật chất, sức khoẻ, tinh thần cho giáo
viên…
2. Cơ sở thực tiễn
Đánh giá thực trạng nhà trường :
2.1 Chất lượng đội ngũ:
Kết quả khảo sát chất lượng dạy học của giảo viên từ tháng 9/2016 đến
nay:
4
Thời gian
Tháng
9/2016
Tháng
12/2016
Tháng
4/2017
So sánh
Tổng
số
GV
Xếp loại Hồ sơ
Xếp loại giờ dạy
7
0
8
15
1
21
18
3
0
15
6
0
+
-
-
Trước thực trạng về CSVC khi về nhiện nhiệm vụ tại trường (tháng
9/2016 ) sau đó với sự tham mưu đắc lực với các cấp chính quyền và làm tốt
công tác XHHGD cơ sở vật chất được cải thiện dần từng bước. Tính đến thời
điểm hiện nay cơ sở vật chất đã được cải thiện, đã có bộ loa đài hiện đại phục vụ
cho các hoạt động giáo dục trong nhà trường, Mua sắm 44 bộ bàn ghế học sinh,
16 bộ bàn ghế giáo viên, 1 bộ loa đài, làm cột cờ, mua sắm 2 máy in, đóng 2 giá
để tài liệu. Tu sủa bồ hoa, cây cảnh, trang trí lớp học.
2. 4 Về công tác xã hội hoá giáo dục:
5
Mặc dù trường đóng trên địa bàn thị trấn là trung tâm phát triển kinh tế xã
hội của Huyện có nhiều điều kiện thuận lợi tạo điều kiện quan tâm đến việc học
tập của con em thì vẫn còn một bộ phận nhỏ học sinh có bố mẹ đi làm ăn xa,
chưa quan tâm đến việc học của con em.
Tóm lại: Với bao thực trạng khó khăn về cơ sở vật chất như đã nêu trên
nhưng thực tế chất lượng dạy và học của thầy và trò luôn được duy trì (cả về
chất lượng đại trà cũng như chất lượng mũi nhọn). Với mọi cố gắng vươn lên
của nhà trường đã được các cấp ghi nhận. Đến năm 2000 ,nhà trường vinh dự
được công nhận là trường chuẩn Quốc gia mức độ 1. Đặc biệt năm học 20162017 dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của người quản lý nhà trường
đã đạt Nhất toàn đoàn khi tham gia giao lưu câu lạc bộ trí tuệ tuổi thơ cấp huyện
với số em đạt giải 46/47 = 97.8 %. Kết quả ấy là cả một quá trình phấn đấu
không mệt mỏi của tập thể sư phạm nhà trường và sự chỉ đạo sát sao của các cấp
lãnh đạo, chính quyền, phụ huynh và nhân dân địa phương. Đặc biệt trong
những năm gần đây sự thành công của nhà trường về mọi mặt được các cấp ghi
nhận và đánh giá cao khá toàn diện trong đó phải kể đến sự đóng góp lớn lao của
tập thể đội ngũ cán bộ giáo viên nhà trường. Đội ngũ cán bộ giáo viên nhà
trường ngày càng lớn mạnh cả về lượng và chất trong đó có một phần đóng góp
bé nhỏ từ công tác quan tâm bồi dưỡng thông qua những biện pháp mà tôi đã
vận dụng trong năm học vừa qua:
lượng giáo dục toàn diện cho bậc tiểu học trong giai đoạn hiện nay mà đối tượng
được thụ hưởng trước hết là con em họ. Huyện Như Xuân là một huyện nghèo
nhưng con em trường tiểu học Thị Trấn khá hiếu học hầu hết nhân dân và cán bộ
đều nhận thức được muốn thoát nghèo thì cách tốt nhất là đầu tư cho giáo dục và
phải được phát triển từ phong trào xã hội hóa giáo dục.
3.1.3 Biện pháp 3: Bồi dưỡng các phương pháp dạy học cho GV trong
nhà trường.
Điều trước tiên Tôi xác định dù khó khăn đến mấy vẫn thi đua dạy tốt,
học tốt, với phương châm là đẩy mạnh chất lượng học sinh năng khiếu, quan
tâm chất lượng đại trà, và khắc phục không còn HS chưa hoàn thành. Chỉ tiêu đã
đưa ra bằng mọi giá phải quyết tâm thực hiện. Nhà trường xác định đây là yếu tố
tiên quyết để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Bồi dưỡng đội ngũ thông qua các biện pháp cụ thể:
- Nhà trường lập kế hoạch hoạt động triển khai luôn gắn kết với việc
thực hiện kế hoạch năm học, bằng các mục tiêu cụ thể, giải pháp khả thi, huy
động toàn bộ lực lượng của nhà trường cùng thực hiện trên cơ sở có sự phân
công rõ ràng. Vận dụng linh hoạt các biện pháp trong từng thời điểm, nội dung,
cách thức tổ chức đảm bảo thực sự hài hòa giữa các tổ chức.
- Cần thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tinh thần độc
lập trong suy nghĩ sáng tạo, nâng cao năng lực tự học của học sinh.
- Tôi đã chỉ đạo giáo viên thực hiện các biện pháp cụ thể sau trong quá
trình dạy học :
Biện pháp khai thác nội dung sách giáo khoa: Cần tập trung khai thác:
Mục tiêu bài học, hệ thống kiến thức, kỹ năng trọng tâm và những kiến thức có
liên quan, xem xét dụng ý trình bày mạch kiến thức của sách giáo khoa, mối
quan hệ lôgic của chúng, hệ thống bài tập, phân loại bài tập với các kĩ năng
tương ứng phù hợp với từng đối tượng học sinh, nội dung kiến thức thực tế liên
quan và đồ dùng thiết bị dạy học cần thiết. Dự kiến những sai lầm học sinh
thường gặp, cách xử lí những sai lầm đó.
Biện pháp lựa chọn phương pháp và kĩ thuật dạy học. Bản thân tôi với
để dạy cho cả lớp. Luôn tạo ra không khí thi đua trong lớp học làm cho HS thích
học. Thể hiện rõ vai trò của thầy giáo là người tổ chức, hướng dẫn và điều hành
đòi hỏi người giáo viên cần phối hợp và vận dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt các
phương pháp dạy. Vì chẳng có một phương pháp nào là vạn năng.
Bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại và ứng dụng.
Xác định thiết bị dạy học là một phương tiện vật chất vô cùng quan trọng, nó là
phương tiện giúp giáo viên tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ
động nhất, nhanh nhất và hấp dẫn nhất. Nếu trong tiết dạy chỉ dạy cho các em
bằng “ sách vở” mà không gắn với đời sống muôn màu, muôn vẻ xung quanh
các em, không gắn với thiết bị đồ dùng dạy học để mô phỏng, minh họa, tái tạo
cuộc sống muôn màu muôn vẻ ấy thì thật là nhàm chán. Thông qua hình ảnh
trực quan sẽ giúp các em lĩnh hội, chiếm lĩnh kiến thức chủ động, hấp dẫn và ghi
8
nhớ sâu sắc. Vì vậy trong quá trình dạy học tôi luôn quán triệt sát sao việc sử
dụng Đồ dùng dạy học có sẵn và tự làm có hiệu quả.
Việc hướng dẫn tiếp sức cho học sinh có thể sử dụng linh hoạt các hình
thức và mức độ khác nhau. Có thể do giáo viên đặt câu hỏi gợi ý tiếp sức thêm.
Có thể GV gợi ý hoặc sử dụng HS có năng khiếu, tiếp sức cho HS chưa hoàn
thành (nhưng không làm thay, không thả nổi, khoán trắng cho học sinh).
Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên góp phần to lớn
vào nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường thông qua các hoạt động như:
dự giờ, sinh hoạt tổ chuyên môn, hoạt động chuyên đề, phong trào đổi mới
phương pháp dạy học.
3.1.5 Biện pháp 5: Bồi dưỡng thông qua hoạt động dự giờ: Tôi coi
hoạt động này hết sức quan trọng vì: Thực tế đã chứng minh việc dự giờ thăm
lớp có tác dụng đôn đốc, thúc đẩy giáo viên chuẩn bị bài kĩ hơn, giảng dạy tốt
hơn, chú ý cải tiến phương pháp giảng dạy, tích cực sử dụng các đồ dùng trực
các tuần. Do học 2 buổi/ngày nên sinh hoạt như vậy BGH mới tham dự đầy đủ
được. Qua đó cũng nắm được khả năng chính xác của từng người, mức độ hạn
chế của từng giáo viên để kịp thời xây dựng, bồi dưỡng chứ không ngồi chờ các
bảng báo cáo hàng tháng từ các tổ trưởng chuyên môn. Trong sinh hoạt luôn tạo
bầu không khí thoải mái để tổ mạnh dạn đưa ra ý kiến trao đổi, rút kinh nghiệm.
phải có sự xây dựng góp ý tiết dạy của các tổ khối nhằm tập hợp được trí tuệ,
tâm sức, kinh nghiệm của nhiều người đạt hiệu quả.
Bản thân tôi xác định đây là một nội dung quan trọng trong công tác quản
lý, nó có vai trò rất lớn trong công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giáo viên
và chất lượng giáo dục. Hoạt động hiệu quả của mỗi giáo viên sẽ tạo ra điều
kiện tốt nhất để mỗi giáo viên tự học hỏi lẫn nhau về kiến thức, chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm, từ đó nâng cao năng lực chuyên môn của mình. Với vai trò
như vậy đòi hỏi tổ chuyên môn phải được tổ chức hợp lí và hoạt động có nề
nếp và khoa học.
Thực hiện sinh hoạt chuyên theo định kì tháng 2 lần. nội dung sinh hoạt
chuyên môn phải có đầy đủ các nội dung theo kế hoạch xây dựng và đi sâu vào
các nội dung chuyên môn đã được hướng dẫn và được cụ thể hóa đến toàn bộ
giáo viên trong tổ.
+ Thảo luận, thống nhất chương trình, giải quyết những vấn đề liên quan
đến chương trình giảng dạy.
+ Phân công cụ thể người giúp đỡ những giáo viên mới ra trường hoặc
những giáo viên còn hạn chế về từng mặt.
+ Tổ chức các chuyên đề trong tổ.
+ Chỉ đạo thực hiện đổi mới phương pháp.
+ Dự giờ thăm lớp,…
- Phân cấp, phân quyền một cách hợp lí đối với tổ trưởng chuyên môn.
Động viên, khuyến khích kịp thời các giáo viên kiêm nhiệm tổ trưởng có tinh
thần, trách nhiệm cao trong công việc.
3.1.7 Biện pháp 7: Bồi dưỡng chuyên môn qua hoạt động chuyên đề.
Hoạt động chuyên đề không những là hoạt động mũi nhọn mà còn là hoạt động
tập trung vào những học sinh khá giỏi của nhóm đó, chưa phát huy hết tính tích
cực của tất cả học sinh khi tham gia hoạt động để giải quyết một bài tập, một
yêu cầu. Để hoạt động nhóm diễn ra thật hiệu quả thì giáo viên phải yêu cầu tất
cả Hs trong nhóm phải hoạt động bằng cách: được nói, viết, đọc…vừa tạo cơ hội
để học sinh, rèn tính tự tin, tinh thần cộng tác tích cực trong học tập và trong
công việc. Để hoạt động nhóm thêm hiệu quả, khi phân nhóm GV nên tránh
phân nhóm cố định mà cần thay đổi số lượng học sinh cho phù hợp để tăng hiệu
quả hoạt động. Đối với chương trình VNEN việc học nhóm là phương pháp đặc
trưng của chương trình do vậy nhóm trưởng của mỗi nhóm được ví như là “Linh
hồn” của mỗi nhóm, nhóm trưởng thay vai trò như thầy cô giáo điều hành hoạt
động học tập, kiểm tra đánh giá kết quả của nhóm mình.
3.1.8 Biện pháp 8: Bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp, công tác kiểm
tra đánh giá:
Bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp: Bồi dưỡng về việc lập kế hoạch chủ
nhiệm lớp. Đặc điểm tình hình của lớp, nội dung hoạt động và các chỉ tiêu phấn
đấu, các biện pháp thực hiện, lập kế hoạch hàng tháng, hàng tuần. Việc xây dựng
tập thể học sinh tự quản, tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, về
việc liên kết giữa giáo viên chủ nhiệm với các lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường, về đánh giá kết quả giáo dục HS.
Bồi dưỡng công tác kiểm tra đánh giá: Xác định các tiêu chí đánh giá
việc thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, phân công kiểm tra chéo các
nội dung tự học, tự bồi dưỡng, kiểm tra rà soát việc thực hiện kế hoạch để có điều
11
chỉnh cần thiết. Có sơ kết, tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm. Một trong
những khâu bồi dưỡng GV phải coi trọng công tác kiểm tra và không thể thiếu
được trong chu trình quản lí, nếu giao việc mà không quan tâm đến kiểm tra
đánh giá xem như không nắm được kết quả như thế nào để bồi dưỡng uốn nắn
tiếp theo.
3.2 Các giải pháp tổng hợp toàn diện: Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đa
dạng hóa các hình thức, nội dung bồi dưỡng:
Để một nhà trường có đội ngũ giáo viên đủ mạnh như ngày hôm nay: Bản
thân là một hiệu trưởng với thời gian hơn mười năm qua đặc biệt là nhiều thành
12
tựu trong những năm gần đây tôi luôn nhận thức được rằng: Người cán bộ quản
lý cần phải toàn tâm, toàn lực cho hoạt động giáo dục của nhà trường, nói đi đôi
với làm, làm việc thực sự mang lại hiệu quả cao. Hiệu trưởng là người trụ cột là
con chim đầu đàn của đơn vị, là gương sáng cho đội ngũ noi theo. Kết quả hoạt
động giáo dục là sự sống còn là uy tín của nhà trường. Uy tín của hiệu trưởng là
điểm nhấn cho giáo viên, học sinh, phụ huynh và địa phương ghi nhận.
Làm tốt được điều đó ắt phải có đội ngũ mạnh, muốn có đội ngũ mạnh
người hiệu trưởng phải quan tâm bồi dưỡng đồng nghiệp của mình một cách
toàn diện: như trên đã trình bày những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác dạyhọc, bản thân tôi đã quan tâm chú trọng đến các lĩnh vực như: Việc sắp xếp,
phân công bố trí nhân sự cán bộ GV-NV, công tác đào tạo bồi dưỡng đi học nâng
cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ các lớp ngắn hạn, dài hạn. Tham gia các
phong trào thi đua viết báo, viết bài thi do các tổ chức chính trị xã hội trong
ngành và cấp trên phát động về Đảng, Bác Hồ, gương người tốt việc tốt. Việc tự
học bồi dưỡng thường xuyên, viết SKKN. Công tác thi đua khen thưởng được
động viên, khen chê kịp thời. Bồi dưỡng về tâm hồn, quan tâm đến đời sống vật
chất tinh thần, hạnh phúc mỗi gia đình CBGV trong đơn vị. Xây dựng truyền
thống tôn sư trọng đạo, tôn vinh những thầy cô học trò có nhiều đóng góp cho
tập thể nhà trường. Đầu tư xây dựng CSVC phục vụ cho giảng dạy và cảnh quan
nhà trường. Làm tốt công tác xã hội hoá GD, bên cạnh đó cần chú trọng đến
việc: Lập quy hoạch cơ cấu về nhân sự trong đội ngũ, xác định nhu cầu số
lượng, chất lượng, về cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên nhằm đáp ứng mục
tiêu nhiệm vụ của nhà trường. Sắp xếp bố trí giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ
môn hợp lý sẽ phát huy tối đa tiềm năng của nguồn nhân lực, phù hợp với trình
4. Hiệu quả về công tác xây dựng chất lượng đội ngũ:
Chấp hành sự phân công, điều động của cấp trên tôi về nhận công tác tại trường
từ tháng 9/2016 đến nay. Bằng sự nhiệt huyết, quyết tâm, năng động, sáng trong
công tác quản lý, từ thực tế hoạt động của bản than nhằm nâng cao chất lượng
dạy học trong nhà trường . Thể hiện cụ thể qua chất lượng đánh giá học sinh:
Kết quả chất lượng giáo dục.
*Cấp trường :
Năm học
Tổng
số
Kết quả học tập
HT
Chưa HT
Năng lực
Đạt
Chưa đạt
Phẩm chất
Đạt
Chưa
HS
SL
%
2015-2016
Năm học 480
477
99%
1%
99%
1%
100%
Năm học
2016-2017
So sánh
+
3
+
-
477
3
VCĐ
* Các giải đạt cao:
100
Nhất toàn đoàn tham gia giao lưu câu lạc bộ trí tuệ
tuổi thơ lớp 3,4,5 cấp huyện .(46/47 em đạt giải đạt tỉ lệ
14
97%)
Môn Toán
13
15
4
8
Giải Nhất
Giải Nhì
Giải Ba
Giả KK
Môn Tiếng Việt
7
16
12
11
*Xây dựng đội ngũ nhà giáo
(Trường)
6( 18)
23 = 92%
18
Tỉnh
+
So sánh
* Công tác nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm
Năm học
2014-2015
2015- 2016
2016-2017
So sánh
Tỉ lệ CBGV
viết SKKN
50%
60%
62%
+
Số SKKN được công nhận
Cấp
huy mọi thế mạnh, khơi dậy mọi tiềm năng. Nhà trường đã tập trung đổi mới
15
toàn diện phương pháp, hình thức dạy học. Thực hiện tốt kế hoạch chiến lược
phát triển nhà trường giai đoạn 2015-2020. Phần thưởng vô giá của Nhà trường
chính là kết quả giáo dục toàn diện của HS và với phương châm: “Chất lượng
giáo dục của học sinh là danh dự của nhà trường”
Những thành tích to lớn trên là động lực để thầy và trò nhà trường quyết
tâm phấn đấu trở thành trường trung tâm chất lượng vững mạnh toàn diện về
mọi mặt, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu đổi mới GD hiện nay. Xứng đáng với
niềm tin yêu của các bậc phụ huynh, các cấp ban ngành đoàn thể và nhân dân
địa phương.
Với những cố gắng ấy, trường TH Thị trấn Yên Cát có thể tự hào về truyền
thống vẻ vang, bản lĩnh vững vàng, kiên định, ý chí trước mọi khó khăn trở ngại
vươn lên thực hiện thắng lợi nhiệm vụ “Trồng người” cao cả mà Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân Thị Trấn Yên Cát đã giao phó. Có thể nói tôi cũng có thể coi
đây là thành công nhất định trong việc xây dựng chất lượng đội ngũ CBGV của nhà
trường.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Công tác bồi dưỡng đội ngũ CBGV là một việc làm hết sức quan trọng
cần thiết, là yếu tố tiên quyết, quyết định sự phát triển của nhà trường, vì vậy để
công tác bồi dưỡng đạt kết quả cần xác định nhiều yếu tố, trong đó bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ, năng lực sư phạm cho mọi GV được đặt lên hàng đầu,
coi trọng công tác giáo dục tư tưởng chính trị, xây dựng tập thể đoàn kết, nắm
chắc chất lượng đội ngũ để có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu phát
triển, tổ chức điều hành, sắp xếp công việc nội bộ một cách khoa học, sáng tạo,
coi trọng công tác kiểm tra, đánh giá. Xây dựng kế hoạch phải có tính khả thi
cao, đảm bảo các nguyên tắc, linh động, sáng tạo trong công việc, thực hiện tốt
Đối với ngành Giáo dục và Đào tạo: Tăng cường phổ biến kinh nghiệm
hay trong chuyên môn ngày một nhiều, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu để chúng
tôi được tham gia học hỏi bồi dưỡng thêm kinh nghiệm để nâng cao năng lực
quản lý góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục của nhà trường.
Đối với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương :Hỗ trợ về cơ sở vật chất
trang thiết bị phục vụ tốt nhất cho công tác giảng dạy của nhà trường.
Đối với Sở Giáo dục:
Tổ chức các hội thảo về nâng cao chất lượng quản lý, nhân rộng các điển
hình về quản lý trong tỉnh để các cán bộ quản lý trong toàn tỉnh được tham gia
học tập, trao đổi kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục của
nhà trường.
XÁC NHẬN
Như Xuân, ngày 15 tháng 3 năm 2017
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện
Lê Bá Nhuận
DANH MỤC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC
stt
Năm học
Xếp loại
Cấp đánh giá
B
Cấp Huyện
C
Cấp Huyện
2009-2010
B
Cấp Huyện
2010-2011
A
Cấp Huyện
C
Sở GD & ĐT
B
Sở GD & ĐT
A
QĐ số 48/ QĐ TĐKT ngày 12/8/2005 của
PGD ĐT Như Xuân.
QĐ số 1622/ QĐ TĐKT ngày 20/8/2008
của PGD ĐT Như Xuân.
QĐ số 1662 / QĐ TĐKT ngày 20/8/2009
của PGD ĐT Như Xuân.
QĐ số / QĐ TĐKT ngày 18/8/2009 của
PGD ĐT Như Xuân.
QĐ số 1057 / QĐ TĐKT ngày 16/7/2010
của PGD ĐT Như Xuân.
QĐ số 1294 / QĐ TĐKT ngày 27/7/2011
của PGD ĐT Như Xuân.
QĐ số 539 / QĐ SGD &ĐT ngày
18/10/2011 của Sở GD&ĐT Thanh Hóa
QĐ số 988 / QĐ SGD &ĐT ngày
03/11/2015 của Sở GD&ĐT Thanh Hóa
QĐ số 1498 / QĐ SGD &ĐT ngày
04/7/2016 của PGD ĐT Như Xuân .
QĐ số 972 / QĐ SGD &ĐT ngày
24/11/2016 của Sở GD&ĐT Thanh Hóa.
QĐ số 3134 / QĐ HĐKHSK ngày
18/8/2016 của UBND Tỉnh Thanh Hóa.
18