Một số biện pháp chỉ đạo tích hợp bảo vệ môi trường trong môn tiếng việt tại trường tiểu học xuân lâm - Pdf 43

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn vấn đề nghiên cứu:
Hiện nay, môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường đã và đang là một
vấn đề được cả thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đặc biệt quan tâm. Tình
trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, huỷ hoại giống loài, ảnh hưởng
xấu đến sức khoẻ con người đang trở thành hiểm họa đối với đời sống của sinh
giới và cả con người ở bất kỳ phạm vi nào. Theo các nguồn thông tin của Tổng
cục Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Ước tính tổng thiệt hại kinh tế
của nước ta do ô nhiễm môi trường gây ra trong thời gian qua chiếm từ 1,5-3%
GDP. Hầu hết môi trường từ đất, nước, không khí, các khu dân cư, khu công
nghiệp từ thành thị đến nông thôn đã và đang bị xuống cấp, trở thành vấn đề bức
xúc của toàn xã hội”. Năm 1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do
UNEP và UNESCO đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo
dục môi trường: “Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về
những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng
liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt
được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn
thế giới. Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động
cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ. Do đó,
giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu
biết về môi trường”. Mục đích cuối cùng của giáo dục môi trường là tạo ra các
công dân có nhận thức, có trách nhiệm với môi trường, biết sống vì môi trường.
Tiểu học là bậc học cơ bản, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc
đào tạo trẻ em trở thành công dân tốt cho đất nước. Mục đích quan trọng của
giáo dục bảo vệ môi trường không chỉ làm cho các em hiểu rõ tầm quan trọng
của bảo vệ môi trường mà là phải hình thành thói quen, hành vi ứng xử văn
minh, thân thiện với môi trường. Nếu ở cấp học này các em chưa hình thành
được tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thế giới
xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các cấp sau khó có thể bù
đắp được. Vì vậy, nội dung và cách thức bảo vệ môi trường trong trường Tiểu
học mang tính quyết định đối với việc hình thành những phẩm chất đó. Hơn nữa,

hiệu quả giáo dục.
Phát huy vai trò Giáo viên trong khi sử dụng các phương pháp dạy học,
luôn có ý thức tích hợp bảo vệ môi trường nhất là môn Tiếng Việt.
Giúp học sinh hiểu được vai trò vô cùng cần thiết của môi trường. Có thái
độ, kĩ năng, thói quen giữ gin và bảo vệ môi trường bằng những việc làm cụ thể
hàng ngày.
Nâng cao nhận thức của cán bộ, giáo viên về sự cần thiết của môi trường
học tập. Tranh thủ sự hỗ trợ của địa phương, cha mẹ học sinh trong việc xây
dựng môi trường giáo dục cho nhà trường.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Biện pháp chỉ đạo tích hợp bảo vệ môi trường trong môn Tiếng Việt.
- Giáo viên, học sinh trường TH Xuân Lâm.
- Ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể khác trong và ngoài nhà
trường.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát: Dùng phương pháp này để quan sát các hoạt động, việc
làm của giáo viên- học sinh.
- Phương pháp phân tích: Phân tích tài liệu để nghiên cứu, các biểu, bảng báo
cáo xếp loại nề nếp, vệ sinh các lớp.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn giáo viên, học sinh trong trường.
- Phương pháp đàm thoại: Nói chuyện với cán bộ giáo viên, với cha mẹ học
sinh, với các em học sinh.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
* Môi trường là gì?
* Có nhiều quan niệm về môi trường:
Môi trường là một tập hợp các yếu tố xung quanh hay là các điều kiện bên
ngoài có tác động qua lại (trực tiếp, gián tiếp) tới sự tồn tại và phát triển của sinh
2


cho học sinh chưa thực sự được coi trọng, chưa lồng ghép bảo vệ môi trường
vào quá trình giảng dạy. Nhiều cán bộ quản lý còn chưa thể hiện sự quan tâm
đúng mức đến tầm quan trọng của môi trường hoặc còn xem nhẹ vấn đề bảo vệ
môi trường. Nhiều nhà trường xây dựng trường học xanh sạch, đẹp an toàn
không có quy hoạch cũng đã tác động đến các hoạt động giáo dục của nhà
trường. Một số trường học không chú trọng đến việc giáo dục ý thức tham gia
giữ gìn, xây dựng cảnh quan nhà trường như thuê người làm vệ sinh lớp học,
sân trường mà không yêu cầu các học sinh phải chung sức vệ sinh góp phân xây
dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp dẫn đến dẫn đến thái độ thờ ơ với xã hội, cộng
đồng. Bên cạnh đó, Cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống, hệ thống xử lý nước, rác
thải của địa phương chưa được đầu tư đúng mức. Công tác bảo vệ môi trường là
vấn đề chưa được người dân quan tâm, chăn nuôi trâu bò thả rông, chăn dắt vào
trong khu vực gần sân trường làm hư hại các bồn cỏ, gây mất vệ sinh…Tất cả
những thực trạng trên đều tác động xấu và làm ô nhiễm môi trường.
3


2.2.2. Thực trạng ở trường Tiểu học Xuân Lâm:
Trường TH Xuân Lâm với tổng số: 479 học sinh. Số lớp học là:16 lớp;
diện tích đất khoảng 5400m2 Số phòng học là: 16 phòng. Những năm trước đây
bàn ghế hư hỏng nhiều, mùa nắng bụi, mùa mưa đọng nước, quang cảnh chưa
đẹp. Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh đã có ý thức trong việc xây dựng
trường học xanh, sạch, đẹp. Song, một số em ăn quà xong vẫn bỏ bọc ni lông,
giấy gói xuống sân trường thay vì bỏ vào thùng rác, một số em còn vẽ bậy, ăn
kẹo cao su nhả bã kẹo bừa bãi, một số học sinh còn tùy tiện khi đi vệ sinh, còn
vất giấy cứng lỗ đi tiêu gây tắc nghẽn bồn cầu .... Việc giáo dục các em thực
hiện bảo vệ môi trường thông qua các bài giảng có tích hợp giáo dục môi trường
chưa thường xuyên, chưa lưu ý đến giáo dục hành vi thực tế ngoài cuộc sống
cho các em mà chủ yếu là truyền đạt lý thuyết trên lớp học. Chưa thực hiện tốt
phương châm “Học đi đôi với hành”. Trong dạy học giáo viên bám chặt vào các

1
96
35
36.5
45
46.9
16
16.6
2-3
205
115
56.1
62
30.2
28
13.7
4-5
178
113
63.5
54
30.3
11
6.2
Cộng
479
263
54.9
161
33.6

dạy chương trình thử nghiệm VNEN. Tất cả các loại tài liệu hướng dẫn học đã
khác về cấu trúc so với chương trình hiện hành. Vì vậy, mọi địa chỉ tích hợp về
bảo vệ môi trường ở tất cả các môn học từ lớp 2- lớp 5 ( Trừ lớp 1) không theo
tài liệu Giáo dục bảo vệ môi trường năm 2008 của Bộ Giáo dục nữa. Vì vậy, tôi
đã tham mưu cùng nhà trường chỉ đạo những giáo viên có năng lực, đam mê, am
hiểu và nhiệt tình cùng chuyên môn sử dụng tài liệu của chương trình SGK 2000
điều chỉnh, liệt kê theo những bài học trong phân môn Tiếng Việt có nội dung
tích hợp về bảo vệ môi trường của chương trình VNEN cho thật phù hợp. Hai
năm gần đây nhà trường đều có 16 lớp nên sinh hoạt chuyên môn được chia
thành 2 tổ ( tổ 1, 2,3 và tổ 4,5), mỗi tổ phải xây dựng kế hoạch riêng phù hợp
với tổ của mình. Mỗi cá nhân có kế hoạch cá nhân phù hợp với lớp.
Sau một thời gian, chúng tôi đã thống nhất các nội dung tích hợp. giao
cho tổ chuyên môn cùng giáo viên các lớp thực hiện. Đưa nội dung tích hợp bảo
vệ môi trường trong nhật ký giảng dạy của các môn học nói chung và phân môn
Tiếng Việt nói riêng. Triển khai nội dung này trong sinh hoạt chuyên môn đầu
năm học.
Ví dụ: GỢI Ý NỘI DUNG, ĐỊA CHỈ VÀ MỨC ĐỘ TÍCH HỢP GIÁO DỤC BẢO VỆ
Tuần
1
3

MÔI TRƯỜNG LỚP 4 - CHƯƠNG TRÌNH VNEN ( Từ tuần 1- tuần 15)
Phương thức
Bài học
Nội dung tích hợp về GDBVMT
tích hợp
Bài 1B Thương
người, người - Giáo dục ý thức BVMT, khắc phục hậu quả do - Khai thác
thương
thiên nhiên gây ra (lũ lụt).


- GV kết hợp GDBVMT thông qua câu hỏi 2 :
Bài 4B: Con
Em thích những hình ảnh nào về cây tre và búp
người
Việt
măng non ? Vì sao ? (Sau khi HS trả lời, GV có
Nam
(HĐ1thể nhấn mạnh : Những hình ảnh đó vừa cho
HĐ6)
thấy vẻ đẹp của môi trường thiên nhiên, vừa
mang ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống).
- GV kết hợp khai thác vẻ đẹp của ánh trăng để
Bài 7B: Thế
thấy được giá trị của môi trường thiên nhiên với
giới ước mơ
cuộc sống con người (đem đến niềm hi vọng tốt
( HĐ1- HĐ5
đẹp).
HĐ thực hành)

- Khai thác
gián tiếp nội
dung bài.

- Khai thác
gián tiếp nội
dung bài.

Bài 7A: Ước

Những quy định này được đưa ra để bàn bạc và thống nhất vào nghị quyết hội
nghị viên chức đầu năm học.
2.3.2. Chỉ đạo tốt việc học tập chuyên đề, hội thảo, tự bồi dưỡng nâng cao
nhận thức và trang bị kiến thức, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường
cho học sinh qua môn Tiếng Việt ở nhà trường.
Để mọi người hiểu được về mục đích, ý nghĩa, vai trò của việc tích hợp
bảo vệ môi trường tôi đã tổ chức cho cán bộ, giáo viên, học sinh tham gia các
6


buổi tuyên truyền, ngoại khóa từ đó nâng cao nhận thức về sự cần thiết, trách
nhiệm của mỗi người để tự giác, tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ chăm
sóc môi trường trường học. Biết yêu quí thành quả xây dựng và thái độ thân
thiện với môi trường.
Ngay từ đầu năm học cùng với việc triển khai nhiệm vụ năm học, nhà
trường đã triển khai chuyên đề: “Giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn
học ở Tiểu học” sau khi tiếp thu ở Sở, Phòng giáo dục về trường một cách sớm
nhất. Làm cho Cán bộ - Giáo viên hiểu được tính cấp bách của việc giáo dục
bảo vệ môi trường cho học sinh hiện nay như các vấn đề: Những kiến thức cơ
bản về môi trường, những hiểu biết về môi trường tự nhiên, sự ô nhiễm môi
trường, phương pháp bảo vệ môi trường, đặc biệt giáo dục cho học sinh có ý
thức gìn giữ, bảo vệ môi trường sống và tình yêu quê hương, đất nước.
Bên cạnh đó tìm hiểu và lựa chọn tài liệu cho phù hợp. Mỗi giáo viên phải
có các tài liệu cần thiết như: Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Tiểu học;
Giáo dục bảo vệ môi trường trong từng môn học ở lớp mình dạy. Đặc biệt tôi
đưa ra thiết kế mẫu một số mô đun giáo dục môi trường ở trường phổ thông qua
môn Tiếng Việt. Khai thác từ tài liệu hướng dẫn học từ lớp 2 đến lớp 5 ( VNEN)
và Sách giáo khoa lớp 1 chương trình hiện hành.
* Thiết kế mẫu chung giáo dục bảo vệ môi trường như sau:
1. Tên việc làm: Đặt tên cho một việc làm rõ ràng

Việc 3: Thảo luận nhóm đôi: Để có cây bàng đẹp vào mùa thu, nó phải được
nuôi dưỡng và bảo vệ ở những mùa nào?
Việc 4: Luyện nói: Kể tên những cây được trồng trong sân trường em? Em đã
làm gì để làm cho những cây xanh đó luôn tươi tốt?...
- MÔ- ĐUN thiết kế của khối 5:
Mẫu 4: Khôi phục và bảo tồn rừng ngập mặn:
1. Tên bài: Bài 13B- Lớp 5: Cho rừng luôn xanh (Tuần 13 -Từ hoạt động 1 đến
hoạt động 5)
8


2. Loại hình: GDMT khai thác từ môn Tiếng Việt lớp 5
3. Mục tiêu: - Thông qua nhận thức học sinh hiểu được rừng ngập mặn ở Việt
Nam là tài nguyên quý, có ý nghĩa lớn về môi trường cần phải biết trồng thêm,
khai thác và bảo vệ tốt.
Giúp các em nhận biết rừng ngập mặn và một số loại cây đại diện của rừng
ngập mặn. Bồi dưỡng lòng yêu thiên nhiên, khôi phục và bảo vệ rừng ngập mặn.
4. Chuẩn bị: Hình ảnh về rừng ngập mặn, video cảnh rừng ngập mặn bị tàn phá,
bản đồ Việt Nam vị trí có rừng ngập mặn.

Hình ảnh rừng ngập mặn bị tàn phá

Khôi phục rừng ngập mặn
Hệ thống các việc làm:
Việc 1: Nghe thầy ( cô) giáo đọc bài.
Việc 2: Hoạt động nhóm lớn:
Học sinh trả lời các câu hỏi: ? Rừng ngập mặn bị mất đi gây ra hậu quả gì, rừng
ngập mặn được phục hồi có tác dụng gì.
Việc 3: Thảo luận nhóm đôi:
? Vì sao các tỉnh ven biển có phong trào trồng rừng ngập mặn

giảng dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường
theo hai phương thức sau:
Phương thức 1 : Khai thác trực tiếp
Đối với các bài học có nội dung trực tiếp về giáo dục bảo vệ môi trường
(VD : Các bài Tập đọc nói về chủ điểm thiên nhiên, đất nước, ...). Giáo viên
giúp học sinh hiểu, cảm nhận được đầy đủ và sâu sắc nội dung bài học chính là
góp phần giáo dục trẻ một cách tự nhiên về ý thức bảo vệ môi trường. Đây là
10


điều kiện tốt nhất để nội dung GDBVMT phát huy tác dụng đối với học sinh
thông qua đặc trưng của môn Tiếng Việt. Như khai thác từ các bài dạy: Bài 3BBài tập 2,3 tập 1A- Lớp 2 ( Đặt câu theo mẫu Ai là gì? để giới thiệu trường, làng
xóm, phố của em từ đó thêm yêu quý môi trường sống); Bài 5B- Bài 4,5 hoạt
động cơ bản tập 1A- Lớp 2 ( Học sinh viết: Đẹp trường, đẹp lớp – Giáo dục ý
thức giữ gìn trường, lớp luôn sạch, đẹp); Bài 12B- bài tập 3- Hoạt động thực
hành tập 1A- Lớp 3 ( Học sinh yêu cảnh đẹp đất nước từ đó thêm yêu quý môi
trường xung quanh); Bài 32C- Bài tập 3,4 tập 2B- Lớp 3 ( Nói viết về bảo vệ
môi trường qua đó trực tiếp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên)…
Phương thức 2 : Khai thác gián tiếp
Đối với các bài học không trực tiếp nói về GDBVMT nhưng nội dung có
yếu tố gần gũi, có thể liên hệ với việc bảo vệ môi trường nhằm nâng cao ý thức
cho học sinh, khi soạn giáo án, ghi nhật ký, giáo viên cần có ý thức “tích hợp”,
“lồng ghép” bằng cách gợi mở vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường nhằm
giáo dục học sinh theo định hướng về giáo dục bảo vệ môi trường. Giáo viên
phải nắm vững những kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường , có ý thức tìm tòi,
suy nghĩ và sáng tạo để có cách liên thích hợp, tránh khuynh hướng liên hệ lan
man, “sa đà” hoặc gượng ép, khiên cưỡng, không phù hợp với đặc trưng môn
học. Như khai thác từ các bài dạy: Bài 28A-Tập 2A- Lớp 3 : Cần làm gì để
chiến thắng trong thể thao ( Giáo viên liên hệ : Cuộc chạy đua trong rừng của
các loài vật thật vui vẻ, đáng yêu từ đó giáo dục các em thêm yêu quý những

trưởng và chủ tịch HĐTQ của lớp vào giờ dạy sẽ giúp học sinh được trải
nghiệm, thực hành để có các kĩ năng bảo vệ môi trường sống tốt hơn. Có các
phương thức tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường sau :
- Mức độ 1: ( Lồng ghép toàn phần) Nội dung của bài học phù hợp với mục tiêu
và nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Các bài học này là điều kiện tốt nhất để
nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phát huy tác dụng đối với học sinh thông
qua môn học.
- Mức độ 2: (Lồng ghép bộ phận) Một số phần của bài học phù hợp với nội dung
giáo dục bảo vệ môi trường. Khi dạy học các bài học tích hợp ở mức độ này,
giáo viên cần lưu ý: Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường tích hợp vào nội dung
nào, hoạt động dạy học nào trong quá trình tổ chức dạy học? Cần chuẩn bị thêm
đồ dùng dạy học gì?
- Mức độ 3: (Liên hệ) Nội dung của bài học có điều kiện liên hệ lôgic với nội
dung giáo dục bảo vệ môi trường. Khi chuẩn bị bài dạy, giáo viên cần có ý thức
tích hợp, chuẩn bị những vấn đề gợi mở, liên hệ nhằm giáo dục cho học sinh
hiểu biết về môi trường, có kĩ năng sống và học tập trong môi trường phát triển
bền vũng.
Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên tổ chức, hướng
dẫn học sinh liên hệ, mở rộng về GDBVMT thật tự nhiên, hài hòa, đúng mức,
tránh lan man, sa đà, gượng ép, không phù hợp với đặc trưng bộ môn.
Khi áp dụng tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường tôi cùng giáo viên áp
dụng và thông thường sử dụng các phương pháp là :
- Phương pháp thảo luận
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp tìm hiểu, điều tra
Cùng với những hình thức lồng ghép:
- Giáo dục thông qua các tiết học trên lớp .
- Giáo dục thông qua các tiết học ngoài thiên nhiên, ở môi trường bên
ngoài trường lớp ( Môi trường ở địa phương- bằng các tiết ngoại khóa)

* Giáo viên hỏi: ? Điều gì xảy ra nếu người đi săn, bắn chết con nai : Các nhóm
thảo luận ( Con suối không còn ai đến soi gương, cây trám buồn vì không có
bạn đến chơi, người đi săn không thấy được con nai đẹp nữa, anh ta ngủ không
ngon...)
- Liên hệ giáo dục bảo vệ môi trường: Trưởng ban học tập chia sẻ cùng các bạn.
? Vậy điều gì xảy ra khi các động vật trong rừng bị chết hết. (Cây cối buồn, héo
mòn, không có âm thanh, môi trường bị hủy hoại...)
Minh họa 2: Khi dạy bài 13B môn Tiếng Việt: Cho rừng luôn xanh
Phần B: Hoạt động thực hành (HĐ5) Để các em có thể nhớ lại những việc làm
tốt và tự tin kể được câu chuyện. Tôi có thể sử dụng các câu hỏi gợi ý là:
- Em có biết những việc làm tốt để bảo vệ môi trường là những việc gì không?
( Nếu học sinh còn lúng túng thì tôi giúp các em )
- Trong các việc làm đó em đã tham gia vào việc làm nào?
- Em tham gia làm vào thời gian nào? cùng với những ai?
- Việc làm đó diễn ra như thế nào?
- Kết quả của việc làm đó ra sao?
- Em cảm thấy thế nào khi làm xong việc?
Ngoài ra để hình thức dạy học phong phú hơn tôi đã sử dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy, chuẩn bị đồ dùng chu đáo để tạo nhiều hứng thú cho
các em khi tham gia.
Tóm lại, việc áp dụng phương thức, phương pháp và hình thức tích hợp
giáo dục bảo vệ môi trường ở môn Tiếng Việt đã tạo điều kiện để học sinh được
trải nghiệm, thực hành bảo vệ môi trường trong quá trình học tập. Mỗi phương
pháp dạy học, hình thức dạy học đều không có ưu điểm tuyệt đối. Vì vậy, người
13


giáo viên phải biết linh hoạt vận dụng lựa chọn các phương pháp dạy học theo
hướng phát huy tích cực của học sinh với yêu cầu của công việc tăng cường giáo
dục bảo vệ môi trường thì mục tiêu sẽ đạt hiệu quả hơn.

hương thôn dã, thêm yêu quý đất nước ta.
Sau tiết học tôi hỏi học sinh.
? Tác giả tả quê hương bằng nhiều màu sắc rất đẹp. Em hãy kể những màu sắc
của quê hương mình.
? Nói vài câu về tình cảm của em với quê hương của em.
Các em trả lời còn chung chung, tình cảm chưa thực tế. Tôi góp ý để giáo
viên chú ý khai thác vốn sống gắn với tình yêu quê hương cụ thể hơn ( Quê
hương của các em) qua bài học.
Trong tiết dạy học giáo viên không chỉ là người dẫn dắt, thiết kế mà họ còn
là người tổ chức, chỉ huy cho nhóm trưởng, trưởng ban học tập các nhóm trong
14


việc giáo dục học sinh với nội dung bài học và thực tế cuộc sống. Do đó, việc rút
kinh nghiệm phải cụ thể và đưa ra được cách khắc phục, tránh nhận xét chung
chung, qua loa.
Hay khi thao giảng bài Bài 24B - Lớp 4: Những trái tim yêu thương (HĐ2- HĐ
thực hành). GDBVMT qua đề bài : Em (hoặc người xung quanh) đã làm gì để
góp phần giữ gìn xóm làng (đường phố, trường học) xanh, sạch, đẹp? Hãy kể
lại câu chuyện đó.
Đa số các em chọn kể câu chuyện của mình hoặc các bạn trồng, chăm sóc
cây xanh, vệ sinh ở trường, lớp mà thôi. Tôi góp ý với giáo viên kể các hoạt
động phong phú hơn như: Cùng bố, me, các bác trong thôn làm vệ sinh đường
làng trước tết. Cùng các bạn chăm sóc tượng đài liệt sỹ ở địa phương. Ngăn cản
hoặc báo với người lớn việc đổ rác bừa bãi trong thôn, xóm mình....
Cùng với việc dạy học trên lớp, những tiết học có thể ứng dụng hoạt động
ngoài trời, tôi khuyến khích giáo viên cho học sinh học ngoài sân trường để học
sinh có môi trường học tập thân thiện, kết hợp có những cảm xúc mới, sáng tạo:
Những bài văn tả cây cối ( Lớp 4), tả quang cảnh ( Lớp 5). Những tiết học đó
thực sự rất hiệu quả. Giáo viên có thể vừa dạy tả cây cối, vừa lồng ghép giữ vệ

6,13,14 (lớp 3); bài 8,9,14 (lớp 4) là những bài có liên quan đến giáo dục bảo vệ
môi trường. Như trong bài: Giữ gìn sách vở đồ dùng học tập: Từ nội dung bài
học liên hệ giữ gìn sách, vở, đồ dùng học tập cẩn thận, sạch đẹp là một việc làm
góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn, bảo vệ môi trường, góp phần
làm cho môi trường phát triển bền vững.
Ngoài việc tích hợp và lồng ghép nội dung giáo dục môi trường vào các
môn học, nhà trường phổ thông còn tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa dưới
hình thức phong phú như tổ chức thi tìm hiểu về môi trường, thi vẽ tranh, trồng
cây xanh, lao động dọn dẹp vệ sinh khuôn viên nhà trường, tổ chức các câu lạc
bộ, hội thảo, dã ngoại, đố vui, hát múa kể chuyện về môi trường, . . .
Ý thức giáo dục về môi trường cũng được nhà trường nâng cao bằng việc
phát huy vai trò của tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh phối hợp triển khai hoạt động dọn dẹp vệ sinh đường làng, ngõ
xóm, trồng cây xanh, trồng hoa dọc theo các trục đường giao thông, Hội cha mẹ
học sinh tặng chậu hoa, cây xanh lưu niệm . . . Việc mở rộng phạm vi hoạt động
bảo vệ môi trường không chỉ góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho
học sinh mà còn có ý nghĩa tác động tích cực đến người dân, khuyến khích mọi
người trong cộng đồng cùng tham gia bảo vệ môi trường.
Việc xây dụng mô hình xanh hóa trường học được tập trung vào một số
nội dung cơ bản như: xây dựng cảnh quan nhà trường, trồng cây xanh tạo bóng
mát cho sân trường, thực hiện tốt vệ sinh trường học, mua sắm các thùng rác
hợp vệ sinh và chương trình tiết kiệm điện, nước. Nhà trường đã xây dựng được
cảnh quan môi trường sạch, đẹp được các đơn vị bạn giao lưu, học tập, tổ chức
cho học sinh tham quan dã ngoại tìm hiểu về môi trường.
Giáo dục môi trường luôn đi đôi với giáo dục kỹ năng sống cho học sinh,
hình thành cho các em những thói quen tốt, những kỹ năng sống liên quan đến
bảo vệ môi trường. Ví dụ như tập cho các em thói quen đổ rác đúng nơi quy
định; không vứt bừa bãi giấy gói, bao bì thức ăn, chai lọ, vỏ đồ hộp... Ngoài ra
giáo dục cho các em ý thức tiết kiệm như tận dụng giảm thiểu dùng bao bì nilon,
tránh mua hàng hóa có bao bì quá nhiều và cầu kỳ, nên chọn mua sản phầm có

hoạt động chuyên môn của mình. Cùng với việc phê bình, xử lý các hiện tượng
buông lỏng hoặc xem nhẹ công tác giáo dục môi trường, cần chú trọng việc nêu
gương và nhân rộng điển hình những tập thể, cá nhân có những sáng kiến hay,
cách làm tốt, hiệu quả trong công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Động viên,
khen thưởng kịp thời, thích đáng đối với những giáo viên có nhiều thành tích rèn
được học sinh tiến bộ, lớp có nhiều giải cao trong những hội thi: Vẽ tranh ( 4A,
1B, 4C , 5A...) Thi trang phục, trang trí lớp học thân thiện ( 2C, 5A, 3A...) Cùng
với việc biểu dương cần đẩy mạnh khuyến khích về vật chất, tuy có thể phần
thưởng không lớn song có tác dụng động viên rất lớn, thúc đẩy giáo viên ngày
càng tiến bộ. Người quản lí chỉ đạo cần phải phát hiện, đánh giá được cá nhân và
tập thể đạt được thành tích thực sự trong quá trình thực hiện việc giáo dục bảo
vệ môi trường.
Nhà trường đã phối hợp với các tổ chức như: Công đoàn, hội cha mẹ học
sinh, hội khuyến học xã nhà... xây dựng quĩ khen thưởng và được công khai ở
hội nghị đầu năm học:
Ví dụ: Lớp đạt giải nhất trang phục vì môi trường được thưởng 300.000đ, đạt
giải nhất lớp học thân thiện thưởng 500.000đ...
2.4. Hiệu quả:
Qua tìm hiểu, vận dụng các biện pháp quản lý chỉ đạo sát sao, phù hợp với
điều kiện của đơn vị, hiệu quả giáo dục Bảo vệ môi trường ở trường Tiểu học
Xuân Lâm luôn được duy trì củng cố và ổn định. Trường học ngày một xanh
hơn, sạch hơn, đẹp hơn và an toàn hơn, tạo nên môi trường thân thiện đối với
học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục. Áp dụng những
kinh nghiệm trên vào thực tiễn đã tạo ra môi trường học tập, sinh hoạt, vui chơi
an toàn, thú vị, hấp dẫn đối với học sinh và giúp các em càng thêm yêu quý
trường lớp, thầy cô, bạn bè. Giáo dục học sinh ý thức, thói quen giữ gìn bảo vệ

17



Câu 3: Em làm gì để giữ gìn môi trường học tâp:
A. Trực nhật lớp thường xuyên, trồng và chăm sóc bồn hoa, cây cảnh
B. Vứt rác ra cửa sổ cho lớp sạch
C. Khạc nhổ bừa bãi ngoài sân trường.
D. Đi vệ sinh không cần xả nước vì đã có lao công dọn dẹp.
Câu 4: Tắt điện trước khi đi ngủ vì:
A. Để ngủ cho ngon.
B. Tiết kiệm điện và tiền của.
C. Đỡ tốn tiền của bố, mẹ vì mất tiền mua.
Câu 5: Chặt phá rừng bừa bãi sẽ dẫn đến:
A. Động vật không còn nơi trú ngụ
B. Xói mòn đất, Lũ lụt hạn hán xảy ra
C. Tất cả các ý trên
* Kết quả với tổng số 178 em khối 4,5 khảo sát như sau:
18


Lựa chọn

A

Câu hỏi
SL

B

%

SL


0.5
87.1

0

0

3
4
5

170
3
2

95.5
1.7
1.1

8
166
3

4.5
93.2
1.7

0
9
173

tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân để tất cả mọi người đều nhận
thức được: “Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính mình”
Trên đây là một số kinh nghiệm mà bản thân tôi đã đúc rút được qua thực tế
thực hiện : “Biện pháp chỉ đạo tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong
môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học Xuân Lâm ”. Những kinh nghiệm này đã
được kiểm nghiệm qua thực tế tại trường Tiểu học Xuân Lâm trong 2 năm và thu
được kết quả tốt. Tuy nhiên do thời gian chưa nhiều, kinh nghiệm của bản thân
về vấn đề này còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất
mong được HĐKH và bạn bè đồng nghiệp góp ý để kinh nghiệm có thể được
nhân rộng và đạt hiệu quả tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày12 tháng 4 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết:
Lê Thị Hường

PHỤ LỤC
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA CHO VIỆC CHỈ ĐẠO TÍCH HỢP GIÁO DỤC
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TH XUÂN LÂM

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status