Đánh giá điều kiện vệ sinh môi trường trường học, điều kiện học tập ở làng nghề và sự ảnh hưởng đến sức khỏe học sinh, đề xuất một số giải pháp cải thiện (tt) - Pdf 43

BỘ Y TẾ
VIỆN Y HỌC LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
********************

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG HỌC, ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP Ở LÀNG NGHỀ
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE HỌC SINH.
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN.

Chủ nhiệm đề tài: ThS. Đặng Anh Ngọc

Hà Nội – 2008

i


BỘ Y TẾ
VIỆN Y HỌC LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
********************

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG HỌC, ĐIỀU KIỆN HỌC TẬP Ở LÀNG NGHỀ
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE HỌC SINH.


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Ao:

Nguồn nước ao

ASTN-TB:

Ánh sáng tán xạ tự nhiên trung bình

ASTX-N:

Ánh sáng tán xạ ngoài trời

ATSDR:

Agency for Toxic Substances and Disease Registry

C:

Chiều

CBNSTP:

Chế biến nông sản thực phẩm

CBTP:

Chế biến thực phẩm


Tiêu chuẩn

TCCP

Tiêu chuẩn cho phép

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TCVS

Tiêu chuẩn vệ sinh

THCS

Trung học cơ sở

UBND

Uỷ ban nhân dân

VP

Viêm phổi

VPQ

Viêm phế quản.


3.1. Đặc điểm của các vùng nghiên cứu......................................................................25
3.2. Điều kiện vệ sinh môi trường ...............................................................................30
3.2.1. Điều kiện vi khí hậu .............................................................................................30
3.2.2. Thực trạng tiếng ồn ..............................................................................................32
3.2.3. Tình hình ô nhiễm bụi ..........................................................................................33
3.2.4. Thực trạng ô nhiễm một số chỉ số hoá học trong không khí................................35
3.2.5. Thực trạng hàm lượng chì trong bụi nhà và đất bề mặt, ......................................38
3.2.6. Thực trạng vệ sinh nguồn nước............................................................................39
3.2.7. Hàm lượng chì trong một số loại rau và cá ..........................................................43
3.2.8. Điều kiện vệ sinh chiếu sáng................................................................................44
3.3. Điều kiện vệ sinh môi trường làng nghề theo nhận xét của học sinh ...............48
3.4. Tình hình sức khoẻ của học sinh làng nghề ........................................................50
3.4.1. Tình hình thể lực học sinh....................................................................................50
3.4.2. Tình hình bệnh tật của học sinh ...........................................................................54
iv


Chương 4.

BÀN LUẬN........................................................62

4.1. Đặc điểm của các vùng nghiên cứu......................................................................62
4.1.1. Huyện Văn Lâm ...................................................................................................62
4.1.2. Huyện Khoái Châu:..............................................................................................63
4.2. Điều kiện vệ sinh môi trường ...............................................................................64
4.2.1. Điều kiện vi khí hậu .............................................................................................64
4.2.2. Thực trạng tiếng ồn ..............................................................................................65
4.2.3. Tình hình ô nhiễm bụi ..........................................................................................67
4.2.4. Thực trạng ô nhiễm một số chỉ số hoá học trong không khí................................68

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện cả nước có khoảng 1439 làng nghề với
hơn 4 triệu lao động phân bổ trên cả 3 miền Bắc Trung Nam, trong đó miền Bắc
chiếm tới 70% tổng số làng nghề cả nước.
Đa số những cơ sở sản xuất trong các làng nghề có quy mô hộ gia đình
(chiếm tới 80,1%). Trung bình hàng năm, các làng nghề đóng góp cho xuất khẩu
tới 600 triệu USD. Nhìn chung các làng nghề đã đóng góp cho xã hội một lượng
hàng hoá phong phú, góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao
động. Tuy nhiên, do việc phát triển các làng nghề ở nước ta mang tính tự phát,
công nghệ thủ công lạc hậu, thiết bị chắp vá, thiếu đồng bộ, ý thức bảo vệ môi
trường rất thấp... nên ở nhiều làng nghề, vấn đề ô nhiễm môi trường đang ngày
càng nghiêm trọng. Việc này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng
đồng, đặc biệt là trẻ em do còn trong giai đoạn phát triển và hoàn chỉnh các chức
năng cơ thể.
Ở những làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, yếu tố ô nhiễm đặc
trưng nhất là mùi hôi thối do sự phân hủy của các hợp chất hữu cơ có trong chất
thải rắn, nước thải từ các cống rãnh, kênh mương gây ảnh hưởng đến sức khỏe
người dân. Ngoài ra, đây cũng là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có hại
phát triển. Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh thường bị phân hủy yếm khí gây
ô nhiễm không khí rồi ngấm xuống gây ô nhiễm đất và suy giảm chất lượng nước
ngầm. Vì vậy, chất lượng nước ngầm tại các làng nghề chế biến nông sản thực
phẩm phần lớn đều có dấu hiệu bị ô nhiễm. Kết quả điều tra y tế tại các làng nghề
chế biến nông sản thực phẩm cho thấy: 8 - 30% người dân có bệnh về đường tiêu
hóa, 4,5 - 23% bệnh viêm da, 6 - 18% bệnh đường hô hấp, 13 - 38% phụ nữ làng
nghề mắc bệnh phụ khoa...
Ở các làng nghề tái chế kim loại như Làng Đông Mai (xã Chỉ Đạo, huyện
Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), do ô nhiễm môi trường, nhiều năm nay người dân phải
sống với bụi chì ngày cũng như đêm. Mỗi ngày, từ 25 lò tái chế cho ra 10 tấn chì
và cũng thải vào không khí hơn 500 kilôgam bụi chì (gấp 4.600 lần so với tiêu

Đề xuất một số giải pháp cải thiện.

2


Chương 1. TỔNG QUAN

1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Môi trường bị ô nhiễm: khi xuất hiện các yếu tố lý học, hoá học hoặc sinh
học mới nào đó không đặc trưng cho môi trường hoặc vượt quá giá trị tự nhiên
trung bình của nhiều năm. Đối tượng gián tiếp của ô nhiễm (chuỗi các chất ô
nhiễm) là các thành phần cơ bản của sinh quyển (vị trí tồn tại của quần thể sinh
học) như: đất, nước, không khí. Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của ô nhiễm
(vật hy sinh của ô nhiễm) là các sinh thể (thực vật, động vật, vi sinh vật).
Nguồn gây ô nhiễm rất đa dạng. Trong số đó, ngoài các nhà máy, xí
nghiệp công nghiệp, các tổ hợp nhiệt điện còn có các chất thải từ sinh hoạt, chất
thải trong chăn nuôi gia súc, giao thông cũng như các chất hoá học được con
người sử dụng vào mục đích chế biến, bảo quản thực phẩm, điều trị bệnh tật. Bất
kỳ một yếu tố lý học, hoá học hoặc sinh học nào (chủ yếu là vi sinh vật) đều có
thể là tác nhân gây ô nhiễm khi nó rơi vào hoặc sinh ra trong môi trường với
hàm lượng vượt mức bình thường (mức này có dao động hoặc trữ lượng tự nhiên
trung bình ở thời điểm xem xét).
Thông thường, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm không khí
do thải ra các chất như carbon monoxit, sulfur dioxit và các ô xít nitơ... . Ô
nhiễm nước có thể xảy ra trên một diện rộng do các hóa chất (như kim loại
nặng, dầu - mỡ, dung môi) và vi khuẩn. Ô nhiễm nước cũng có thể do nhiệt và
sự tiêu hủy ô xy. Nhiễm bẩn đất là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu môi
trường, hiện tượng này thường xảy ra khi có các sự cố gây đổ hoặc rò rỉ hóa chất.
Trong ô nhiễm đất, các yếu tố đáng quan tâm nhất là nhóm hydrocarbon, kim loại
nặng, methyl tert-butyl ether (MTBE), thuốc diệt cỏ, diệt sâu bọ và các dung

quan đến hiện tượng tăng tỷ lệ ung thư và tỷ lệ tử vong. Một vài bệnh được gọi
tên theo địa điểm xảy ra thảm kịch, nơi phát hiện các chất gây ô nhiễm đặc trưng
đầu tiên liên quan đến bệnh. Ví dụ như bệnh Minamata, do các hợp chất thủy
ngân gây ra.
Ô nhiễm tiếng ồn có thể gây ra huyết áp cao, stress và rối loạn giấc ngủ. Ô
nhiễm ôzôn có thể gây ra các bệnh về họng, chứng viêm, đau ngực và dấu hiện
tắc nghẽn. Các kích thích da và chứng phát ban có thể tăng khi xảy ra ô nhiễm
dầu trên diện rộng trong khu vực [78].

4


Ở các nước đang phát triển, các bệnh tật có liên quan đến chất bài tiết là
rất phổ biến. Nước thải sinh hoạt có hàm lượng các tác nhân gây bệnh cao như vi
khuẩn, virus, sinh vật đơn bào và ký sinh trùng (các loại giun) có thể gây ra các
bệnh nhiễm khuẩn đường ruột (GI) ở người. Trong Y tế công cộng, có khoảng 30
bệnh nhiễm trùng do chất bài tiết. Nhiều trong số chúng là rất quan trọng, thường
được dùng cảnh báo về chất bài tiết và nước thải [47].
Theo các tác giả nước ngoài, trong các chất ô nhiễm môi trường thì chì là
một trong những kim loại nặng, có độc tính cao và rất nguy hiểm đối với cơ thể
con người. Nguy hiểm nhất là chì tích lũy trong cơ thể (đặc biệt là ở trẻ em dưới
6 tuổi). Bào thai và phụ nữ có thai là những đối tượng nhạy cảm nhất với những
ảnh hưởng có hại tới sức khỏe này. Các ảnh hưởng của chì lên hệ thống thần kinh
trung ương có thể gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Chì thường thâm nhập vào cơ thể từ: 1- Chì chứa trong bụi từ không khí hoặc
qua tay và các vật có dính chì; 2 - chì từ không khí; 3 - nước ăn uống; 4 - thức ăn, đặc
biệt là hoa quả và đồ hộp. Về mặt sinh thái, sự nhiễm bẩn các phương tiện và sản
phẩm này tùy thuộc vào sự thay đổi thành phần vật chất của môi trường bên ngoài liên
quan đến các chất thải chì do các phương tiện di động (giao thông), các nguồn bất
động (xí nghiệp công nghiệp khai thác khoáng, luyện kim, thủy tinh và công nghiệp

hủy hồng cầu [49]. Các emzyme liên quan đến tổng hợp hem bao gồm sự tổng
hợp aminolaevulinate (các hoạt động của chúng được tạo ra do sự ức chế đáp ứng
dẫn đến sự tích tụ của δ-aminolaevulinate, một độc tố thần kinh), δaminolaevulinic axít dehydratase (δ-ALAD), copropor- phyrinogen oxidase và
ferrochelatase. Tất cả các hoạt động này của chúng đều bị ức chế [49,74]. Hoạt
tính của δ-ALAD là một dự báo tốt cho cả 2 mức độ tiếp xúc với chì trong môi
trường và trong công nghiệp. Sự ức chế hoạt tính của nó ở trẻ em đã được lưu ý
tại mức chì máu dưới 5 μg/dl; tuy nhiên, không có những ảnh hưởng bất lợi cho
sức khỏe liên quan đến sự ức chế của nó tại mức này.[32]
Sự ức chế của ferrochelatase do chì dẫn đến tích lũy protoporphyrin hồng
cầu (EP). Việc tích lũy này cho thấy sự tổn thương của ty lạp thể [50]. Chưa thấy
tác hại (NOAELs - no observed adverse effect level) khi lượng protoporphyrin
hồng cầu tăng lên ở trẻ nhỏ và trẻ em tại mức 15 – 17 μg/dl [57,60,65]. Ở người
trưởng thành, không thấy ảnh hưởng có hại do tăng các mức protoporphyrin hồng
cầu trong khoảng 25 - 30 μg/dl [31]. Riêng đối với phụ nữ, không thấy mức độ
ảnh hưởng có hại trong khoảng từ 20-25μg/dl. Khoảng này gần hơn đối với trẻ
em [65,73,81]. Các thay đổi trong mô hình phát triển của trẻ em dưới 42 tháng
tuổi có mối tương quan với các mức tăng của protoporphyrin hồng cầu. Sự tăng
trưởng kéo dài trong giai đoạn đầu dẫn đến tốc độ tăng nhanh về cân nặng nhưng
sau đó lại làm chậm quá trình phát triển [17]. Việc phân tích các số liệu
NHANES II cho thấy mối tương quan âm tính có ý nghĩa cao giữa mức độ phát
triển của trẻ < 7 tuổi và lượng chì máu trong khoảng 5-35 μg/dl [67].
Chì cũng có khả năng gây cản trở chuyển hóa canxi theo cả hai cách: cách
trực tiếp và cách tác động tới thế hệ hem trung gian của điểm gắn vitamin D
1,25-dihdroxy- cholecalciferol. Hiện tượng giảm đáng kể mức chuyển giao 1,25dihydroxycholecal- ciferol đã được mô tả ở trẻ em có mức chì máu trong khoảng
6


12 – 120 μg/dl, mà không có bằng chứng của ngưỡng [45,66]. Mặt khác, chì tích
lũy trong tổ chức còn làm tăng tính nhạy cảm của người tiếp xúc với chì, có thể
do tình trạng thiếu hụt canxi, nhất là ở phụ nữ có thai. Hiện tượng này cũng đã

công bố. Nghiên cứu của Laraque D. et al, 1990; Koo W.W et al, 1991) [40,42] cũng
khẳng định các số liệu về rối loạn hàm lượng canxi và tổng hợp vitamin D khi có tích
7


lũy chì. Những trẻ sơ sinh ở thành phố Belovo và Karabas có chỉ số phát triển thể lực
thấp hơn so với vùng chứng[82].
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, vấn đề thấm nhiễm chì đôi khi nằm ngoài sự
chú ý của các bác sĩ. Do vậy, phải đến lúc phát hiện trẻ học tập kém, có các vấn
đề về khả năng chú ý và sự chính xác (đặc trưng cho tác động lên thần kinh của
chì với hàm lượng thấp) thì cha mẹ học sinh mới đưa trẻ đến với bác sĩ. Việc các
bậc cha mẹ đánh giá hành vi và khả năng trí tuệ của trẻ còn phụ thuộc vào các
yếu tố di truyền, giáo dục, tình trạng văn hóa, xã hội của gia đình và nhiều tình
huống khác. Chính vì vậy, sự tiếp cận chuyên ngành đối với vần đề này cần phải
tính đến các yếu tố y tế và sinh thái[82].
Một số nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang và dọc đã được thiết kế để điều
tra những ảnh hưởng của việc tiếp xúc với chì đến trí tuệ và hành vi ở trẻ em.
Các nghiên cứu này đã quan tâm đến những ảnh hưởng hay xuất hiện ở mức tiếp
xúc với chì liều “thấp” (ví dụ chì máu < 40 μg/dl), mà tại đó không có các triệu
chứng lâm sàng rõ rệt[71]. Một vài ranh giới của sự thể hiện được giải thích rằng:
ở cả hai hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên của trẻ tại mức chì máu hợp
lý dưới 30 μg/dl, tỷ lệ trẻ với điện não đồ bất thường có liên quan (có ý nghĩa)
với mức chì huyết xuống tới 15 - 30 μg/dl [55,56]. Người ta đã quan sát thấy
những thay đổi (có ý nghĩa) về tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động tối đa
(MNCV) ở trẻ 5-9 tuổi sống gần lò nấu kim loại, với giới hạn đầu xảy ra tại mức
chì máu khoảng 20 μg/dl. Ngoài ra, người ta còn thấy tốc độ dẫn truyền thần kinh
vận động tối đa tiếp tục giảm 2% mỗi khi mức chì máu tăng thêm 10 μg/dl [70].
Trong một số báo cáo về sự giảm sức nghe của trẻ, thần kinh thính giác cũng
được đề cập như một điểm đích gây độc của chì [64]. Trong điều tra NHANES II
ở Hoa Kỳ, người ta tìm thấy chì máu có mối tương quan (có ý nghĩa) với sức

bất thường ở chức năng sinh dục nam như giảm số lượng tinh trùng
[18,23,41,80]. Sự bất thường này cũng có thể xảy ra với bộ máy sinh sản nữ khi
có tiếp xúc nghề nghiệp với chì [36,74].
Các nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy nguy cơ đẻ non tăng lên ở những phụ nữ
mang thai có tiếp xúc với chì. Nghiên cứu trên 774 phụ nữ có thai ở Port Pirie (được
theo dõi thai đầy đủ) cho thấy: nguy cơ đẻ non tăng gấp 4 lần ở những phụ nữ có mức
chì máu trên 14 μg/dl, so với những người có mức 8 μg/dl hoặc thấp hơn [48].
Trong một thành phố khác có nhà máy luyện kim - Vladicapkas- số lượng phụ
nữ vô sinh, sảy thai, nhiễm độc, thai chết lưu, trẻ em sinh ra dị dạng, biến dạng hệ cơ
xương, tật tim bẩm sinh..., tỉ lệ mắc tật bẩm sinh ở trẻ em có cha mẹ làm việc trong các
nhà máy luyện kim cao hơn. Trong thành phố này, phát hiện thấy số lượng biến đổi
nhiễm sắc thể tăng ở những công nhân làm trong các nhà máy luyện chì [82].

1.2. Các nghiên cứu trong nước
Theo thống kê vùng châu thổ sông hồng có 731 làng nghề chiếm trên 50%
tổng số các làng nghề ở Việt Nam (Duong Ba Phuong, 2001). Lao động hàng
năm với những người làm việc toàn bộ thời gian trong mỗi làng nghề là 813
người, số lượng này không bao hàm số lượng lớn những lao động được thuê theo
mùa vụ. Trong số 731 làng nghề, chỉ có khoảng 29,4% là làng nghề truyền thống,
số còn lại là những làng nghề mới chiếm khoảng 70,6%. [54]
Các làng nghề và nhân công ở vùng châu thổ sông Hồng (1998):
Tỉnh

Số lượng làng nghề

Nhân công
(người)
Tổng số Truyền thống Làng nghề mới

Thái Bình


42

30

12

34.440

Hưng Yên

39

11

28

22.394

Hải Phòng

80

15

65

33.762

Bắc Ninh


14

9

5

20.595

215

515

594.303

Tổng cộng
731
(nguồn: Duong Ba Phuong, 2001.)
10


Qua nghiên cứu của Đặng Kim Chi nhận thấy phần lớn các làng nghề hình
thành và phát triển do tự phát, thiết bị đơn giản thủ công, công nghệ lạc hậu, hiệu
quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tư cho
xây dựng các hệ thống xử lý nước, khí thải hầu như không được quan tâm. Ý
thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình mình của
người lao động còn rất hạn chế. Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường các làng
nghề ở nông thôn là vấn đề đang được quan tâm và cần thiết phải có những
nghiên cứu điều tra cụ thể. Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ảnh hưởng lớn
đến sức khỏe cộng đồng, đến môi trường sinh thái, hạn chế sự đầu tư phát triển

bột đen trong sản xuất tinh bột sắn). Nước thải cống chung của các làng nghề chế
biến thực phẩm đều vượt TCVN 5945-1995 từ 5-32 lần. Không ngoài quy luật
trên, nước thải các làng nghề sản xuất bún, bánh,... đều có BOD vượt quá TCCP
12,8 – 140 lần; COD vượt quá: 9,7 - 87 lần. Hầu hết nước thải có pH thấp, thể
hiện chất thải hữu cơ đã bị phân giải yếm khí) [6].
Xã Tam Đa (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) có 900 hộ tham gia nấu
rượu. Hàng năm, xã tiêu thụ khoảng 12.000 – 13.000 tấn lát sắn và 22.000 –
23.000m3 nước để sản xuất 1,2 – 1,3 triệu lít rượu. Nước thải từ việc sản xuất
rượu và chăn nuôi là nguyên nhân làm cho nước bề mặt trở thành mầu đen và bốc
mùi, gây ảnh hưởng đến cuộc sống dân làng và vùng xung quanh.[54]
Lê Đình Minh nghiên cứu ở làng nghề sản xuất đay nhận thấy: Nước
ngâm đay và nước không ngâm đay có các chỉ số vi sinh vật đều vượt quá tiêu
chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,4 lần TCCP. Nước ngâm đay có các chỉ số COD,
BOD5 đều cao hơn từ 1,5 đến 3 lần TCCP. Số lượng vi khuẩn hiếu khí trên 1m3
không khí đều cao hơn từ 2 đến 20 lần TCCP. Số nấm mốc/m3 không khí của xã
Kim Ngưu đều thấp hơn xã Đại Tập. Cả 2 xã Kim Ngưu và Đại Tập có chỉ số
CO2 và H2S trong không khí cao hơn TCCP[9].
Ô nhiễm nước có liên quan chặt chẽ đến ô nhiễm không khí và đất. Do đó
các yếu tố gây ô nhiễm không khí và gây ô nhiễm đất thì cũng trực tiếp hay gián
tiếp gây ô nhiễm nước. Khi nước bề mặt bị ô nhiễm thì sau đó nước ngầm cũng
dần dần bị ô nhiễm.
Lê Văn Trình và Cs tại một số làng nghề cho thấy môi trường không khí
tại các làng nghề sản xuất thực phẩm như làng rượu Vân Hà (Bắc Giang) cũng bị
ô nhiễm nặng do khói từ các lò nấu, đun thủ công tỏa ra các khí độc như CO2,
NO2, SO2, và hơi khí từ phân gia súc, gia cầm, bã sản phẩm để chất đống như
H2S, NH3, ... [6] Theo nghiên cứu của Đan Thị Lan Hương tại làng nghề chế biến
thuốc nam Thiết Trụ (Khoái Châu – Hưng Yên) cho thấy loại tác nhân gây ô
nhiễm chủ yếu ở làng nghề này là các khí độc hại CO, CO2, SO2 phát sinh từ quá
trình đốt cháy bột diêm sinh và từ các lò tiểu thủ công. Các chỉ số này đều vượt
TCCP từ 2 – 4 lần. Ngoài ra nước thải từ các hộ sản xuất mứt táo, quất được thải

Nước sử dụng trong tái chế kim loại từ phế liệu gồm: Nước làm mát (chứa
nhiều bụi bẩn, rỉ sắt và dầu mỡ); Nước thải từ làng nghề tái chế kim loại (kim
loại đen và kim loại màu) thường chứa bụi kim loại, bụi silicat, rỉ sắt, dầu mỡ.
Nước thải quá trình tẩy rửa và mạ kim loại chứa hóa chất (axit, xút, các kim loại
như: CN-, Cr2+, Zn2+, Pb2+, Cu2+, ...) gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước; hàm
lượng Pb gấp 4,4 lần, Cu gấp 3,25 lần, ... [2].
Công nghệ tái chế kim loại phát sinh một lượng lớn bụi kim loại, khí thải
từ lò than và hơi hóa chất từ các quá trình gia công và hoàn thiện sản phẩm. Bụi,
khí ô nhiễm phát sinh chủ yếu từ khâu nấu chảy kim loại, ủ và tháo dỡ các khuôn đúc.
Hơi kiềm, hơi axít sinh ra từ khâu tẩy rửa, làm sạch bề mặt kim loại và mạ điện.... [2].
Làng nghề đúc nhôm, kẽm và chì ở xã Vân Môn (Yên Phong, Bắc Ninh)
với một lượng bụi lớn có chứa kim loại nặng được tung vào không khí trước khi
13


phủ lên các cây, và các mái nhà làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân
trong làng. Một số lượng lớn mẫu chì trong vùng vượt tiêu chuẩn 87,2 lần.[54]
Trong khi đó thì ô nhiễm môi trường đất làng nghề là do các loại hóa chất
và kim loại nặng trong các làng nghề đúc đồng, nhôm, chì, các ngành sản xuất đồ
gốm, ngói, gạch lát, dệt,... Các chất thải rắn và lỏng từ các làng này đều có thể
thấm sâu xuống lòng đất, chảy ra đồng ruộng làm cho nguồn đất và khả năng
sinh lợi của đất như năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, sinh vật thủy sinh
bị suy giảm và hủy diệt [13].
Các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở các làng nghề đã và đang
gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, làm suy thoái môi trường và tác
động trực tiếp tới sức khỏe của người lao động
Các bệnh hay gặp của người lao động làng nghề là tai mũi họng 56,3%;
răng hàm mặt 50,4%, các bệnh ở mắt 24,8%; các bệnh thần kinh 22,2%; các bệnh
ngoài da 18,3%; bệnh cơ xương khớp 16%; các bệnh tiêu hoá 11,1%.
- Làng nghề chế biến thực phẩm đặc biệt có tỷ lệ da cao 37,3% như viêm

(8,52%) và thiếu máu (7,35%). Cơ cấu bệnh phù hợp với tình trạng ô nhiễm bụi,
các khí thải lò nung và chì trong môi trường lao động và môi trường sống tại làng
nghề Bát Tràng.
+ Tỷ lệ mắc các bệnh của nhóm thợ có tuổi nghề >5 năm tăng lên rõ rệt so với
nhóm có tuổi nghề ≤ 5 năm (p < 0,05). Nhóm thợ gốm sứ tiếp xúc trực tiếp với
men màu bị mắc các bệnh suy nhược thần kinh, rối loạn thần kinh thực vật, thiếu
máu, bệnh răng miệng và bệnh da liễu nhiều hơn nhóm không tiếp xúc men màu
(p

Biến số

Mục tiêu 1
Đánh giá ô
nhiễm môi
Vi khí hậu
trường và
ảnh hưởng
của sản
Ô nhiễm do
xuất tới môi tiếng ồng
trường
trường học
Đo nồng độ
một số khí
liên quan có
trong môi
trường

Đo nồng độ
bụi trong
không khí

Chỉ số

Phương pháp
thu thập

Công cụ

Nhiệt độ
Độ ẩm
Tốc độ gió

Nồng độ bụi trong
không khí

bằng máy SKC-Mỹ

theo phương
máy Perkin Elmer,
pháp quang
AAS 3300 - Mỹ
phổ hấp thụ
nguyên tử
theo 6193:
1996 Xác định
Coban, Niken, đo trên máy Quang
Đánh giá
phổ hấp thụ nguyên
Đồng, Kẽm,
thấm nhiễm
Hàm lượng chì
Cadimi và Chì tử (AA800-Perkin
chì trong thực
- Phương pháp Elmer. Mỹ)
phẩm
phổ hấp thụ
nguyên tử
pH, độ đục, độ

chất ô nhiễm
NH4+,Cl-,Mn2+, Pb,
trong nước
Coliform,
thải
F.Coliform.
Đánh giá vệ
Đánh giá vệ
- Diện tích trường
sinh học
sinh quy
- Diện tích lớp
đường theo
hoạch thiết kế
Đánh giá trường lớp
Quyết định
điều kiện vệ
1221/2000/QĐ- Thước đo và máy đo
ánh sáng Testo 545sinh học tập
BYT ngày
của học
Đánh giá điều Độ rọi ánh sáng tự 18/4/2000 và Đức
sinh.
thường quy kỹ
kiện vệ sinh nhiên trong và
thuật của Viện
ngoài lớp học.
chiếu sáng
YHLĐ-VSMT
(Bộ Y tế, 2002)

Sỹ), máy quang phổ
thấm nhiễm - chì niệu
hấp thụ nguyên tử- δ-ALA niệu
chì
AAnalayst 700
Các xét
nghiệm
Theo thường
- Bộ test hình Raven
quy kỹ thuật
Thử nghiệm Thử nghiệm
- Bộ test trí nhớ hình
của Viện
trí tuệ.
Raven, trí nhớ hình
YHLĐ-VSMT (18 tam giác)
(Bộ Y tế, 2002)

19


2.2.3. Y đức trong nghiên cứu:
Các học sinh tham gia nghiên cứu đều tự nguyện và được sự chấp thuận
của nhà trường, cha mẹ.
2.2.4. Cỡ mẫu cho nghiên cứu ngang
2.2.4.1. Cỡ mẫu khảo sát và khám sức khỏe cho học sinh: sử dụng công thức tính
cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
n0 = Z 12−α / 2 x

p(1 − p)

n1

=

N
N

x
+

n0
n0

Trong đó:
-

n1 Cỡ mẫu nghiên cứu cần có được điều chỉnh theo quần thể hữu hạn.

-

N Quần thể hữu hạn của nghiên cứu

Sau khi tính toán cỡ mẫu và dựa vào thực tế số lượng học sinh tại các xã làng
nghề chúng tôi dự kiến số lượng điều tra sức khỏe học sinh tại mỗi xã là 1000
học sinh. Thực tế đề tài khảo sát được 2356 học sinh tiểu học và trung học cơ sở
ở cả 2 xã được lựa chọn nghiên cứu.
2.2.4.2. Cỡ mẫu khảo sát và khám sức khỏe cho học sinh: sử dụng công thức tính
cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
n = Z 12−α / 2 x


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status