Sử dụng phương pháp lập bảng biểu hệ thống hóa kiến thức trong dạy học bài 19, bài 20 sách giáo khoa lịch sử 11 nhằm nâng cao hiệu quả làm bài tập trắc nghiệm cho học sinh - Pdf 43

GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGA SƠN
----------

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP LẬP BẢNG BIỂU HỆ
THỐNG KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC BÀI 19, BÀI
20 SGK
LỊCH SỬ 11 ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÀM BÀI
TẬP
TRẮC NGHIỆM CHO HỌC SINH”
Họ tên: Nguyễn Thị
Phương
Chức vụ: giáo viên
Lĩnh vực SKKN: Lịch
sử

1


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
I.

Đất nước ta trên đường đổi mới cần có những con người phát triển toàn diện,
năng động và sáng tạo. Muốn vậy phải bắt đầu từ sự nghiệp giáo dục và đào tạo,
đòi hỏi sự nghiệp giáo dục và đào tạo phải đổi mới để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
một yếu tố quan trọng là đổi mới phương pháp dạy học, bao gồm cả phương
pháp dạy học môn Lịch sử.
Từ năm học 2016- 2017 Bộ GD và ĐT đã có nhiều thay đổi trong kỳ thi
Trung học phổ thông Quốc gia (THPT QG) với các môn học nói chung và bộ
môn Lịch sử nói riêng, một trong những thay đổi đó là chuyển từ “hình thức thi
tự luận” sang “hình thức thi trắc nghiệm”. Đây là một trong những thay đổi
mang tính đột phá trong thi cử, và từ đó cũng đòi hỏi những thay đổi trong
phương pháp giảng dạy để phù hợp, kịp thời và đúng hướng nhằm đáp ứng tốt
nhất cho học sinh tham gia kỳ thi THPT QG.
Qua thực tế giảng dạy, tôi thấy việc lập bảng hệ thống hóa kiến thức trong
dạy học lịch sử có mối liên hệ chặt chẽ với việc nâng cao chất lượng làm bài
tập trắc nghiệm môn Lịch sử. Vì bảng biểu sẽ có câu từ ngắn ngọn, súc tích, cho
học sinh nhớ chính xác “từ khóa” là điều rất cần thiết cho học sinh làm bài trắc
nghiệm. Lập bảng biểu sẽ phát huy tính tích cực của người học, huy động tối đa
các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức, lĩnh hội kiến thức.
Phương pháp này còn tác động vào "kênh hình" của người học. Sẽ tạo ra sự
hứng thú trong giờ học, bài giảng, tiết học trở nên sôi động. Phát triển óc quan
sát, kích thích tư duy của người học, củng cố kiến thức bài giảng, hào hứng tìm
tòi, đón nhận tri thức mới, có lòng yêu thích môn học. Giúp học sinh có được
những thói quen cần thiết như: đọc sách, làm bài tập lịch sử.
Để lập bảng hệ thống hóa kiến thức tốt thì kĩ năng lập bảng biểu của giáo
viên đóng vai trò quyết định. Do đó, nắm được những kĩ năng cơ bản để lập
bảng biểu phục vụ cho việc giảng dạy là sự cần thiết về chuyên môn đối với
giáo viên Lịch sử hiện nay.
Để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử, đặc biệt để
đáp ứng kịp thời cho những thay đổi về hình thức thi trắc nghiệm khánh quan

1. Cơ sở lý luận
Từ năm học 2016-2017, Bộ GD Và ĐT đã chính thức áp dụng hình thức thi
trắc nghiệm cho bộ môn Lịch sử trong kì thi THPT QG. Mặc dù có rất nhiều ý
kiến trái chiều xung quanh vấn đề “ Áp dụng hình thức thi trắc nghiệm cho bộ
môn Lịch sử đã phù hợp hay chưa?”. Với bản thân tôi cho rằng điều này là hợp
lý. Bởi lẽ: nếu hình thức thi tự luận buộc các em phải “học sâu” thì hình thức
thi trắc nghiệm sẽ phải “học rộng”. Vì vậy, kiến thức của các em sẽ phong phú,
đa dạng hơn. Các em sẽ đọc nhiều sách, tài liệu để mở rộng sự hiểu biết của
mình. Khi chuyển sang hình thức trắc nghiệm, đề thi gồm 40 câu và trải rộng
toàn bộ chương trình, buộc các em phải đọc sách, giảm thiểu tình trạng học tủ,
học lệch. Và điều này cũng góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục Lịch sử là
cung cấp cho các em nhiều kiến thức về nhân loại càng tốt.
Mặc dù kì thi THPT QG chưa diễn ra, tính khả thi của đề án thi trắc nghiệm
chưa đo được kết quả. Tuy nhiên, số lượng học sinh đăng ký thi môn học Lịch
4


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

sử trong kỳ thi THPT QG năm 2016-2017 đã tăng vọt đột biến, là hiện tượng
trái ngược với các kỳ thi của những năm học trước đây. Cùng với đó là số lượng
học sinh lựa chọn ban khoa học xã hội để học có xu hướng gia tăng, đây là tín
hiệu đáng mừng và là dấu hiệu khả quan về sự thành công của đề án.
Với phương pháp lập bảng biểu hệ thống hóa kiến thức trong dạy học sẽ đáp
ứng được yêu cầu đòi hỏi trong hình thức thi trắc nghiệm và có ưu điểm vượt
trội so với phương pháp vấn đáp đơn thuần trên lớp.
- Thứ nhất, lập bảng biểu đồng nghĩa với việc khái quát vấn đề, buộc học sinh
phải đọc sách giáo khoa và các tài liệu liên quan. Chứ không phải chỉ tìm một

5


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

Đây là thực trạng đáng buồn và đáng báo động để mỗi giáo viên khi nhìn
vào phải day dứt và trăn trở.
Theo tôi, có 5 nguyên nhân dẫn đến học sinh không thích học môn Lịch sử.
Trước hết, phải thừa nhận rằng, học môn Lịch sử khó và không hấp dẫn. Ðã
là lịch sử, nhất thiết phải gắn với sự kiện, nhân vật và hiểu lịch sử nhất định
phải nắm vững những sự kiện, nhân vật cơ bản, quan trọng trong suốt quá trình
hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Thứ hai, chương trình do Bộ Giáo dục và Ðào tạo quy định là yêu cầu học
sinh phải nắm được hầu như tất cả các nội dung về lịch sử Việt Nam và lịch sử
thế giới, trong khi đó, số tiết quy định quá ít, chỉ một tiết học trong một tuần.
Thứ ba, do yêu cầu của chương trình, nội dung trong sách giáo khoa quá
nặng, ôm đồm, thiếu tính chọn lọc, thậm chí một số nội dung thiếu tính liên kết
và lô-gích. Nội dung trong sách giáo khoa như một "đĩa nén", đầy ắp thông tin
mà học sinh không thể nhớ hết được, dẫn đến tình trạng "học trước quên sau".
Thứ tư, áp lực học tập của học sinh còn nặng nề, các em rất vất vả khi học cả
ngày trên trường, tối về làm bài tập các môn, không có nhiều thời gian giành
cho môn Lịch sử; càng không thể mua các sách Lịch sử đề đọc thêm tham khảo.
Thứ năm, xã hội ta hiện nay chưa coi trọng môn Lịch sử và ngành lịch sử.
Môn Lịch sử thường được xếp vào môn học phụ trong nhà trường. Không
những vậy, cơ hội tìm việc làm cho những cử nhân Lịch sử là không nhiều, nếu
có thì thu nhập rất thấp.
* Đối với giáo viên
Một số giáo viên chưa có sự đầu tư cho bài giảng, ngại thay đổi phương pháp,

huy được tối ưu hiệu quả trrong giảng dạy.
Thứ ba: Tìm ra từ khóa. Các kiến thức trong bảng phải đảm bảo yêu cầu xúc
tích, chính xác, ngắn ngọn. Phải biết chọn lọc cái gì là cơ bản nhất, sử dụng từ
ngữ chính xác, cô đọng nhất, không nên ôm đồm quá nhiều khiến việc lập bảng
trở nên nặng nề.
Thứ tư, giáo viên linh hoạt trong khâu tổ chức dạy và học. Không nhất thiết
tất cả các bảng biểu được lập tại lớp học, mà cần giao bài cho học sinh về tự lập
bảng.
3.3.Các ví dụ cụ thể
* Bảng biểu chuyên đề
Ví dụ 1: Trong bài 19: Nhân dân Viêt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (
1858-1873)
I. Liên quân Pháp- Tây Ban Nha xâm lược Việt Nam
1.Tình hình Việt Nam đến giữa TK XIX trước khi Pháp xâm lược
+ Lập bảng
(Giáo viên cho học sinh lập bảng tại lớp)
Lĩnh vực

Tình hình

Chính trị

- Là quốc gia độc lập có chủ quyền Chế độ phong kiến suy yếu,
- Dưới sự cầm quyền của vương khủng hoảng nghiêm trọng
triều Nguyễn

Kinh tế

- Nông nghiệp: Sa sút
- Công thương nghiệp: đình đốn


C. mới được hình thành

D. phát triển nhanh chóng.

Câu 2: Vào giữa thế kỉ XIX, kinh tế Việt Nam như thế nào?
A. Phát triển mạnh mẽ

B. Suy sụp, lạc hậu

C. Kinh tế ổn định

D. Có sự du nhập của phương thức TBCN

Câu 3: Chính sách “bế quan tỏa cảng” của Nhà Nguyễn làm cho:
A. dân ta phát huy được tinh thần tự lực, tự cường
B. nước ta thoát khỏi nguy cơ xâm lược
C. nước ta bị cô lập với thế giới bên ngoài
D. kinh tế nước ta phát triển hùng mạnh
Ví dụ 2: Trong bài 20: Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc Kháng chiến của
nhân dân ta từ 1873-1874. Nhà Nguyễn đầu hàng.
I. Thực dân Pháp đánh Bắc kì lần thứ nhất. Kháng chiến lan rộng ra Bắc kì
3. Phong trào kháng chiến của nhân dân Bắc Kì 1873-1874.
+ Lập bảng
(Giáo viên cho học sinh lập bảng tại lớp)
Năm Phong trào của Triều đình

Phong trào của nhân dân

1873


8


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

B. Pháp nổ súng đánh chiếm thành Hà Nội.
C. Thắng lợi trận Cầu Giấy lần thứ 2.
D. Gácnie kéo quân ra Bắc Kì.
Câu 2: Trong chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất, tên tướng Pháp tử trận là:
A. Gác-ni-ê

B. P.Đu-me

C. Ri-vi-e

D. Đuy-puy

Câu 3: Hiệp ước nào của Triều Nguyễn kí với Pháp thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì
thuộc Pháp?
A. Hiệp ước Nhâm Tuất (1862)
B. Hiệp ước Giáp Tuất (1874)
C. Hiệp ước Hắc măng (1883)
D. Hiệp ước Patonot (1884)
Câu 4: Người trực tiếp chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp ở thành Hà Nội
năm 1882 là:
A. Hoàng Diệu.


Nội dung

Nhận xét

lúc cuộc kháng - TĐ nhượng 3 tỉnh miền - Tạo điều kiện cơ
của nhân dân Đông Nam kì ( Gia Định, bản cho Pháp mở
Kì dâng cao Định Tường, Vĩnh Long và rộng địa bàn đóng
biểu là KN
9


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

Trương Định, Nguyễn đảo Côn Lôn.
chiếm Nam Kì
Trung Trực) thì TĐ kí - Mở 3 cửa biển ( Ba Lạt, - Là bước đầu tiên
Quảng Yên, Đà nẵng cho trên con đường
hiệp ước với Pháp
Pháp buôn bán.
cầu hòa của Triều
- Bồi thường 280 vạn lạng đình với Pháp
bạc cho Pháp
Hiệp ước
Khi quân ta giành - TĐ Huế chính thừa nhận
Giáp Tuất chiến thắng Cầu Giấy chủ quyền của Pháp ở 6 tỉnh
(25/8/1883) lần 1, thực dân Pháp ở Nam kì.
hoang mang, lo sợ,
tìm cách rút khỏi Bắc

quyền lợi trên đất Việt Nam

-Làm cho chủ
quyền dân tộc bị
vi phạm nghiêm
trọng
- Gây bất bình lớn
trong nhân dân
- Nguy cơ mất
nước đang đến gần

Hiệp ước Sau hiệp ước 1883,
Patonot
phong trào phản đối
(6/6/1884) hiệp ước dâng cao. Để
xoa dịu dư luận và lôi
kéo phần tử phong
kiến đầu hàng. Pháp
cho sửa 1 số điều
khoản trong hiệp ước
1883 thành hiệp ước
Pa-tonot 1884

-Về cơ bản giống hiệp ước
1883
- Sửa đổi điều khoản là mở
rộng quyền cai quản cho TĐ
rộng hơn trước ( từ Thanh
Hóa vào Bình Thuận)


D. Lực lượng của Pháp quá mạnh.

Câu 3: Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp từ sau hiệp ước:
A. Hiệp ước Nhâm Tuất (1862)

B. Hiệp ước Giáp Tuất (1874)

C. Hiệp Ước Hắc măng (1883)

D. Hiệp ước Patonot (1884)

Câu 4: Hậu quả của việc kí Hiệp ước Hác măng là
A. Quân Pháp có điều kiện trở lại xâm lược toàn bộ Bắc Kì.
B. Lãnh thổ Việt Nam bị chia làm ba xứ.
C. Làm mất một phần lãnh thổ của đất nước.
D. Phong trào kháng chiến của nhân dân ta không phát triển.
Câu 5: Nguyên nhân chủ yếu nào để Pháp tiến đánh cửa Biển Thuận An 1883:
A. Thuận An là cửa họng của kinh thành Huế
B.Triều đình Nguyễn bối rối khi Tự Đức qua đời
C. Pháp trả thù cho cái chết của Rivie
D. Thất bại ở trận Cầu Giấy lần hai
Ví dụ 4
Sau khi học xong bài 19, 20 Phần Lịch sử Việt Nam- sách giáo khoa 11
Lập bảng hệ thống kiến thức về phong trào kháng chiến chống pháp của
nhân dân từ 1858 đến 1884.
+ Lập bảng (*)
( Giáo viên cho học sinh lập tại lớp trong phần củng cố kiến thức sau 2 bài 19
và bài 20)
Giai đoạn


Hữu Huân, Phan Tôn,
Phan Liêm, Nguyễn
Trung Trực

1873-1884

- Các vuộc khởi nghĩa của nhân dân
vẫn diễn ra quyết liệt
- Nhân dân Bắc kì chuẩn bị đương
đầu với cuộc chiến tranh xâm lược
của thực dân Pháp
- Chiến thắng Cầu Giấy lần 1 và lần
2 làm cho quan dân ta phấn khởi và
quân Pháp hoang mang lo sợ.

Hoàng Tá Viêm, Trương
Quang Đản, Lưu Vĩnh
Phúc, Phạm Văn Nghị,
Nguyễn Mậu Kiến.

Chú thích: (*) Trương Ngọc Thơi, Bồi dưỡng học sinh giỏi Lịch sử 11- trang 124

+ Áp dụng bảng để làm một số câu hỏi trắc nghiệm
Câu 1: Âm mưu của Pháp khi tấn công Đà nẵng là:
A. Đánh chắc ,tiến chắc
B. Chinh phục từng gói nhỏ
C. Đánh nhanh thắng nhanh
D. Đánh lâu dài
Câu 2: Người lãnh đạo trận đánh chìm tàu chiến Ét-pê-răng của Pháp trên sông
Vàm Cỏ Đông là:

D. Phan Tôn, Phan Liêm
Câu 5: “Bình Tây đại nguyên soái” là
A. Nguyễn Tri Phương

B. Nguyễn Trung Trực

C. Hoàng Diệu

D. Trương Định

* Bảng biểu so sánh
Ví dụ 5: Trong bài 19: Nhân dân Viêt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (
1858-1873)
II. Cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam kì từ
năm 1859 đến năm 1862
1. Kháng chiến ở Gia Định
Sau khi giảng dạy xong nội dung chính, giáo viên có thể giúp học sinh nắm lại
kiến thức về chiến sự ở Đà Nẵng và Gia Định qua bảng sau:
Lập bảng so sánh về âm mưu và chiến sự của Pháp khi đánh vào Đà nẵng,
Gia Định:
Tiêu chí
so sánh
Âm
mưu

Ở Đà Nẵng

Ở Gia Định

- Đà Nẵng có cảng biển lớn, sâu,

lùi nhiều đợt tấn công của chúng,
thực hiện vườn không, nhà trống.

-17/2/1859, Pháp nổ súng đánh
thành Gia Định. Dân binh ngày
đêm quấy phá địch.
- Nguyễn Tri Phương chỉ huy tại
mặt trận, cho xây dựng Đại đồn
Chí Hòa, trong thế thủ hiểm.
- Nhân dân chủ động đánh địch ở
nhiều vị trí quan trọng.

Kết quả

-Liên quân Pháp- Tây Ban Nha bị
giam chân 5 tháng trên bán đảo Sơn
Trà.
- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta
đã bước đầu làm thất bại âm mưu
“đánh nhanh thắng nhanh” của
Pháp.

- Kế hoạch “đánh nhanh thắng
nhanh” của Pháp bị thất bại, phải
chuyển sang kế hoạch “chinh phục
từng gói nhỏ”
-Pháp bị sa lầy và rơi vào tình
trạng tiến thoái lưỡng nan.

+ Áp dụng bảng để làm một số câu hỏi trắc nghiệm

B. Thành Gia Định không còn giá trị sử dụng
C. Pháp phải rút quân sang chiến trường Trung Quốc
D. Bị đội dân binh ngày đêm quấy rối, tiêu diệt
Câu 6: Sai lầm lớn nhất của quân triều đình tại mặt trận Gia Định năm 1860 là:
A. Xây dựng đồn Chí Hòa, chọn cách thủ hiểm
B. Chủ quan, coi thường địch nên mất cảnh giác
C. Không liên kết với phong trào kháng chiến của nhân dân
D. Tấn công địch khi chưa có sự chuẩn bị chu đáo
Chú thích: (**) Trương Ngọc Thơi, hướng dẫn trả lời câu hỏi và bài tập Lịch sử 11
nâng cao -trang 189

Ví dụ 6
Sau khi học xong bài 19, 20 Phần Lịch sử Việt Nam- sách giáo khoa 11
Lập bảng so sánh thái độ và hành động giữa nhân dân và triều đình trong
cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược(1858-1884)
+ Lập bảng ( Giáo viên cho học sinh về tự lập bảng ở nhà)
Thái độ

Hành động

Nhân
dân

Kiên quyết chống xâm lược ngay
từ khi Pháp nổ súng xâm lược
nước ta
Kiên quyết chống trả khi địch tấn
công Gia Đình và các tỉnh Nam
Bộ




GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

A. Hoang mang, dao động.

B. Sợ mất quyền lợi giai cấp.

C. Sợ mất quyền lợi dân tộc.

D. Lực lượng của Pháp quá mạnh.

Câu 2: Thái độ của nhân dân ta ngay từ khi Pháp đặt chân xâm lược nước ta:
A. Sợ Pháp, không muốn kháng chiến chống Pháp
B. Ủng hộ Triều đình kí các hiệp ước cầu hòa Pháp
C. Kiên quyết chống Pháp ngay từ đầu
D. Ngả về Pháp, chống lại triều đình.
Câu 3: Sau khi kí các hiệp ước với Pháp, thái độ của triều đình Nguyễn với
phong trào kháng chiến của nhân dân:
A. Đàn áp phong trào kháng chiến của nhân dân.
B. Sát cánh cùng nhân dân chống Pháp
C. Bí mật ủng hộ các phong trào chống Pháp của nhân dân
D. Bắt tay với Pháp để tiêu diệt phong trào kháng chiến của nhân dân
Trên đây là hai bài mẫu trong chương trình Lịch sử Việt Nam- SGK 11 mà
tôi nghiên cứu ứng dụng phương pháp lập bảng biểu hệ thống hóa kiến thức
nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, chủ động và nâng cao chất lượng
làm bài tập trắc nghiệm môn Lịch sử.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục đối với

- Kết quả từ phiếu thăm dò mức độ say mê và chủ động của học sinh đối
với môn học Lịch sử ( Theo thăm dò trên toàn học sinh khối 11 học sinh, số
lượng 280 học sinh)
+ Học kì I năm học 2016-2017 ( trước khi nghiên cứu và ứng dụng)
Thông tin

Số
lượng Tỉ lệ (%)
(học sinh)

Số học sinh tự nhận yêu thích môn Lịch sử

96

34,3

Số học sinh đọc sách giáo khoa Lịch sử trước 47
khi đến lớp

16,8

Số học sinh thường xuyên thuộc bài cũ trước 80
khi đến lớp

28,6

Số học sinh chủ động làm bài tập Lịch sử ở nhà

12,5


36,4

Số học sinh chủ động làm bài tập Lịch sử ở nhà

69,3

194

Số học sinh đọc tài liệu tham khảo Lịch sử 65
(ngoài sách giáo khoa)

23,2

17


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

Bảng 2: bảng khảo sát mức độ say mê và chủ động của học sinh đối với
môn học Lịch sử ( Tháng 5 năm 2017)
Như vậy, từ kết quả bảng 1 và bảng 2 ta thấy có sự chuyển biến rõ rệt trong
thái độ học tập của các em. Các em đã thay đổi một số thói quen cần thiết như:
đọc sách giáo khoa trước khi đến lớp, làm bài tập ở nhà, tự tìm đọc các tài liệu,
tư liệu lịch sử…
- Kết quả điểm sau những bài kiểm tra ( Hình thức thi trắc nghiệm)
+ Bài kiểm tra học kì I năm học 2016-2017 ( trước khi áp dụng)
Tổng số học Giỏi
sinh khối 11

Kém
%

SL

11,1 0

%
0

Bảng 3: kết quả bài kiểm tra học kì I của học sinh khối 11 năm học 2016-2017
+ Bài kiểm tra học kì II năm học 2016-2017 (sau khi ứng dụng)
Tổng số học Giỏi
sinh khối 11
SL %

Khá
SL

%

280 ( 100%)

168

60,3 79

19

6,8

và chiếm tỉ lệ cao so với học kì trước. Chúng ta thấy sự thay đổi rõ rệt khi chất
lượng làm bài kiểm tra của học sinh được nâng lên.
Kết quả đạt được trong nghiên cứu và giảng dạy là cơ sở để tôi chia sẻ kinh
nghiệm đối với đồng nghiệp, đặc biệt cũng là những đổi mới đầu tiên và cần
thiết với thời điểm Bộ Giáo dục đã thay đổi hình thức thi trắc nghiệm. Đề tài đã
được đồng nghiệp đánh giá cao và ghi nhận sẽ áp dụng vào các năm học tiếp
theo. Đó cũng là động lực để tôi tiếp tục nghiên cứu và mở rộng phạm vi, đối
tượng nghiên cứu của đề tài.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Việc học tập Lịch sử cũng như học tập bất cứ bộ môn nào ở nhà trường
đều nhằm cung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học,
phẩm chất đạo đức, chính trị cho học sinh. Nắm vững kiến thức lịch sử là là tiền
đề để hiểu đúng hiện thực lịch sử một cách khoa học, biết rút từ quá khứ những
bài học kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai. Để làm được điều đó, việc trước
18


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

tiên là phải nhớ chính xác sự kiện lịch sử. Áp dụng phương pháp bảng biểu
trong dạy học Lịch sử một lựa chọn đúng đắn và khoa học cho mỗi giáo viên.
Đặc biệt với hình thức thi trắc nghiệm khánh quan, phương pháp này càng mang
lại nhiều hiệu quả cao. Trong quá trình dạy học, đối với mỗi thể loại kiến thức,
nếu giáo viên biết tìm ra những cơ sở lý thuyết, biết phát huy và sáng tạo cái
mới và hướng dẫn học sinh vận dụng một cách hợp lý vào việc học thì sẽ tạo
được điều kiện để học sinh củng cố và hiểu sâu kiến thức. Qua đó khơi dậy tinh
thần ham học hỏi, ham tìm hiểu những biến cố lịch sử, những nhân vật lịch sử,


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

+Tự giác hoàn thành các bài tập mà giáo viên cho về nhà, tìm đọc sách báo,
truyện về lịch sử, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng những
gương người tốt việc tốt…để bổ sung kiến thức vào bài học.
Mặc dù đã có sự đầu tư kĩ lưỡng nhưng bài viết chắc không tránh khỏi
những thiếu sót, tôi rất mong các bạn đồng nghiệp bổ sung góp ý để bài viết
được hoàn thiện hơn, cũng như ứng dụng vào việc dạy học cho học sinh lớp
mình giảng dạy, đem lại cho học sinh những bài giảng hay hơn, cuốn hút hơn.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh Hóa, ngày 20/ 05/ 2017
ĐƠN VỊ
Tôi xin cam đoan đây là sang kiến
kinh nghiệm của mình viết, không sao
chép nội dung của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Phương

20


GV: Nguyễn Thị Phương

Sáng kiến kinh nghiệm

IV.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 hiện hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status