SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THCS&THPT THỐNG NHẤT
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC BÀI SÓNG
(TIẾT 37, NGỮ VĂN 12) NHẰM PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC HỌC SINH
Người thực hiện: Lê Văn Thắng
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc môn: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2017
1
MỤC LỤC
Nội dung
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.3. Thiết kế bài học Sóng theo hình thức tổ chức hoạt động học nhằm phát
Trang
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy học từ phổ thông đến Đại học
đang là vấn đề bức thiết của nhà trường và xã hội. Nghị quyết số 29- NQ/TW
của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 8, khóa XI
“về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định mục tiêu tổng quát của giáo dục
và đào tạo là: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả
giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát
triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá
nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu
quả” [1]. Đồng thời Nghị quyết cũng xác định mục tiêu cụ thể: “Đối với giáo
dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,
năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo
dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và
kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn” [1].
Trong sự phát triển của nhà trường, vấn đề “đổi mới phương pháp dạy học
luôn được đặt ra và được ý thức như một yêu cầu tự nhiên, bức thiết, một động
lực của sự phát triển, một yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng đào tạo con
người” [8]. Những năm đầu thế kỉ XXI, khi thành tựu to lớn của cuộc cách mạng
khoa học– công nghệ tác động mạnh mẽ đến của cuộc sống con người, khi hệ
thống giáo dục đang ngày càng phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao của xã hội thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát
triển năng lực của người học lại được đặt ra một cách cấp thiết. Năng lực là khả
năng làm chủ và vận dụng hợp lí các kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và
hứng thú để hành động một cách hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc
sống. Năng lực gồm năng lực chung như: Hợp tác (cùng tìm hiểu, cắt nghĩa, thảo
2. Giúp học sinh nâng cao hứng thú học tập môn Ngữ văn và phát triển
năng lực.
3. Giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống
trong thực tiễn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
- Lí thuyết về dạy học định hướng phát triển năng lực, kĩ thuật tổ chức
hoạt động học.
- Thiết kế bài dạy Sóng theo hướng tổ chức hoạt động học.
- Biện pháp tổ chức hoạt động học khi dạy bài Sóng.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Tổ chức hoạt động học bài “Sóng” (Tiết 37, Ngữ văn
12) nhằm phát triển năng lực học sinh tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp nghiên cứu lí thuyết, Phương pháp so sánh, đối
chiếu, Phương pháp liên ngành. Những phương pháp đó không phải được sử dụng
một cách độc lập, mà trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng phối
hợp các phương pháp nghiên cứu để có thể đạt được hiệu quả cao nhất. Việc sử
dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khi thực hiện đề tài này giúp người
nghiên cứu có cái nhìn hệ thống về đối tượng nghiên cứu để từ đó đánh giá khách
quan, khoa học.
4
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số vấn đề chung về tổ chức hoạt động học của học sinh
Khác với dạy học định hướng nội dung, dạy học theo định hướng năng lực là
tổ chức cho học sinh hoạt động học. Trong quá trình dạy học, học sinh là chủ thể
nhận thức, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, hỗ trợ hoạt động học tập của học
sinh một cách hợp lí sao cho học sinh tự chiếm lĩnh, xây dựng tri thức. Quá trình
là đúng hay sai? Với câu hỏi này, học sinh có thể bộc lộ quan điểm nhưng giáo
viên không chốt kiến thức mà chỉ định hướng cho học sinh thấy được rằng,
muốn trả lời được câu hỏi này, cần phải giải quyết từng vấn đề khi tìm hiểu nội
dung bài học, tức là bước hình thành, kiến tạo tri thức mới.
Hình thành, kiến tạo tri thức mới. Trong quá trình tổ chức dạy học, giáo
viên chuyển giao nhiệm vụ cho học sinh, để học sinh hoạt động, thành thục thao
tác, tránh cảm giác nhàm chán. Trong quá trình hình thành tri thức mới, học sinh
5
phải thực hiện các nhiệm vụ học tập. Đó là (giáo viên) giao – (học sinh) nhận và
thực hiện các nhiệm vụ học tập; làm việc với tư liệu học tập; tạo ra sản phẩm, báo
cáo kết quả; phản biện, bổ sung lẫn nhau; giáo viên chốt kiến thức hoặc định hướng
tiếp nhận. Trong bước này, mỗi nhiệm vụ học tập đều phải rõ ràng để học sinh biết
mình phải làm gì, làm như thế nào, sử dụng tư liệu học tập nào, sản phẩm là gì và
báo cáo dưới hình thức nào. Với mỗi nhiệm vụ học tập, giáo viên phải lường trước
tình huống có thể xảy ra, quan sát và hỗ trợ học sinh khi cần thiết.
Luyện tập, củng cố kiến thức, kĩ năng. Học sinh vận dụng những kiến
thức, kĩ năng vừa học được để giải quyết nhiệm vụ học tập tương tự. Thông qua
đó, giáo viên củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng cho học sinh. Chẳng hạn, sau
khi học xong một tác phẩm văn học, học sinh sẽ được luyện tập, củng cố những
kiến thức về chính tác phẩm ấy. Các nhiệm vụ học tập được sắp xếp theo cấp độ
từ dễ đến khó, từ nhận diện thông tin, tái hiện kiến thức đến giải thích, cắt nghĩa
các nội dung kiến thức theo quan điểm cá nhân. Tùy đối tượng học sinh, giáo
viên có thể giao những nhiệm vụ đảm bảo vừa sức giúp học sinh thuần thục kĩ
năng, hiểu sâu hơn về những tri thức vừa chiếm lĩnh. Mặt khác cũng cần thiết kế
những bài tập nâng cao nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh và chuẩn
bị cho các bước tiếp theo của bài học.
Vận dụng kiến thức đã học vào tình huống cụ thể. Học sinh sử dụng kiến
thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế. Điều này
của bài tập được giải đáp kịp thời; thời gian làm bài tập phải phù hợp với khả năng
làm việc của học sinh và yêu cầu của bài tập. Khi quan sát, nếu thấy một hoặc một
số thành viên trong nhóm có biểu hiện khó khăn khi tiếp nhận nhiệm vụ, giáo viên
cần hướng dẫn những thành viên đã hiểu giải thích, hỗ trợ. Nếu một trong số các
nhóm đã hoàn thành trước, có thể đề nghị thành viên trong nhóm hỗ trợ các nhóm
khác hoặc giao thêm nhiệm vụ cho nhóm.
Báo cáo kết quả và thảo luận. Khi các nhóm đã hoàn thành nhiệm vụ,
giáo viên hoặc một học sinh được giao nhiệm vụ tổ chức thảo luận chỉ định các
nhóm báo cáo kết quả. Trong thảo luận nhóm phải tránh tình trạng một cá nhân
trình bày ý kiến của riêng mình (chứ không phải ý kiến cả nhóm). Để phát huy
tiềm năng cá nhân, giáo viên có thể cho học sinh bổ sung ý kiến cá nhân sau khi
đã trình bày kết quả thảo luận của cả nhóm. Tiếp đó dành một khoảng thời gian
cho các nhóm nhận xét, trao đổi, phản biện. Thông qua đó, góp phần hình thành
cho học sinh những kĩ năng phản biện và tư duy phản biện.
Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. Sau khi các nhóm đã trình
bày xong kết quả, giáo viên nhận xét, chốt kiến thức và mở ra những hướng suy
nghĩ tiếp theo đối với học sinh. Trong trường hợp, với những nhiệm vụ học tập
mang tính mở, các ý kiến có thể không giống nhau. Khi ấy vai trò giáo viên là
định hướng cho học sinh suy nghĩ và nhìn nhận đánh giá vấn đề từ nhiều góc độ.
Thậm chí, có thể hướng dẫn, đề nghị học sinh thử suy nghĩ và lập luận về vấn đề
từ quan điểm đối lập với mình. Trên cơ sở đó, gợi mở cho học sinh những ý tưởng
mới trong việc tiếp nhận kiến thức.
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học nói
chung và dạy học Ngữ văn nói riêng trong nhà trường phổ thông đã được
chứng minh trong thực tiễn thời gian qua. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang
thực hiện nhiều giải pháp tích cực để nâng cao chất lượng, mà khâu then chốt
là không ngừng đổi mới phương pháp dạy học. Xét một cách tổng thể, “nhiều
vấn đề về lí thuyết dạy học đã được phổ biến, rút kinh nghiệm, song đôi lúc
chưa phù hợp ở một số địa phương” [8]. Mối quan tâm đối với những người
cảm, tâm trạng và vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.
- Hiểu được những đặc sắc nghệ thuật của bài thơ: kết cấu, xây dựng hình
ảnh, nhịp điệu, ngôn từ ...
b. Về kĩ năng: đọc hiểu bài thơ trữ tình theo đặc trưng thể loại.
c. Về thái độ: có những nhận thức đúng về tình yêu, về những khát vọng
hạnh phúc chân chính.
d. Định hướng hình thành năng lực
- Năng lực chung: Năng lực tư duy, năng lực giao tiếp;
- Năng lực đặc thù môn học: Năng lực phân tích các hiện tượng, tác giả,
tác phẩm văn học; năng lực đánh giá, so sánh.
2.3.2. CHUẨN BỊ
Giáo viên: Máy chiếu. Video ngâm bài Thuyền và biển, tài liệu tham
khảo (tư liệu về nhà thơ Xuân Quỳnh, tập thơ Hoa dọc chiến hào)
HS: Sách giáo khoa, bài soạn, tư liệu về bài thơ Sóng và nhà thơ
Xuân Quỳnh.
2.3.3. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Hoạt động 1: Hoạt động tạo tình huống xuất phát (5 phút)
a. Mục tiêu
- Tạo cho học sinh tâm lý tiếp nhận chủ động, tích cực qua việc làm quen
với thơ Xuân Quỳnh- tập thơ Hoa dọc chiến hào.
- Từ việc làm quen với thơ Xuân Quỳnh, học sinh thấy được những điều
đã biết, chưa biết về thơ Xuân Quỳnh, nhất là ở mảng thơ tình và có nhu cầu
tìm hiểu về bài thơ Sóng.
b. Phương pháp/kĩ thuật
- Phương pháp: Thuyết trình, nêu vấn đề
- Kĩ thuật dạy học: Kĩ thuật đặt câu hỏi
c. Hình thức tổ chức hoạt động
8
Hướng dẫn HS tìm hiểu phần I. Tiểu dẫn
tiểu dẫn
1. Tác giả
1. Mục tiêu: Học sinh hiểu được - Xuân Quỳnh (1942 - 1988) ở Hà Tây
vị trí và đặc điểm thơ Xuân Quỳnh trong một gia đình công chức. Ở Xuân
2. Phương pháp/Kĩ thuật
Quỳnh, khát vọng sống, khát vọng tình
- Phương pháp: So sánh, nêu vấn yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn với
đề.
cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ,
- Kĩ thuật dạy học: Kĩ thuật đặt những dự cảm bất trắc.
câu hỏi
- Xuân Quỳnh tiêu biểu cho lớp nhà thơ
3. Hình thức tổ chức hoạt động
trẻ thời chống Mỹ, cũng là gương mặt
Học sinh làm việc cá nhân
nhà thơ nữ đáng chú ý của nền thơ ca Việt
4. Phương tiện dạy học
Nam hiện đại.
- Máy chiếu
- Các tác phẩm tiêu biểu: Hoa dọc chiến
Nhiệm vụ 1
hào, Gió lào cát trắng, Hoa cỏ may, Bầu
Bước 1. Giao nhiệm vụ: Dựa vào trời trong quả trứng...
9
tiểu dẫn ở SGK, em hãy nêu
những hiểu biết của mình về Xuân - Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một
Quỳnh?Phát biểu vị trí và đặc tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn
tác tại vùng biển Diêm Điềm- Thái
Bình, được in trong tập thơ Hoa
dọc chiến hào (1968), ra đời trong
hoàn cảnh đó bài thơ có ý nghĩa
như thế nào?
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
- Giáo viên: Yêu cầu học sinh làm
việc cá nhân, trao đổi cặp và phát
biểu
- Học sinh: Làm việc cá nhân, trao
đổi cặp
Bước 3. Thảo luận, trao đổi, báo
cáo
Sau khi làm việc độc lập, viết ra
giấy nháp, trao đổi cặp và phát
biểu trước lớp
Bước 4. Phương án kiểm tra,
đánh giá
10
- Giáo viên đánh giá qua phần
trình bày của học sinh (làm việc
của học sinh, cách trình bày)
- Học sinh đánh giá từ phần trình
bày của bạn trong lớp và bổ sung
ý kiến
GV chốt vấn đề đặt ra trong
nhiệm vụ 2
Hướng dẫn HS đọc- hiểu văn
đánh giá
- Giáo viên đánh giá qua phần
trình bày của học sinh
- Học sinh đánh giá từ phần trình
II. Đọc– hiểu văn bản
1. Hình tượng sóng
- Bao trùm và xuyên suốt toàn bộ bài thơ.
+ Nghĩa thực: con sóng với nhiều trạng
thái mâu thuẫn trái ngược nhau.
+ Nghĩa biểu tượng: sóng như có hồn, có
tính cách, tâm trạng, biết diễn tả những
cung bậc tình cảm trong tâm hồn của
người phụ nữ đang yêu.- là hình tượng ẩn
dụ, sự hoá thân của nhân vật trữ tình
“em”
- Sóng và em: song hành, khi tách rời, khi
hoà nhập- nét độc đáo trong cấu trúc hình
tượng, diễn tả sâu sắc, sinh động, mãnh
liệt khát vọng của Xuân Quỳnh.
11
bày của bạn trong lớp và bổ sung
ý kiến
GV chốt vấn đề đặt ra trong
nhiệm vụ 1
Sóng và vẻ đẹp tâm hồn người
phụ nữ đang yêu.
phụ nữ đang yêu.
* Niềm khao khát một tình yêu lớn
- Khổ 1:
+ Tiểu đối: dữ dội - dịu êm; ồn ào - lặng
lẽ - mở đầu bằng 4 tính từ: miêu tả trạng
thái đối lập của sóng và liên tưởng đến
tâm lí phức tạp của người phụ nữ khi yêu
(khi sôi nổi, mãnh liệt khi dịu dàng, sâu
lắng).
+ Phép nhân hoá:
“Sông - không hiểu mình”
“Sóng - tìm ra bể”
- Con sóng mang khát vọng lớn lao:
“Sông không hiểu nổi mình” thì sóng dứt
khoát từ bỏ nơi chật hẹp để “tìm ra tận
bể”, tìm đến không gian rộng lớn, mênh
mông.
=> Hành trình “tìm ra tận bể” của sóng
cũng chính là quá trình tự khám phá, tự
nhận thức, chính bản thân, khát khao sự
đồng cảm, đồng điệu trong tình yêu..
- Khổ 2:
+ Quy luật của sóng:
Sóng- ngày xưa, ngày sau: vẫn thế - sự
trường tồn của sóng trước thời gian vẫn
dạt dào, sôi nổi.
+ Quy luật của tình cảm:
“Khát vọng tình yêu”, “ bồi hồi trong
ngực trẻ”
+ Biện pháp tu từ ẩn dụ “ ngực trẻ”- sức
là gì?
chân thành , trực cảm và đầy nữ tính.
- Nỗi nhớ của nữ sĩ Xuân Quỳnh
được thể hiện như thế nào ? Biện * Nỗi nhớ, lòng thủy chung và niềm tin
pháp tu từ được sử dụng để tác
trong tình yêu
giả thể hiện nỗi nhớ?
- Khổ 5: Nỗi nhớ
+ Bao trùm cả không gian: “sóng dưới
lòng sâu”, “sóng trên mặt nước”
+ Thao thức trong mọi thời gian: “ Ngày
đêm không ngủ được”
=> Phép đối, giọng thơ dào dạt, náo nức,
mãnh liệt, diễn tả nỗi nhớ da diết, không
thể nào nguôi, cứ cuồn cuộn, dào dạt như
sóng biển triền miên.
+ Sóng nhớ bờ mãnh liệt, tha thiết, còn
em nhớ anh đắm say hơn bội phần :
“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
=> Cách nói cường điệu nhưng hợp lí
- Nỗi nhớ trong tình yêu là cảm nhằm tô đậm nỗi nhớ: không chỉ trong ý
xúc tự nhiên của con người, đã thức mà thấm sâu vào trong tiềm thức.
được miêu tả rất nhiều trong ca => Bày tỏ tình yêu một cách chân thành,
dao, trong thơ ca xưa và nay. Em tha thiết mà mạnh dạn, mãnh liệt.
hãy đọc một số bài ca dao, bài thơ
biểu hiện nỗi nhớ trong tình yêu?
( HS lấy ví dụ)
- Tình yêu của Xuân Quỳnh không - Khổ 6: Lòng chung thuỷ
chỉ gắn liền với nỗi nhớ mà còn + Cách nói khẳng định : “Dẫu xuôi về
cũng nghĩ ” , “ hướng về anh” → Lời thề
thủy chung tuyệt đối trong tình yêu : dù
đi đâu về đâu vẫn hướng về người mình
đang thương nhớ đợi chờ.
+ Xuân Quỳnh đã nói ngược với cách nói
của mọi người và tạo thêm một phương
mới: “phương anh”. Cái nghịch lý trên
chỉ là bên ngoài, ẩn bên trong là cái hợp
lý của quy luật tâm lý người đang yêu.
Hướng về anh một phương- phương của
tình yêu thủy chung.
- Khổ 7: Niềm tin tưởng
+ Mượn hình ảnh của sóng : “Ở ngoài kia
đại dương” , “Con nào chẳng tới bờ” =>
quy luật tất yếu.
+ Sóng tới bờ dù cách trở. Tình yêu là sức
mạnh giúp em và anh vượt qua gian lao,
thử thách để đạt đến bến bờ hạnh phúc.
=> XQ thể hiện cái tôi của một con người
luôn có niềm tin mãnh liệt vào tình yêu.
* Những trăn trở lo âu và khát khao
tình yêu vĩnh cửu
- Khổ 8
+ Khổ thơ có hai cách hiểu: một là, sự
khẳng định sức mạnh của tình yêu; hai là,
dự cảm lo âu trước cái mong manh, hữu
hạn của tình yêu
+ Cả hai cách hiểu đều có lý, đều chấp
nhận được.
4. Phương tiện dạy học
- Máy chiếu
Nhiệm vụ
Bước 1. Giao nhiệm vụ
- Em cảm nhận được vẻ đẹp gì
trong tâm hồn của nhà thơ qua bài
thơ Sóng?
- Đánh giá về nghệ thuật của bài
thơ? Nhận xét về thể thơ, nhịp thơ
và hình tượng “sóng” ?
- Các yếu tố ấy có hiệu quả gì
trong việc thể hiện nội dung, cảm
xúc của bài thơ ?
Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ
- Giáo viên: Yêu cầu học sinh làm
việc cá nhân, trao đổi cặp và phát
biểu
- Học sinh: Làm việc cá nhân, trao
đổi cặp
Bước 3. Thảo luận, trao đổi, báo
cáo
Sau khi làm việc độc lập, viết ra
giấy nháp, học sinh phát biểu
trước lớp
Bước 4. Phương án kiểm tra,
đánh giá
- Giáo viên đánh giá qua phần
trình bày của học sinh
- Học sinh đánh giá từ phần trình
bày của bạn trong lớp và bổ sung
em . Hãy nhận xét về ý nghĩa và hiệu quả của cách kết cấu ấy.
- Soạn bài: Luyện tập vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt trong
bài văn nghị luận.
2.4. Hiệu quả tổ chức hoạt động học bài học Sóng nhằm định hướng phát triển
năng lực học sinh
Thông qua hoạt động học, học sinh có dịp được bộc lộ cảm nhận, trau dồi
khả năng giao tiếp. Đồng thời giáo viên cũng có cơ hội để nắm được trình độ
tiếp nhận của học sinh với những mặt mạnh, mặt yếu cần điều chỉnh, biểu
dương, phát huy. Không khí giờ học thực sự dân chủ.
Trong mấy năm gần đây khi tổ chức cho học sinh lớp12 của Trường
THCS&THPT Thống Nhất học tập theo thiết kế bài học trên, bản thân tôi thấy
rất có hiệu quả, có những phản hồi tích cực từ học sinh và đồng nghiệp. Nhiều
học sinh đã thực sự trưởng thành khi được hoạt động qua các hoạt động học tập,
không còn thụ động mà đủ tự tin tham gia tranh luận, thảo, phản biện. Học sinh
có những thay đổi nhất định trong nhận thức, hành vi ứng xử, hình thành những
kỹ năng mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm... Sự chuyển biến
của học sinh cần có quá trình lâu dài, nhưng để quá trình đó diễn ra thuận chiều
thì đây là thực tế khả quan.
Tổ chức hoạt động học khi dạy bài Sóng nhằm phát triển năng lực học sinh
có ý nghĩa thực tiễn cao. Điều đó được biểu hiện trước hết ở ý thức tham gia và
hiệu quả đạt được bằng những sản phẩm cụ thể. Các em học sinh đã có ý thức học
tập tích cực bằng việc chủ động tham gia giờ học, say mê tìm kiếm những tri thức
có liên quan đến bài học, vận dụng vào cuộc sống. Nhìn vào thái độ học tập của
học sinh, rõ ràng các em không phải không thích học văn mà do chúng ta chưa tìm
đúng phương pháp dạy học phù hợp, tối ưu.
Tổ chức hoạt động học khi dạy bài Sóng nhằm phát triển năng lực học sinh
giúp giáo viên nâng cao ý thức sử dụng có hiệu quả các phương tiện và thiết bị
dạy học, dự kiến các tình huống dạy học và phương án giải quyết, sử dụng công
nghệ thông tin. Giáo viên có điều kiện khai thác hệ thống kênh hình trên mạng
Internet, biên tập thành hệ thống kênh hình dạy học có hiệu quả, đó cũng là một
bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”. Như thế, có thể thấy cách làm của chúng tôi,
một mặt đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới nội dung phương pháp dạy học, mặt khác
còn là cách làm kết hợp hài hoà nhiều yếu tố của quá trình giáo dục.
3.2. Kiến nghị
3.2.1. Đối với giáo viên và học sinh
a. Đối với giáo viên
Tổ chức hoạt động học khi dạy bài Sóng nhằm phát triển năng lực học sinh
đòi hỏi giáo viên phải nắm được diễn biến tình cảm học sinh qua sự tự bộc lộ của
chính các em thông qua những biện pháp sư phạm có tính toán, có sắp đặt rất công
phu của giáo viên. Giáo viên phải nắm được những câu hỏi, những tình huống có
vấn đề từ tác phẩm, từ tầm đón nhận của học sinh, theo dự báo, theo điều tra của
giáo viên để cho học sinh trao đổi, thảo luận…
Giáo viên phải vững vàng về chuyên môn- nghiệp vụ. Có khả năng tổng hợp
những vấn đề mới, hợp với chủ đề thảo luận sẽ tạo được hứng thú và xúc cảm cho
học sinh. Chuẩn bị tốt về tư liệu, thiết bị dạy học để chủ động tổ chức hoạt động
học. Hơn nữa, trong quá trình tổ chức hoạt động học sẽ có những tình huống ngoài
17
dự liệu xảy ra. Khi đó, nếu không chuẩn bị tốt, thầy cô lúng túng thì coi như giờ
dạy không thành.
Xác định và giao nhiệm vụ cho học sinh một cách cụ thể và rõ ràng. Mỗi
nhiệm vụ phải đảm bảo cho học sinh hiểu rõ: mục đích, nội dung, cách thức
hoạt động và sản phẩm học tập phải hoàn thành. Quan sát, phát hiện những khó
khăn mà học sinh gặp phải; hỗ trợ kịp thời cho từng học sinh và cả nhóm. Khi
giúp đỡ học sinh, cần gợi mở để học sinh tự lực hoàn thành nhiệm vụ; khuyến
khích để học sinh hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong việc giải quyết nhiệm vụ học
tập; giao thêm nhiệm vụ cho những học sinh hoàn thành trước. Hướng dẫn việc
Lê Văn Thắng
18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, www.thuvienphapluat.vn
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2016), Tài liệu tập huấn Đổi mới tổ chức và quản lý
hoạt động giáo dục ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Tài liệu tập huấn cán bộ quản lí và giáo viên
trung học phổ thông về đổi mới phương pháp dạy học, kĩ thuật xây dựng ma trận
đề và biên soạn câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn.
4. Hoàng Dục (2008), Chuyên đề dạy học Ngữ văn- Sóng, NXB Giáo dục
5. Phan Trọng Luận (Chủ biên, 2010), Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học
Quốc gia Hà Nôi.
6. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên, 2010), Ngữ văn 12, NXB Giáo dục Việt Nam.
7. Phan Trọng Luận (Chủ biên, 2000), Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà
trường phổ thông, tập 1, NXB Giáo dục.
8. Lê Văn Thắng, Giáo viên Trường THCS&THPT Thống Nhất, Thanh Hóa“Tổ chức hoạt động dạy học chủ đề tự chọn văn học dân gian Thanh Hóa cho
học sinh lớp 10 Trường THCS&THPT Thống Nhất theo hướng phát triển năng
lực”- SKKN năm học 2015- 2016.
19
DANH MỤC
chương trình Ngữ văn THPT theo
hướng phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh
Tổ chức hoạt động dạy học chủ đề
tự chọn văn học dân gian Thanh
Hóa cho học sinh lớp 10 Trường
THCS&THPT Thống Nhất theo
hướng phát triển năng lực
Cấp đánh
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B,
hoặc C)
Năm học
đánh giá
xếp loại
Sở GD&ĐT
Thanh Hóa
B
2004- 2005
Thanh Hóa
B
2015- 2016
20