luận văn thạc sĩ triết học mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả trong công tác đoàn hiện nay - Pdf 43

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TNCS

:

Thanh niên Cộng sản.

ĐVTN

:

Đoàn viên thanh niên.

TNTP

:

Thiếu niên tiền phong.

TN

:

Thanh niên.

LHTN

:

Liên hiệp thanh niên.

niên trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đã, đang và sẽ góp phần thúc
đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội nói chung.
Đổi mới nội dung hoạt động phong trào Đoàn là một công việc quan
trọng trong công cuộc đổi mới toàn diện mọi mặt của đời sống xã hội do Đảng
ta khởi xướng. Thực tiễn trong những năm qua, phong trào Đoàn ở Việt Nam
nói chung và Quảng Nam nói riêng đã và đang đạt được những kết quả rất


2
đáng tự hào. Qua đó mang lại cho thế hệ trẻ một niềm tin vào tương lai, vào
công cuộc đổi mới đất nước trong tình hình mới qua đó tạo nguồn nhân lực
quan trọng cho sự phát triển kinh tế tỉnh nhà. Trong thời gian tới sự nghiệp
đổi mới đất nước sẽ được phát triển với tốc độ cao hơn và toàn diện hơn.
Theo tinh thần đó, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần phải có sự đánh giá, tổng
kết và đề ra kế hoạch, biện pháp cho riêng mình trong giai đoạn mới. Cũng
giống như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội để đạt được những kết quả
tốt, Đoàn cần phải quán triệt một cách toàn diện và sâu sắc cơ sở lí luận chung
và sự vận dụng phù hợp hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương. Phạm trù
nguyên nhân- kết quả trong triết học Mác là cơ sở để tìm ra các nguyên nhân
chủ yếu có ảnh hưởng đến công tác Đoàn, đồng thời phân tích nó để tìm ra
những hạn chế, tồn tại trong phong trào nhằm rút ra các giải pháp để thúc đẩy
phong trào Đoàn phát triển hơn nữa trong thời gian đến.
Là một tỉnh vừa mới tách ra từ Quảng Nam- Đà Nẵng cũ, trong những
năm qua, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Quảng Nam đã vượt qua nhiều khó
khăn, thử thách cùng với các ngành, lĩnh vực khác đóng góp quan trọng cho sự
phát triển của Tỉnh nhà. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, nhìn
chung hiện nay trong công tác Đoàn thanh niên vẫn còn nhiều bất cập trên
nhiều phương diện cả về mặt tổ chức, cả về mặt con người. Điều này thể hiện ở
mối quan hệ giữa đoàn viên với tổ chức có nơi, có lúc chưa thật chặt chẽ, tính
tiên phong gương mẫu của một số cán bộ đoàn chưa cao, sự nhiệt huyết của

Mác-Lênin, Lê Doãn Tá (2000), Khái lược triết học trước Mác, Nxb Chính trị
Quốc gia Hà Nội; Bộ Giáo Dục và Đào tạo (2002), Giáo trình triết học MácLênin, NXGD; Đặng Hữu Toàn (2002), Chủ nghĩa Mác-Lênin và công cuộc
đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Bộ Giáo Dục và Đào tạo
(2004), Giáo trình triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội;
Hoàng Mỹ Hạnh (2004),“Bản chất nhận thức và vai trò của nó trong việc sáng


4
tạo khái niệm, phạm trù”, Tạp chí triết học, Số 9; Lê Văn Giạng (2004), Tìm
hiểu sự phát triển của triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử cuối thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Tiến Dũng
(2006), Lịch sử triết học phương Tây, Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Gia
Hiền (2006), Triết học từ giác độ duy vật biện chứng, Nxb Chính trị Quốc gia
Hà Nội; Lê Hữu Nghĩa (2006), Những chuyên đề triết học, Nxb Khoa học xã
hội Hà Nội; Nguyễn Hữu Vui (2006), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc
gia Hà Nội; Phạm Văn Chung (2007), “Phạm trù vật chất của Chủ nghĩa duy
vật biện chứng trong “chủ nghĩa duy vật” và “chủ nghĩa kinh nghiệm phê
phán”, Tạp chí Triết học, Số 7.
Các tài liệu về công tác Đoàn nói chung:
Văn kiện Đảng về công tác Thanh niên (1975), Nxb Thanh niên; Hồi kí
về Đoàn (1975), Nxb Thanh niên giải phóng; Trần Bạch Đằng (1976), Hãy tin
cậy chúng tôi, Nxb Thanh niên giải phóng; Truyền thống đấu tranh cách
mạng vẻ vang của Đoàn (1976), Nxb Thanh niên; Crupxcaia (1979), Bàn về
cán bộ phụ trách thiếu nhi và công tác thiếu nhi, Nxb Thanh niên; Đỗ Mười
(1997), Thanh niên cần nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, chí lớn, quyết tâm
chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, sánh vai cùng thanh niên thế giới, Nxb
Thanh niên; Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh (1999), 5
bài học lí luận chính trị cho đoàn viên Thanh niên, Nxb Thanh niên; Dương
Tự Đam (2002), Định hướng giá trị cho thanh niên sinh viên trong thời kỳ
CNH HĐH đất nước, Nxb Thanh niên; Đoàn Văn Thái (2002), Nhiệm vụ của

Nam thì lý thuyết về nhân quả dạy con người lánh xa cái ác và làm các việc
lành nên tự bản thân nó mang ý nghĩa đạo đức, luân lý của đạo Phật đã đóng
góp tích cực cho giá trị đạo đức xã hội. Còn với những người chưa làm các
điều thiện thì cái khuynh hướng tránh xa cái khổ đau của con người khiến họ
tránh xa các tội ác, nếu họ tin nhân quả. Điều này cũng đóng góp vào công
cuộc loại trừ các hiện tượng xã hội xấu, tiêu cực. Trong phạm vi chuẩn mực
của lương tâm thì nhân- quả nghiêm chỉnh đặt ra vấn đề trách nhiệm cá nhân
của con người, bởi con người là chủ nhân của nghiệp, vừa là kẻ thừa tự của
nghiệp, như chính đức Phật đã dạy.
Thiện ác là hai khái niệm thường được nghe nhiều nhất khi nói về kết
quả của phạm trù nhân- quả. Thiện của Phật giáo được hiểu như là những gì
đang đem lại lợi ích cho mình và người trong hiện tại và tương lai, theo
hướng ly tham, ly sân, ly si, không ganh ghét, không đố kỵ, không gây tổn
hại. Trên căn bản thiện này, các yêu cầu xã hội như công bằng, nhân đạo, chí


9
công vô tư, liêm, chánh, kiệm, cần được phát triển tốt đẹp. Các hiện tượng
tham nhũng, trộm cắp,… sẽ bị dập tắt. Con người chịu trách nhiệm đời sống
tâm thức của mình nên tự nguyện lánh xa mọi điều xấu, chứ không phải vì sợ
hình phạt, chỉ trích, hoặc vì khen thưởng….Cơ sở triết lý ly tham, ly sân, ly si,
ly ác, ly hại ở trên vững chắc hơn cơ sở hình phạt của pháp luật, bởi vì con
người nếu muốn thoát khỏi tội lỗi có thể bằng mọi cách để pháp luật không
làm gì được họ nhưng người ta không thẻ chạy trốn lương tâm và nghiệp quả
của mình. Theo quan điểm của Phật thì tòa án pháp luật sẽ không trường cửu
và đủ sức nặng so với lương tâm trong chính bản thân mình.
- Theo quan điểm của Phật thì bản thân con người cũng là một biểu
hiện cụ thể của qui luật nhân quả trong chuỗi biến hóa của tự nhiên.
Con người, theo Phật giáo là một hợp thể của vật chất và tinh thần (năm
uẩn). Nó là kết quả của quá trình vận động nhân quả- nghiệp báo. Con người

một quả không thể chỉ có một nhân; và nhân, quả thường thì ở trong cùng một
loại mà không có sự lẫn lộn giữa các loại khác. Ví dụ như con gà chỉ có thể đẻ
ra trứng gà chứ không thể đẻ ra trứng ngông. Hay trứng gà thì chỉ có thể nở ra
con gà chứ không thể trứng gà nở ra con ngông.
Trong triết học Trung Hoa cổ đại, nhiều trường phái triết học có tư
tưởng về mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả nhưng với việc ưu tiên
cho vấn đề chính trị xã hội nên phạm trù này dường như chỉ được bàn một
cách gián tiếp, thậm chí là mờ nhạt thông qua các quan hệ xã hội. Khác với
triết học Ấn Độ, triết học Trung Hoa chủ yếu bàn về hành động của con người
sao cho phù hợp với mệnh trời, mệnh trời trong triết học Trung Hoa tựa giống
như trong triết học ở Ấn Độ là đấng sáng tạo tối cao là Brahman. Dưới cái
vòm là mệnh trời người Trung Hoa cổ bàn đến nhiều khía cạnh khác nhau,
trong đó có thể nói rằng cả một giai đoạn dài từ khi lập quốc cho đến khi kết


11
thúc chế độ phong kiến Trung Hoa, họ chủ yếu xoay quanh vấn đề đạo đức
chính trị. Nguyên nhân vì sao như vậy? và bức tranh của nền triết học này
được vẻ nên bởi rất nhiều đại biểu đại diện cho nhiều tầng lớp ở xã hội đó.
Thời kì mà được gọi là “trăm nhà trăm thầy”, điều đó nói lên rằng sự phân rã
của cấu trúc xã hội, nhà nước trung ương không còn giữ được trật tự kỉ
cương, mà thay vào đó là cuộc tranh giành sự ảnh hưởng của nhau giữa các
thế lực quí tộc, các địa phương với nhau. Người phương Tây trong giai đoạn
mới hình thành chủ yếu bàn đến các yếu tố bản thể luận, khám phá thế giới
bên ngoài, ngược lại người Trung Hoa cổ lại đặt vấn đề kỉ cương phép nước,
đạo đức gia tộc với mong mỏi mọi cái đều thanh bình, không mong có một
cách mạng làm thay đổi tự nhiên, họ chú tâm vào quan hệ khía cạnh đạo đức.
Trong lịch sử triết học Trung Hoa cổ đại còn có một đặc trưng mà có thể khác
nhiều so với triết học phương Tây đó là: nếu triết học phương Tây chỉ có giai
cấp thống trị, đại diện cho tầng lớp chủ nô mới có hệ tư tưởng của mình. Dù

thường trực hơn là làm sao cho cộng đồng tồn tại bền vững, lâu dài. Đó chỉ là
một câu giải thích cho việc việc vì sao triết học Trung Hoa cổ chủ yếu bàn
đến khía cạnh đạo đức cá nhân. Một sự khác biệt so với phương Tây.
Vấn đề khác nữa là nhà nước ở xã hội Trung Hoa cổ đại không chỉ có
một nhà nước trung ương đủ mạnh để trấn áp, thống trị một cách chặt chẽ có
hệ thống, trái lại xã hội Trung Hoa cổ đại là sự tranh giành, chia cắt sự cai trị,
phân chia sự ảnh hưởng của các thế lực làm cho xã hội trở nên phức tạp,
không kiểm soát nổi từ đó bùng phát sự đấu tranh của các bộ phận, thế lực
của từng vùng, miền làm cho vai trò của nhà nước trung ương bị lu mờ. Trong
lịch sử tồn tại của xã hội cổ Trung Hoa không có một nhà nước phong kiến
nào mà lại không đối mặt với các cuộc khởi nghĩa của nông dân hay các thế
lực quí tộc địa phương. Các cuộc đấu tranh này tất yếu dẫn đến sự phân chia
quyền lực trong xã hội và sự sụp đổ liên tục của các triều đại phong kiến. Mỗi


13
một triều đại lên nắm quyền đều chịu sự chi phối của các thế lực tạo dựng nên
do đó có thể nói rằng kiến trúc thượng tầng trong xã hội Trung Hoa cổ thường
xuyên được thay đổi liên tục tạo nên sự hỗn loạn, mỗi một đại biểu nói lên
quan điểm của giai cấp mình. Chính hoàn cảnh chi phối là nền kinh tế nông
nghiệp cộng đồng nên vấn đề mà các đại biểu nêu lên là làm sao cho xã hội
được trật tự, mong mỏi một đất nước thanh bình, xã hội không loạn lạc luôn
là nổi khắc cầu của người dân.
Vũ trụ quan, nhân sinh quan, nhận thức luận của các trường phái triết
học chủ yếu ở Trung Hoa cổ đều thấm đượm ý thức đạo đức. Chuẩn mực đạo
đức trở thành đặc điểm cốt cán của tư tưởng triết học cổ đại, vì vậy họ tranh
luận nhiều vấn đề xung quanh phạm trù thiện- ác. Họ liên hệ việc nhận thức
thế giới khách quan với việc tu thân, dưỡng tính cá nhân là cơ sở của việc
nhận thức thế giới khách quan: người tận tâm thì biết được tính mình, biết
được tính mình thì biết được tính trời. Vì vậy trong mấy ngàn năm lịch sử, các

Xpinôda đã chống lại lối giải thích tự nhiên theo mục đích luận của Arixtốt.
Nghĩa là phải giải thích giới tự nhiên từ bản thân nó, ông gạt ra khỏi giới tự
nhiên mọi mục đích và hoạt động đặt mục đích. Xpinôda cho rằng “tự nhiên
không hoạt động theo mục đích”, theo đó giới tự nhiên tồn tại và hoạt động
không phải vì mục đích nào cả mà tác động trên cơ sở tính tất yếu của bản
thân nội tại.
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, khi bàn về các hình thức vận
động của vật chất, Ăngghen có nêu lên nhận xét của mình rằng: “Công thức
của Xpinôda: thực thể là causa sui thể hiện một cách rõ rệt sự tác dụng lẫn
nhau”. Ăngghen đã nắm lấy những yếu tố biện chứng đặc sắc nhất trong học
thuyết của Xpinôda. Bởi vì theo công thức “thực thể là causa sui” (nguyên
nhân của bản thân nó) đã đi gần tới tư tưởng về sự tác động lẫn nhau phổ


16
biến, về mối liên hệ phổ biến và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các hiện tượng tự
nhiên. Chỉ có xuất phát từ vật chất như là nguyên nhân tự thân mới có thể giải
thích thế giới từ bản thân nó, mà không cần đến “cái đẩy từ bên ngoài”. Mà để
có thể trở thành nguyên nhân của bản thân mình, thì các bộ phận của vật chất
phải có sự tác động qua lại với nhau, phải có tác dụng lẫn nhau. Như vậy quan
niệm về causa sui (nguyên nhân của bản thân nó) đã giả định sự tác động qua
lại của vật chất. Thiếu sự tác động qua lại thì không thể nói gì đến nguyên
nhân bên trong, nguyên nhân tự thân của vật chất. Cho nên, việc Xpinôda
xem xét vật chất như là nguyên nhân của bản thân mình, việc ông khác với
các nhà tự nhiên thần luận, đã bác bỏ cái “thúc đẩy từ bên ngoài” như là
nguyên nhân của sự vận động vật chất đã đánh dấu một bước tiến trong sự
phát triển của thế giới quan duy vật. Thực thể của Xpinôda như là nguyên
nhân tự thân là tiền đề cần thiết để hiểu vật chất như là “tự thân vận động”, để
chống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và quan điểm tôn giáo.
Mặt khác, quan niệm của Xpinôda về causa sui (“nguyên nhân của bản

quả, nhưng tác động qua lại không phải là trường hợp riêng của sự phụ thuộc
nhân quả của các hiện tượng, mà trái lại, tính nhân quả là trường hợp riêng
của tác động qua lại, là một yếu tố trong sự tác động qua lại phổ biến. Mỗi
một quan hệ nhân quả là một vòng khâu trong sợi dây chuyền vô tận của mối
liên hệ và sự ràng buộc lẫn nhau của các hiện tượng. Lênin viết: Nguyên nhân
và kết quả, ergo, chỉ là những vòng khâu của sự phụ thuộc lẫn nhau phổ biến,
của liên hệ (phổ biến), của sự liên kết lẫn nhau của những sự biến, chỉ là
những mắt khâu trong sợi dây chuyền phát triển của vật chất.
Thực chất của nguyên tắc nhân quả là là thừa nhận sự ràng buộc nhân
quả của bất cứ hiện tượng nào và mối liên hệ tất yếu của nguyên nhân và kết
quả. Còn vấn đề tính nhân quả biểu hiện như thế nào trong từng trường hợp
cụ thể thì lại là vấn đề khác, nó tùy thuộc vào đặc tính cụ thể của đối tượng
trong lĩnh vực của nó.


18
Trong thế giới quan triết học khi nêu ra chân lí của giới tự nhiên có sự
khác nhau cơ bản giữa triết học duy vật và triết học duy tâm.
Chủ nghĩa duy tâm đã gán cho tính hợp lý của giới tự nhiên một lực
lượng siêu tự nhiên, một mục đích định sẵn. Quan điểm duy tâm trong vấn đề
này được thể hiện ở mục đích luận. Mục đích luận là học thuyết triết học duy
tâm thừa nhận tính có mục đích phổ biến của giới tự nhiên. Những người theo
mục đích luận cho rằng các sự vật, hiện tượng đều có mục đích nội tại của
mình, mục đích đó quyết định trước sự phát triển của chúng, mục đích đó về
bản chất là tinh thần, là do tinh thần quy định. Nhà mục đích luận Vônphơ
cho rằng các sự vật được tạo ra bởi để mang lại lợi ích cho con người. Đứng
trên quan điểm đó thì lá cây có màu xanh vì màu xanh có ích đối với mắt, mũi
được tạo ra để đeo kính, lợn được tạo ra để cho con người ăn….Ph. Ăng ghen
viết: “theo mục đích luận này thì mèo sinh ra để ăn chuột, chuột sinh ra để bị
mèo ăn và toàn bộ giới tự nhiên được sáng tạo để chứng minh trí tuệ của đấng

quy kết quả như là hậu quả của một quá trình tác động thì tác động đó cũng
không được gọi là nguyên nhân.
Kết quả vốn là sự xuất hiện của một sự vật hiện tượng nào đó. Như vậy,
sự xuất hiện đó chỉ được xem là kết quả nếu xem xét nó sinh ra từ những nhân
tố nào. Các nguyên nhân là sự tác động thì kết quả có thể là sự vật hiện tượng.
1.2.2 Tính chất của mối liên hệ nhân - quả
Phép biện chứng duy vật khẳng định mối liên hệ nhân quả có tính
khách quan, tính phổ biến và tính tất yếu.
Tính khách quan của mối liên hệ nhân - quả thể hiện ở chỗ, mối liên
hệ nhân - quả là cái vốn có của bản thân sự vật, nó không phụ thuộc vào ý
thức của con người. Chúng ta biết rằng, mọi sự vật trong thế giới là luôn
luôn vận động, tác động lẫn nhau, và sự tác động đó tất yếu sẽ dẫn đến một


20
sự biến đổi nhất định. Do đó có thể nói mối liên hệ nhân - quả luôn mang
tính khách quan.
Còn tính phổ biến của mối quan hệ này thì điều đầu tiên chúng ta có thể
thấy là mối liên hệ phổ biến có tính phổ biến như thế nào thì mối liên hệ nhân
quả cũng có tính phổ biến như thế. Chúng ta có thể nhận thấy mối liên hệ
nhân quả tồn tại ở khắp mọi nơi, trong cả tự nhiên, xã hội và trong cả tư duy
của con người. Không có một hiện tượng nào không có nguyên nhân, nhưng
vấn đề là ở chỗ nguyên nhân đó đã được nhận thức hay chưa mà thôi.
Tính tất yếu thể hiện ở một điểm là cùng một nguyên nhân như nhau,
trong những điều kiện giống nhau sẽ nhất định nảy sinh những kết quả như
nhau. Ta có thể lấy một ví dụ là tất cả những cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm
lược ở trong lịch sử nhân loại dù sớm hay dù muộn đều có kết thúc giống
nhau. Kẻ đi xâm lược nhất định sẽ bị thất bại. Nói riêng về quan hệ nhân quả
ở trong trường hợp này thì chúng ta sẽ thấy được sự thất bại của chiến tranh
xâm lược với tư cách là một kết quả bắt nguồn từ những tác động của những

người cán bộ Đoàn tốt thì nếu được tạo môi trường và điều kiện tốt thì sẽ
mang lại kết quả tốt. Như vậy trong quan hệ này thì người cán bộ Đoàn là
nguyên nhân của kết quả tốt đó, phong trào Đoàn là kết quả, là hình hình ảnh
của người cán bộ Đoàn. “Cây nào quả ấy” nhìn sản phẩm đoán được tính cách
con người. Người làm công tác Đoàn được hiểu theo nghĩa này.
Vấn đề thứ hai cần chú ý là sự kế tiếp nhau của nguyên nhân và kết quả
trong mối quan hệ nhân quả không có nghĩa là nguyên nhân sinh ra xong rồi
thì kết quả mới nảy sinh. Trái lại, nguyên nhân vừa tác động thì sự hình thành
của kết quả đã có thể được coi như là bắt đầu, cho đến khi kết quả hình thành
như một sự vật, hiện tượng nó vẫn còn nhận tác động của nguyên nhân, và
như vậy nó vẫn còn đang tiếp tục biến đổi do tác động của nguyên nhân.


22
Tóm lại, người ta không thể nhìn quan hệ nhân quả như là sự đứt đoạn
mà là trong sự vận động biến đổi liên tục của thế giới vật chất, của sự tác
động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng.
Việc nguyên nhân sinh ra kết quả còn có một yếu tố nữa, đó là điều
kiện. Không phải cứ có sự tác động là có ngay kết quả, phải ở trong những
điều kiện nhất định thì có thể mới có kết quả. Ví dụ, trở lại các quá trình sinh
- hóa ở trong hạt cây nảy mầm chúng ta thấy rằng, nếu một hạt tốt có đầy đủ
khả năng để sinh ra một cái mầm tốt, nhưng nếu có được độ ẩm, ánh sáng,
nhiệt độ đầy đủ thì cũng không bao giờ có cái mầm xuất hiện. Điều kiện có
vai trò rất quan trọng, làm cho nguyên nhân nào sinh ra kết quả nào. Có thể
cùng một nguyên nhân, cùng một khả năng tác động như nhau, nhưng ở trong
những điều kiện khác nhau thì nó đưa lại những hậu quả khác nhau. Ví dụ, hai
cái nhân tốt như nhau, nhưng với những điều kiện như nhiệt độ, độ ẩm, ánh
sáng khác nhau thì hai cái mầm mọc ra cũng có chất lượng khác nhau.
Vấn đề còn trở nên phức tạp hơn khi có nhiều nguyên nhân cùng tác
động một lúc, khi đó thì kết quả ra sao còn tùy thuộc ở việc mối quan hệ giữa

Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả không hoàn toàn thụ động,
nó vẫn có khả năng tác động trở lại nguyên nhân. Cần chú ý là tác động này là
hai nghĩa, cả tác động tích cực hoặc tác động tiêu cực. Ví dụ, trình độ dân trí
thấp là do nền kinh tế kém phát triển gây ra, nếu không đủ đầu tư cho việc
nâng cao dân trí của nhân dân, đầu tư giáo dục không đầy đủ. Đến lượt mình,
dân trí thấp với tư cách là kết quả lại tác động trở lại với quá trình phát triển
kinh tế và xã hội của đất nước, làm cho kinh tế kém phát triển và dân trí sẽ lại
tiếp tục thấp xuống. Ngược lại, trình độ dân trí cao vốn là kết quả của sự phát
triển xã hội cả về chính trị, kinh tế, văn hóa… làm cho nền giáo dục quốc dân
cũng phát triển đầy đủ, khi đó nó sẽ đem lại một kết quả là tầng lớp trí thức và


24
một đội ngũ lao động với trình độ cao, tay nghề vững và điều đó chắc chắn
làm cho kinh tế quốc dân càng phát triển tốt hơn.
Vấn đề tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân có một ý nghĩa
thực tiễn rất quan trọng. Nó làm cho người ta phải dự kiến rất đầy đủ những
hậu quả của một chính sách xã hội chẳng hạn, đặc biệt trong vấn đề đầu tư,
một trong những yếu tố tạo ra nguyên nhân phát triển nền kinh tế đất nước.
Việc đầu tư rất có thể mang lại những hậu quả lớn, làm cho kinh tế phát triển
rất cao nếu đúng đắn. Ví dụ, người ta đầu tư vào những ngành mũi nhọn có
tác dụng làm thay đổi căn bản nền kinh tế, vì chỉ một thời gian ngắn sau, nền
kinh tế quốc dân đã có một động lực lớn như là công nghệ thông tin, bưu
chính viễn thông, công nghệ tin học… Những kết quả do sự đầu tư đúng đắn
đó làm cho các ngành kinh tế như công nghiệp, thủy sản, nông nghiệp… có
những sự phát triển vượt bậc, khi đó nó lại tạo điều kiện cho việc tái đầu tư
ngày càng tốt hơn với lực lượng tài chính, lực lượng vật chất ngày càng to lớn
hơn. Rồi khi đó, trong một chu kỳ khác, sự đầu tư đúng đắn lại làm cho các
ngành khoa học mới ra đời, cứ như thế một chu trình đầu tư mang lại một kết
quả và bản thân kết quả đó làm cho quá trình đầu tư ngày càng có ý nghĩa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status