BÀI BÁO CÁO TỐT NGHIỆP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI NGHÈO - Pdf 43

TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG ĐOÀN
TIỀN GIANG

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN VỚI NGƯỜI NGHÈO TẠI ẤP
AN THÁI, XÃ AN CƯ, HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

GVHD: QUÁCH THÁI KỲ

Học viên thực hiện:

Nguyễn Thế Phương
MSHS: 1533
Lớp: CTXH01
Khóa: 2015-2017

Tiền Giang, tháng 07 năm 2017


Phụ lục 5: Phiếu đánh giá thực tập tại cơ sở
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ
Họ và tên học sinh: Nguyễn Thế Phương
Lớp: CTXH01
Khóa: 2015 - 2017
Địa điểm thực tập: Ủy ban nhân dân xã An Cư, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Thời gian thực tập: 25/5/2017 – 25/8/2017
Giảng viên hướng dẫn: Quách Thái Kỳ
Cán bộ cơ sở hướng dẫn, quản lý: Đỗ Nhựt Thanh
Chủ đề thực tập: Công tác xã hội cá nhân với người nghèo tại ấp An Thái, xã

2/ Cơ sở thực tế tạo điều kiện:

1 2 3 4 5
....3....
1 2 3 4 5
....3....
1 2 3 4 5
3/ Cơ hội làm việc với các nhân viên cơ sở:
.1
. .3....
4/ Cơ hội tiếp xúc với đối tượng:
2 3 4 5
5/ Áp dụng được nhiều kiến thức:
1 2 3 4 5
6/ Tham gia vào mạng lưới dịch vụ xã hội trợ giúp đối tượng:
1 2 3 4 5
7/ Cơ sở vật chất và phương tiện hỗ trợ thực
1 2 3 4 5
tập:Những ý kiến đề xuất khác:
....3....
8/
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………


Phụ lục 7: Nhận xét của cơ sở thực tập
ỦY BAN NHÂN DÂN
XÃ AN CƯ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

của em đã hoàn thành bằng sự cố gắng, nỗ lực và nghiêm túc. Tuy nhiên vẫn
còn một số hạn chế nhất định.
Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong
sự nghiệp cao quý.

Em xin chân thành cảm ơn!


PHẦN 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN THỰC TẬP
1.

Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển

Xã An Cư là một xã mới tách ra năm 2004 từ xã Hội Cư anh hùng, nằm
cách trung tâm hành chánh huyện Cái Bè khoảng 4km về hướng bắc. Là nơi có
khu xay xát và lau bóng gạo với số lượng lớn nhất huyện, vì vậy người dân lao
động các nơi tập trung về đây rất đông và nhiều thành phần. Xã có diện tích tự
nhiên 1142ha với 3738 hộ và 1405 nhân khẩu. Thu nhập bình quân 24
triệu/người/năm, xã có 05 ấp An Bình, An Thiện, An Thái, An Hoà và Mỹ Hoà.
Về giao thông, trên địa bàn có nhiều tuyến giao thông quan trọng đi qua như
quốc lộ 1A dài 6km, huyện lộ 869 dài 1,5km, lộ 23B dài 2,7km.
Cho đến nay, có 02 trường Mẫu giáo trên địa bàn được công nhận đạt
chuẩn phổ cập mầm non, 01 trường Trung học cơ sở và 01 trường Tiểu học,
hằng năm tổ chức cho trẻ em 06 tuổi ra lớp 1 đạt 100% và luôn duy trì chỉ số tốt
nghiệp THCS đạt 98%.
Ủy ban xã An Cư cũng được thành lập từ khi tách xã, với số lượng cán bộ,
công chức ban đầu chỉ trên dưới 20 người, cơ sở vật chất thiếu thốn nên thời
gian đầu hoạt động còn gặp nhiều khó khăn. Nhưng cùng với sự nổ lực của tập
thể cán bộ, sự hỗ trợ đầu tư kinh phí từ phía chính quyền cấp trên, đến nay cơ sở

Văn phòng
– Thống kê

3.

PHÓ CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

Phụ trách Văn
hóa – Xã hội

Phụ trách Kinh tế

Văn hóa – Xã
hội

Tư pháp –
Hộ tịch

Địa chính –
Xây dựng –
Môi trường

CHỈ HUY
TRƯỞNG

Tài chính –
Kinh tế


Xã An Cư có vị trí địa lý thuận lợi cho sản xuất, lau bóng gạo như giáp
Quốc lộ 1A, có nhiều nhánh sông lớn chảy qua nên tập trung rất đông các cơ sở
hoạt động kinh doanh. Các cơ sở này là một trong các mạnh thường quân hoạt
động rất mạnh tại địa phương. Hàng tháng đều có doanh nghiệp hỗ trợ gạo cho
người nghèo của xã, trung bình 400kg/tháng. Mới đây trong tháng hành động vì
trẻ em, xã đã vận động được 25 triệu đồng và 15 triệu đồng cho ngày lễ Thương
binh – liệt sĩ 27/7.
6.

Tình hình thực hiện an sinh xã hội

Phát huy truyền thống và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đền ơn đáp
nghĩa, công tác chăm lo cho hộ nghèo, hộ khó khăn, các đối tượng yếu thế của
xã hội như người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em mồ côi... Cấp uỷ, chính
quyền, các ban ngành, đoàn thể trong xã An Cư luôn xác định việc chăm sóc các
đối tượng này là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, giải quyết
tốt các chế độ cho các đối tượng góp phần ổn định tình hình xã hội, là động lực
phát triển kinh tế, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc. Đồng thời thực hiện tốt công tác xây dựng nhà ở cho hộ
chính sách, hộ nghèo, bình xét hộ thoát nghèo, xét đối tượng hưởng theo Nghị
định 136/2013/NĐ-CP đúng theo thực tế, đúng theo quy trình.
Hiện nay trong xã có 78 đối tượng gia đình chính sách người có công đang
nhận tiền hàng tháng (trong đó: Thương binh 22 người, Bệnh binh 7 người, tuất
Liệt sĩ 36 người, tuất Thương binh 1 người, Người có công giúp đỡ cách mạng 2
người; 603 đối tượng bảo trợ xã hội; xã có 146 hộ nghèo, 314 hộ cận nghèo theo
chuẩn mới của Chính phủ quy định.

3



nghèo ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Theo số lượng thống kê, số
lượng hộ nghèo, cận nghèo đã giảm hơn đáng kể so với những năm trước đó.
Tuy nhiên, xóa đói giảm nghèo vẫn luôn là chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp
khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc,
nhóm dân cư. Thực tế cho thấy, thành tựu xóa đói giảm nghèo trong những năm
4


qua đã góp phần tăng trưởng kinh tế bền vững và thực hiện công bằng xã hội,
được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Tuy đạt được những thành tích đáng mừng nhưng công cuộc xóa đói giảm
nghèo của Việt Nam lại đang đối mặt với những thách thức mới. Phần lớn những
người nghèo còn lại sống ở vùng nông thôn xa xôi, hạn chế về tài sản, trình độ
học vấn và điều kiện an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe còn nhiều yếu kém.
Nghèo trong các nhóm dân tộc thiểu số luôn là một thách thức kéo dài. Những
người nghèo ngày càng khó tiếp cận với các điều kiện giảm nghèo chung, do
không theo kịp tốc độ gia tăng của các điều kiện này, đặc biệt là đồng bào vùng
sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số.
Phần lớn thu nhập của người nghèo từ nông nghiệp thiếu vốn sản xuất:
đây là nguyên nhân chủ yếu nhất. Nông dân thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn
quẩn, sản xuất kém, làm không đủ ăn, phải đi thuê, phải đi vay để đảm bảo cuộc
sống tối thiểu hàng ngày. Có thể nói, thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất
hạn chế sự phát triển của sản xuất và nâng cao đời sống của các hộ gia đình
nghèo. Đất đai canh tác ít, hoặc không đất, thiếu việc làm, thiếu kinh nghiệm và
kiến thức, phương pháp canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức, sản xuất tự
cung tự cấp là chính. Những khó khăn đó làm cho hộ nghèo không thể nâng cao
trình độ, từ đó dẫn đến không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào canh tác dẫn đến năng xuất thấp, chính vì vậy em chọn đề tài “Công tác xã
hội cá nhân với người nghèo tại ấp An Thái, xã An Cư, huyện Cái Bè, tỉnh

bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay nợ và thiếu
khả năng trả nợ.
- Hộ nghèo: là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu
cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của
cộng đồng xét trên mọi phương diện.
2.1.2. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói
Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều nhóm các yếu tố, nhưng chung quy
lại thì nguyên nhân đói nghèo của nước ta như sau:
- Thiếu vốn sản xuất: Các tài liệu điều tra cho thấy đây là nguyên nhân chủ
yếu nhất. Nông dân thiếu vốn thường rơi vào vòng luẩn quẩn, sản xuất kém, làm
không đủ ăn, phải đi thuê, phải đi vay để đảm bảo cuộc sống tối thiểu hàng ngày.
Có thể nói thiếu vốn sản xuất là một lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển của
sản xuất và nâng cao đời sống của các hộ gia đình nghèo.
- Thiếu kinh nghiệm và kiến thức làm ăn: Phương pháp canh tác cổ truyền
đã ăn sâu vào tiềm thức, sản xuất tự cung tự cấp là chính, thường sống ở những
nơi hẻo lánh, giao thông đi lại khó khăn, thiếu phương tiện, con cái thất học…
Những khó khăn đó làm cho hộ nghèo không thể nâng cao trình độ dân trí,
không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, thiếu kinh
nghiệm và trình độ sản xuất kinh doanh đẫn đến năng xuất thấp, không hiệu quả.

6


- Bệnh tật và sức khoẻ yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng
nghèo đói trầm trọng.
- Đất đai canh tác ít, tình trạng không có đất canh tác đang có xu hướng
tăng lên, thiếu việc làm, không năng động tìm việc làm, lười biếng. Mặt khác do
hậu quả của chiến tranh dẫn đến nhiều người dân bị mất sức lao động, nhiều phụ
nữ bị góa phụ dẫn tới thiếu lao động hoặc thiếu lao động trẻ, khỏe có khả năng
đảm nhiệm những công việc nặng nhọc.

và trên cả nước, làm căn cứ cho việc xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính
sách phát triển kinh tế và an sinh xã hội của các địa phương và cả nước, ngày
19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg
về việc Ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 –
2020.
Theo đó, chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016 2020 như sau:
a/ Các tiêu chí về thu nhập
- Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và
900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
- Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và
1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
b/ Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
- Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch
và vệ sinh; thông tin.
- Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ
số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn;
tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu
người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn
thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
c/ Hộ nghèo
- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

8


Tiêu chí 1: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở
xuống;
Tiêu chí 2: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến
1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các
dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

nghèo theo phương thức tiếp cận đa chiều cuối năm 2016 cho thấy, nhiều hộ đã
có đủ, thậm chí vượt những chỉ tiêu thoát nghèo vẫn cố xin cho mình còn thuộc
diện hộ nghèo để được hưởng những chính sách ưu đãi. Điều đó thể hiện rõ
được ý thức, nhận thức về vai trò xã hội của người nghèo còn kém.
Một số ngành chưa xem việc đào tạo nghề là một trong những giải pháp
căn cơ để giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo, ổn định cuộc sống. Quan điểm
“cho cần câu chứ không cho còn cá” chưa được phát huy mạnh mẽ.
2.3.

Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng cuộc sống của thân chủ.
- Biết được nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo.
- Đề xuất giải pháp cho thân chủ.

2.4.

Đối tượng nghiên cứu:
Thân chủ thuộc hộ nghèo của ấp An Thái, xã An Cư, huyện Cái Bè, tỉnh

Tiền Giang.
2.5.

Phạm vi nghiên cứu:
Được tiến hành tại ấp An Thái, xã An Cư, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

2.6.

Phương pháp nghiên cứu:
- Khảo sát, nghiên cứu thực tế
- Phỏng vấn, tiếp xúc trao đổi trực tiếp với người dân.

hiện
1/ Liên hệ cơ sở 1/ Gặp trực Học
3 ngày 1/ Nắm được
thực tập.

tiếp lãnh đạo sinh

2/ Tìm hiểu quá UBND xã.

quan về
cơ sở
thực tập.

thực tập 25/5

số lượng hộ
nghèo,

cận

trình hình thành 2/ Đọc tài

đến

nghèo.

và phát triển của liệu,

27/5)



phương.

sinh xã

3/

hội của

chính
địa
Chọn

địa phương.

được ca hỗ

3/ Hệ thống tổ

trợ.

chức bộ máy nhà
nước.
4/ Mục tiêu của
cơ sở thực tập.
5/ Nhận xét về cơ
sở thực tập.
2/ Làm 1/ Tiếp cận thân 1/ Làm việc Học
1 tuần
việc với chủ và thiết lập trực tiếp với sinh


3/ Nắm bắt
được thông
tin cá nhân
và gia đình
thân chủ.

3/ Tìm hiểu về
môi trường và
hoàn cảnh sống
của gia đình
thân chủ.

3/ Tìm hiểu Học
3 ngày
môi trường sinh
(từ
sống
từ thực tập 13/6
người thân,
đến
hàng
xóm
15/6)
của thân chủ.

4/ Biết được
hoàn cảnh và
môi trường
sống

hoạch hỗ trợ thân hướng dẫn chủ
26/6
chủ.
cho thân chủ
đến
thực hiện kế
26/7)
hoạch.
3/
1/ Lượng giá.
8/ Lượng giá Học
30
Lượng 2/ Xin giấy xác từ kế hoạch. sinh
ngày
giá và nhận của cơ sở 9/ Nộp giấy thực
(từ
viết báo thực tập.
xác nhận.
tập, cơ 27/7
cáo.
3/ Hoàn thành 10/ Viết và sở thực đến
báo cáo.
nộp báo cáo tập.
25/8)

5/ Vẽ được
các sơ đồ.

3.2.



12


- Sinh năm : 1969
- Giới tính: Nữ
- Tình trạng bản thân: hộ nghèo, bị khuyết tật nhẹ ở tay và chân phải (bị
co quắp do di chứng sốt bại liệt).
- Địa chỉ : ấp An Thái, xã An Cư, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Hoàn cảnh gia đình :
Bà Võ Thị Ne, 48 tuổi, sống cùng với con trai tên Long – 24 tuổi, chồng đã
bỏ đi, cha và mẹ của bà cũng đã mất. Hiện gia đình sống ở ngôi nhà tạm tại ấp
An Thái, xã An Cư, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Bà là con gái út trong gia
đình có 2 chị em, người chị - bà Lê - đã lấy chồng và làm ăn ở xa, ít về thăm bà.
Trong thời gian mang thai bà Ne, mẹ của bà đã làm việc quá vất vả nên sinh bà
ra bị thiếu tháng. Lúc mới sinh ra bà chỉ được 1,8kg sức khỏe và đề kháng yếu
nên năm 2 tuổi bà bị sốt bại liệt. Di chứng để lại là tay và chân phải của bà hơi
co, đi lại và sinh hoạt không như người bình thường.
Bà Ne kết hôn năm 25 tuổi nhờ có người mai mối. Chồng bà – ông Thông,
quê ở An Giang, là thợ gằng làm việc tại cơ sở xay xát lúa gạo tại địa phương.
Trước đây vợ chồng bà Ne sống rất hạnh phúc, nhưng đến khi bà mang thai
Long thì chồng bà có những biểu hiện lạ như đi về khuya, không đem tiền về
như trước nữa. Trình trạng diễn ra khoảng 1 tháng thì chồng bà bỏ nhà đi biệt
tích, tới nay không liên lạc được. Có người nói rằng ông bỏ đi với người tình lên
thành phố Hồ Chí Minh làm công nhân và sống như vợ chồng trên đó.
Bà Ne đau khổ rất nhiều, bà trở nên suy sụp. Nhờ bà con, hàng xóm giúp
đỡ, an ủi và vì thương con nên bà cố gắng sống với con đến hiện giờ. Long chỉ
được học đến lớp 9 nên hiện tại làm công nhân cho công ty bao bì của địa
phương, đồng lương ít ỏi không đủ để lo cho bản thân và nuôi mẹ. Hiện gia đình
bà Ne thuộc diện hộ nghèo của xã.

e

?

Thông

Long

Ghi chú:
Nữ

Chết

Nam

Chết

Đã ly hôn
Quan hệ thân thiết

Quan hệ xa cách

14


3.2.4. Sơ đồ sinh thái

Việc làm

Con bà Ne

Võ Thị Ne, 48

- Mong muốn

tuổi

được làm việc.
- Có ý chí thoát

Hạn chế

Tiềm năng

- Tự ti về bản
thân
- Sức

- Có khả năng
thực hiện tốt kế

khỏe

hoạch

không tốt

nghèo
Con:
Dương


trước còn cơ cực hơn, bà suy nghĩ lại. Con trai của bà dù đi làm nhưng vẫn dành
nhiều thời gian cho mẹ, biết tình trạng của mẹ nên Long thường hay khuyên
nhủ, nói chuyện với mẹ. Nhờ đó mà cảm thấy dễ chịu hơn, bà lấy đó là động lực
để vượt qua mọi chuyện.
Sau quá trình tiếp xúc và gặp gỡ, nhận thấy thân chủ có các vấn đề sau
đây:
- Kinh tế gặp nhiều khó khăn.
- Tự ti về bản thân, xem mình là gánh nặng của con.
- Mong muốn có một ngôi nhà đúng nghĩa, bà có nói “an cư mới lạc
nghiệp”
- Mong muốn có được việc làm phù hợp hoặc ít nhất là được chăn nuôi.
Nhưng vì không có nhiều đất sản xuất và khiếm khuyết cơ thể làm cản
trở.
3.2.7. Kế hoạch hỗ trợ cụ thể
3.2.7.1. Mục tiêu chính:
- Cải thiện chất lượng cuộc sống.
- Hỗ trợ tâm lý cho thân chủ, phá bỏ mặc cảm bản thân.

16


- Giúp gia đình thân chủ tiếp cận nguồn vốn.
- Tìm kiếm việc làm phù hợp cho thân chủ.
3.2.7.2. Kế hoạch cụ thể
Người
thực hiện
1/ Kinh tế - Cải thiện - Tìm kiếm Học sinh
Nội dung

còn

được
thường

quân, có được

02/7)

sự hỗ trợ từ địa
phương

lý thực tập.

chủ, cho thân chủ. -Thân

gánh phá bỏ mặc

Tìm

đến

trợ - Tư vấn hỗ -Học sinh 1

bản thân, tâm lý cho trợ

-

(từ 26/6 mạnh

nhiều khó cuộc sống quân, nguồn
khăn.

thân.
3/ Mong - Sửa lại - Liên hệ với -

Học 1

tuần -

Thân

chủ

muốn có căn nhà đã cán bộ Giảm sinh thực (từ 11/7 được vay vốn,
một ngôi dột nát.

nghèo hỗ trợ tập.

đến

sửa

nhà.

thân chủ vay - Cán Bộ 18/7)

chửa

lại

căn nhà.





tuần - Thân chủ có

sở sinh thực (từ 19/7 được việc làm.

doanh, tập

đến

17


cho
chủ

thân mua bán có
nhu
tuyển

26/7)

cầu
nhân

công tại địa
phương



18


-

Sau khi được tổ vay vốn ấp An Thái hướng dẫn thủ tục làm hồ sơ, bà đã

được ngân hàng chính sách huyện Cái Bè giải ngân 25 triệu đồng, thời hạn vay
15 năm, ân hạn 5 năm theo diện được hỗ trợ nhà hộ nghèo theo quyết định
33/2015/QĐ-TTg. Số tiền gốc và lãi sẽ được trả từ năm thứ sáu, mức trả nợ mỗi
năm tối thiểu là 10% tổng số vốn đã vay, thời gian trả nợ là 10 năm. Ngay sau
đó, Ủy ban nhân xã An Cư đã phân công Đoàn Thanh niên, lực lượng dân quân,
ban quản lý ấp An Thái tiến hành sửa chữa căn nhà cho bà. Căn nhà hoàn thành
sửa chửa trong 4 ngày, có diện tích 48 mét vuông, nền gạch tàu, cột bê tông,
vách cây, mái tôn. Chi phí là 22 triệu đồng, do mái tôn được tài trợ. Bà rất phấn
khởi, đây là ước mơ bao năm của mẹ con bà, sau gần hai phần ba cuộc đời bà
mới có được căn nhà đúng nghĩa.
- Quá trình tìm việc làm cho bà diễn ra khá thuận lợi, nhà may Dũng - ấp
An Thiện, xã An Cư – đồng ý nhận bà làm việc. Công việc tương đối dễ là đóng
nút, làm khuy áo quần. Sau một buổi hướng dẫn bà có thể tự làm hoàn chỉnh.
Giá cho mỗi áo hoàn thành là 20.000 đồng, quần là 5.000 đồng, bà được nhận đồ
về nhà làm. Trung bình mỗi tháng theo sổ ghi chép của nhà may, số quần áo dao
động từ 30 đến 40 bộ tùy thời điểm. Như vậy, gia đình bà sẽ có được thêm
nguồn thu nhập dù không đáng là bao nhưng chắc chắn cuộc sống sẽ cải thiện
hơn trước.
3.3.

Lượng giá về tiến trình làm việc với thân chủ

- Kết quả đạt được:

tập, nghiên cứu đã xin phép và được thân chủ đồng ý).
- Luôn trung thực với bản thân mình và thân chủ.
- Luôn tôn trọng pháp luật của nhà nước.
PHẦN III.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1.1.

Mối liên hệ giữa kiến thức lý thuyết và kiến thực từ thực tế

Qua một thời gian tự mình trãi nghiệm nghề công tác xã hội, em càng thấy
mối liên kế chặc chẽ giữa kiến thức lý thuyết và thực tiễn. Nếu như lý thuyết cho
mình một nền tảng vững vàng, tính chuyên nghiệp trong quá trình thực hiện thì
kiến thức tế cho mình một cái nhìn đa chiều hơn và nhiều thứ rất mới mẽ. Xuyên
suốt trong quá trình thực tập, em nhận thấy có những tình huống phát sinh mà
chúng ta phải vận dụng những kinh nghiệm trong cuộc sống để giải quyết một
cách hợp lý nhất. Kiến thức lý thuyết và kiến thức thực tiễn bổ trợ mạnh mẽ cho
nhau. Vì vậy đòi hỏi người nhân viên xã hội phải thường xuyên rèn luyện lý
thuyết, bám sát với thực tế, “học phải đi đôi với hành”.
1.2.

Cách tiếp cận với cơ sở

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status