LUẬN văn THẠC sĩ PHÁT TRIỂN bền VỮNG các KHU CÔNG NGHIỆP ở TỈNH BÌNH DƯƠNG GIAI đoạn HIỆN NAY - Pdf 43

2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1

3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU
11

1.1.

CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Một số vấn đề lý luận về phát triển bền vững các khu

11

1.2.

công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
Thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh

23

Chương 2

Bình Dương
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở


nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa
được ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Chính vì
những mục tiêu như vậy mà phát triển bền vững đã trở thành những nhu cầu cấp
bách, là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người.
Cùng với quá trình hội nhập sâu hơn, rộng hơn với nền kinh tế thế
giới, Đảng ta xác định: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững,
phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược” [21, tr.98]. Phát
triển bền vững ở Việt Nam là chiến lược toàn diện, giữ vị trí vai trò quan
trọng trong xây dựng mục tiêu, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương trên các ngành, các lĩnh
vực của đời sống xã hội trong đó có phát triển bền vững các KCN.
Bình Dương là tỉnh thuộc Miền đông Nam bộ nằm trong vùng kinh tế trọng
điểm phía Nam. Liên tục trong nhiều năm, Bình Dương là tỉnh có tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao với sự phát triển mạnh mẽ của các KCN cả về số lượng và chất
lượng. Sự phát triển của các KCN và sức lan tỏa của nó đã tạo ra cho Bình Dương
một sức sống mới với tốc độ đô thị hóa nhanh, thu hút lượng lao động lớn trong
và ngoài tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Bình Dương trở
thành điểm sáng, địa phương dẫn đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở Bình Dương chưa thực sự
vững chắc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa đồng bộ, chưa gắn chặt
với yêu cầu bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc đẩy chuyển giao


4
công nghệ còn yếu, liên kết kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các doanh
nghiệp trong KCN chưa cao, khả năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn còn
chứa đựng những yếu tố lạc hậu. Đời sống khó khăn của người lao động trong
các KCN và những hệ lụy xã hội đang ngày một trở thành rào cản cho sự phát
triển của các KCN và của chính nền kinh tế ở địa phương. Vì thế, cần xây dựng

Nam”, Nxb Khoa học xã hội, H. 2008. Bài viết làm rõ thực chất vấn đề toàn
cầu hoá kinh tế quốc tế, xu thế mở cửa và hội nhập, vấn đề phát triển bền vững
về kinh tế. Tác giả nhấn mạnh nội dung của phát triển bền vững mà các quốc gia
đang theo đuổi hiện nay đó là: Bảo đảm phát triển kinh tế nhanh và duy trì tốc độ
ấy trong một thời gian dài; môi trường sinh thái được bảo vệ một cách tốt nhất;
đời sống xã hội được bảo đảm hài hòa.
Tác giả Trần Văn Thọ “Điều kiện để Việt Nam phát triển bền vững”, báo
Tia sáng, Bộ khoa học và công nghệ ra ngày 03/10/2008. Bài viết đề cập đến 3
điều kiện để Việt Nam phát triển bền vững: bảo đảm tính dân chủ trong việc
hoạch định các chiến lược, chính sách; ý kiến của chuyên gia, giới kỹ trị
không bị chính trị chi phối; phải có đội ngũ quan chức giỏi thật sự để quá
trình đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả. Về chính sách
cụ thể, tác giả chỉ ra: cần sớm chấm dứt tàn dư của chiến lược cải cách tiệm
tiến, cụ thể là phải triệt để cải cách khu vực DN Nhà nước; để phát triển bền
vững trong giai đoạn tới, nhất là thời kỳ cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt,
phải có cơ chế xây dựng, nuôi dưỡng các ngành có lợi thế so sánh để ngày
càng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn.
Xung quanh vấn đề KCN, phát triển KCN theo hướng bền vững một số
công trình khoa học cũng đã đề cập như:
PGS.TS Ngô Thắng Lợi, ThS. Bùi Đức Tuân, ThS. Vũ Thành Hưởng,
Ths. Vũ Cương, (2007),“Vấn đề phát triển bền vững các KCN của Việt Nam”
Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam 03/2007. Bài viết tập trung làm rõ những


6
tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững KCN, đề ra một số định hướng phát
triển các KCN ở Việt Nam. Tác giả cho rằng, cùng với quá trình phát triển các
KCN thì những hệ lụy về mặt xã hội đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Khắc
phục những hệ lụy này, nhóm tác giả đề xuất những tiêu chí đánh giá tính chất
bền vững của một KCN, phương hướng và giải pháp khắc phục. Tuy nhiên,

KCN ở nước ta hiện nay, chỉ ra những hạn chế trong quy hoạch nhất là gắn vấn
đề quy hoạch với bảo vệ môi trường, một trong những vấn đề nóng bỏng được
nhiều người quan tâm trong quá trình phát triển các KCN, tác giả cũng đã nêu ra
những giải pháp nhằm giải quyết vấn đề này.
Ths.Vũ Thành Hưởng, (2009), “Phát triển bền vững về kinh tế các Khu
công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Thực trạng và các khuyến nghị
chính sách”, Tạp chí Khu công nghiệp ra ngày 02/12/2009. Qua nghiên cứu
các nhân tố thiếu bền vững về kinh tế ở các KCN vùng kinh tế trọng điểm Bắc
bộ như: Vị trí các KCN, tỷ lệ lấp đầy KCN, quy mô diện tích các KCN, liên
kết phát triển trong nội bộ KCN và với bên ngoài KCN, trình độ công nghệ
của các DN tác giả Vũ Thành Hưởng khuyến nghị chính sách phát triển bền
vững về kinh tế các KCN vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.
TS Nguyễn Hữu Dũng, (2008) ,“Phát triển khu công nghiệp với vấn đề
lao động - việc làm ở Việt Nam”, tạp chí cộng sản số 5(149) năm 2008. Tác giả
đã đánh giá những thành tựu nổi bật của quá trình phát triển các KCN ở Việt
Nam từ năm 1991 đến nay nhấn mạnh những thành tựu và hạn chế của vấn đề
lao động và việc làm từ đó đề xuất một số giải pháp vĩ mô như giáo dục đào tạo,
phát triển hệ thống các trung tâm dạy nghề, gắn nhà trường với các nhà máy
trong KCN. Bên cạnh đó tác giả còn nhấn mạnh vấn đề an sinh xã hội đối với
lao động trong các KCN, một vấn đề đang được các nhà nghiên cứu quan tâm,
các tổ chức chính trị xã hội trên cơ sở đó hoạch định các chính sách nhằm nâng
cao đời sống người lao động tại các KCN và lân cận KCN.


8
TSKH. Nguyễn Văn Minh, (2011), “Đánh giá tác động của khu công
nghiệp tới kinh tế xã hội vùng lân cận”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 47
(6/2011). Tác giả đã có phương pháp tiếp cận, đánh giá tác động của khu công
nghiệp tới kinh tế xã hội vùng lân cận rất khoa học và có sự thâm nhập thục tế
một số khu công nghiệp ở phía Bắc. Theo tác giả, trước hết cần phải lựa chọn

* Nhiệm vụ :
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về phát triển bền vững
các KCN ở Bình Dương;
Đánh giá tính chất bền vững trong phát triển các KCN ở tỉnh Bình
Dương theo hướng bền vững trong những năm qua và một số vấn đề rút ra từ
quá trình phát triển các KCN ở tỉnh Bình Dương;
Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát triển bền
vững các KCN ở Bình Dương trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển bền vững các KCN ở tỉnh Bình Dương
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu sự phát triển bền vững các KCN trên địa
bàn của một đơn vị hành chính tỉnh trực thuộc Trung ương-Bình Dương
- Về thời gian: Đề tài tập trung phân tích, nghiên cứu trong giai đoạn
hình thành và thu hút đầu tư vào các KCN Bình Dương. Trọng tâm là giai
đoạn từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
*Cơ sở lý luận:
Dựa trên lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, các quan điểm của Đảng
cộng sản Việt Nam trong lĩnh vực phát triển bền vững và phát triển bền vững
các KCN, các lý luận liên quan khác để tiếp cận đối tượng, luận giải các
nhiệm vụ của luận văn


10
*Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Hệ thống phương pháp nghiên cứu nền tảng là Phương pháp Duy vật
biện chứng và Phương pháp Duy vật lịch sử.

của Đảng. Theo đó, vấn đề phát triển các KCN đã được đầu tư, quan tâm
thỏa đáng cả về lý luận và thực tiễn. Theo quy chế KCN, KCX, KCNC ban
hành kèm theo Nghị định số 29/CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ có đưa
ra định nghĩa về KCN, KCX, KCNC như sau:
“KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản
xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ
hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. Trong KCN có doanh nghiệp chế xuất.”
“KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản
xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu; có ranh giới địa lý xác định, không
có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập.”
“KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao
và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên
cứu, triển khai khoa học công nghệ; đào tạo và các dịch vụ có liên quan; có
ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ
tướng quyết định thành lập. Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất.”


12
Như vậy, có thể hiểu KCN là một tổ chức không gian kinh tế xã hội rộng
lớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó có những điều kiện thuận lợi về cơ
chế chính sách, cơ sở hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng KT-XH) nhằm tạo
điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư phát triển các DN sản xuất hàng công
nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Theo số liệu mới nhất hiện nay Việt Nam có 223 KCN, có thể phân loại KCN
nằm trong phạm vi, đối tượng điều tiết của Nghị định 29/CP thành ba nhóm chính sau:
Nhóm 1: Các KCN mang tính truyền thống, được thành lập một cách
phổ biến ở Việt Nam. Các KCN này có những đặc điểm chung như sau:
Là khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và có
phạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương;
Là khu vực được kinh doanh bởi công ty cơ sở hạ tầng (công ty phát

đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, có ranh giới xác định
và do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong
KCNC có thể có DN chế xuất. Ngoài những đặc điểm chung của KCN,
KCNC có những nét riêng biệt:
Có hoạt động chính của các DN sản xuất và dịch vụ có hàm lượng công
nghệ và chất xám cao như: nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo
và thực hiện các dịch vụ có liên quan. Bản thân các DN thường có quá trình
đổi mới liên tục về công nghệ và sản phẩm;
Các DN trong khu công nghệ cao đều có đầu tư lớn cho nghiên cứu và
phát triển, có năng suất cao, được điều hành bởi các nhà khoa học và công
nhân có trình độ, kinh nghiệm cao;
Công nghệ sử dụng trong KCNC mang tính tiên phong đi trước thời
đại, phát triển kinh doanh của DN trong nhiều trường hợp được coi là mạo
hiểm và có khả năng được bù đắp cao;
Trong KCNC, còn tiến hành các dịch vụ nghiên cứu và chuyển giao
công nghệ, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.


14
1.1.2. Quan niệm phát triển bền vững và phát triển bền vững các khu
công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
* Quan niệm và tiêu chí của phát triển bền vững
Những ý tưởng có hàm ý về phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã
hội loài người, nhưng phải đến thập niên đầu của thế kỷ XX, những hàm ý
này mới phát triển, chuyển hoá thành hành động và cao hơn là phong trào xã
hội. Tiên phong cho các trào lưu này, phải kể đến giới bảo vệ môi trường ở
Tây Âu và Bắc Mỹ. Các tổ chức này, đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu
diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chương trình hành động hướng
các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững.
Thập kỷ 70, 80 thuật ngữ xã hội bền vững tiếp tục xuất hiện trong các

nhập ổn định, được đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần, mọi công dân và
các tổ chức chính trị, xã hội có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia vào các quỹ
phúc lợi xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo... Nhà
nước phải có một hệ thống luật pháp đồng bộ đủ sức điều chỉnh các quan hệ
xã hội, đảm bảo dân chủ, công bằng, đáp ứng với yêu cầu của hội nhập kinh
tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay và cả trong tương lai.
Ba là, nhóm tiêu chí về tài nguyên - môi trường: Tiêu chí về môi trường
của sự phát triển bền vững có thể đánh giá thông qua chất lượng các thành
phần môi trường như: môi trường không khí, môi trường đất, môi trường nước,
môi trường sinh thái; mức độ duy trì, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên không tái tạo; nguồn vốn xã hội dành cho các hoạt động bảo vệ môi
trường; khả năng kiểm soát của các cấp chính quyền đối với các hoạt động
kinh tế xã hội, những vấn đề chứa đựng các yếu tố tiềm ẩn tác động tiêu cực
đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân.
Những tiêu chí trên có mối quan hệ biện chứng, tác động ràng buộc qua
lại lẫn nhau không nên xem nhẹ hay nhấn mạnh yếu tố nào. Phát triển bền vững
cần được đánh giá một cách toàn diện trên cơ sở tổng hợp các tiêu chí.


17
* Quan niệm phát triển bền vững các KCN ở tỉnh Bình Dương
Phát triển bền vững, như đã trình bày là một nhu cầu cấp bách và là xu thế
tất yếu trong tiến trình phát triển KT- XH của đất nước. Ở Việt Nam, để thực hiện
mục tiêu phát triển bền vững đất nước theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX, X, XI đề ra và thực hiện những cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam
đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững. Đây là chiến lược khung,
bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương các tổ
chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động. Mục tiêu phát triển
bền vững đất nước trong thế kỷ XXI chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực
hiện chiến lược phát triển bền vững trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa

Có thể xem xét tiêu chí đánh giá phát triển bền vững KCN dưới
nhiều góc độ khác nhau nhưng từ khái niệm và cách triển khai quan niệm
phát triển bền vững các KCN ở Bình Dương, tác giả chia thành hai
nhóm: đánh giá sự bền vững nội tại của KCN và đánh giá tác động lan
toả của KCN đến khu vực có KCN.
Nhóm một, nhóm tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại của KCN
Phát triển bền vững nội tại KCN là yêu cầu quan trọng nhất, vì nó đảm
bảo duy trì sự hoạt động “khỏe mạnh” của các khu này. Chính sự hoạt động
“khoẻ mạnh” của bản thân KCN sẽ là cơ sở để nó gây ảnh hưởng lan toả tích cực
đối với địa phương có KCN và đối với toàn bộ nền kinh tế.
Cơ sở để đánh giá tính bền vững nội tại KCN, là dựa vào các dấu hiệu,
các tiêu chí thể hiện trên ba vấn đề cơ bản: một là, tính chất phù hợp về vị trí đặt,
cơ cấu bố trí các bộ phận trong KCN so với khả năng đất đai; hai là, tính hiệu
quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN trong KCN và khả năng
duy trì, nâng cao hiệu quả trong tương lai; ba là, chất lượng hoạt động của các
KCN như: trình độ công nghệ, trình độ lao động, điều kiện môi trường hoạt
động, tính chất chuyên môn hóa sản phẩm, tính tổng hợp liên ngành và sự liên


19
kết kinh tế giữa các DN, các bộ phận trong KCN và giữa các KCN trong từng
địa phương và khu vực kinh tế với nhau
Từ những lập luận nêu trên, theo tác giả một KCN được gọi là phát
triển bền vững cần đáp ứng những tiêu chí sau đây:
Thứ nhất, Vị trí đặt của KCN
Đây là dấu hiệu dẫn đến sự thành công của KCN. Dấu hiệu này thể
hiện: KCN đặt ở vị trí thuận lợi hay khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như
đường sá, cầu cống, bến cảng, nhà ga, sân bay, hệ thống viễn thông; điều kiện
về nguồn nhân lực dồi dào; tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư về vị trí và
điều kiện sinh hoạt. Tất cả những dầu hiệu này phải được xem xét trên khía

vụ thuê so với tổng diện tích KCN. Tỷ lệ lấp đầy KCN được đánh giá theo
từng giai đoạn cụ thể. Giai đoạn đầu là thời kỳ thực hiện xây dựng kết cấu hạ
tầng khoảng 4-5 năm, tiếp sau đó là giai đoạn từng bước hoàn thiện chính sách
và thủ tục với mục tiêu là thu hút các nhà đầu tư vào KCN nhanh chóng “làm
sống” KCN để thu hồi chi phí xây dựng, tạo lập việc làm cho người lao động.
Thứ tư, hiệu quả hoạt động của DN trong KCN
Tiêu chí này đánh giá thực chất vấn đề về hiệu quả tài chính, kinh tế
trong hoạt động của các DN, quyết định khả năng sống còn của các DN trong
KCN. Tiêu chí này bao gồm: tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tổng lao
động thu hút; tổng vốn kinh doanh; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu;
doanh thu trên một đơn vị lao động (năng suất lao động tính theo doanh thu).
Đánh giá các chỉ tiêu này phải dựa trên quan điểm “động”, tức là mức và tốc
độ tăng trưởng của các con số đó. Điều đó cho phép kết luận về khả năng duy
trì bền bỉ và theo xu hướng ngày càng tăng lên của các chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả hoạt động của DN trong KCN.
Thứ năm, trình độ công nghệ của DN và các hoạt động triển khai khoa
học công nghệ vào sản xuất kinh doanh


21
Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh công nghệ của các DN trong
nội bộ KCN, giữa các KCN với nhau. Nó phản ánh khả năng duy trì hoạt động
sản xuất kinh doanh của DN và xu hướng hiện đại hoá, vận dụng các thành tựu
KHCN vào sản xuất kinh doanh. Tiêu chí này thể hiện bằng các chỉ tiêu: Số
lượng và cơ cấu máy móc thiết bị sử dụng trong KCN; tỷ lệ máy móc thiết bị
mới so với tổng số máy móc thiết bị sử dụng; độ tuổi trung bình của công nghệ
hoạt động trong DN; tỷ lệ vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai
trong tổng vốn đầu tư của KCN, tỷ lệ doanh thu từ hoạt động nghiên cứu và
triển khai so với tổng quy mô hoạt động của DN và của toàn KCN.
Thứ sáu, thu nhập bình quân của người lao động.

KCN đến dân cư là việc tạo ra môi trường xã hội lành mạnh. Sự lành mạnh
của môi trường xã hội phụ thuộc rất lớn vào khả năng giải quyết việc làm của
KCN cho dân cư địa phương, nhất là những người dân bị mất đất do sự hình
thành KCN gây nên. Như vậy, tiêu chí phản ánh ảnh hưởng xã hội của KCN
được tập trung vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng giải quyết việc làm của
KCN cho địa phương như là : sử dụng lao động địa phương; tỷ lệ hộ gia đình
(hoặc là số lao động) tham gia cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho KCN nhưng
nằm ngoài KCN so với tổng số hộ của địa phương (hoặc so với tổng lao động
địa phương); cơ cấu lao động địa phương.
Thứ ba, tiêu chí về môi trường
Quá trình phát triển KCN phải gắn liền với vấn đề bảo đảm và nâng cao
chất lượng môi trường của địa bàn có KCN. Đánh giá việc bảo đảm môi
trường trong và ngoài hàng rào KCN phải dựa theo những tiêu chuẩn Việt
Nam hiện hành: mức độ ô nhiễm không khí, mức độ ô nhiễm nguồn nước,
mức độ ô nhiễm tiếng ồn và mức độ ô nhiễm rác thải. Tuy vậy, các tiêu chí
đánh giá về môi trường KCN, cần được hướng vào ba yếu tố thường được
nhấn mạnh trong các văn bản chiến lược bảo bệ môi trường, luật bảo vệ môi


23
trường và nghị quyết Bộ Chính trị về môi trường, đó là: khả năng duy trì vấn
đề đa dạng hóa sinh học; tiết kiệm tài nguyên; chống ô nhiễm môi trường
Những tiêu chí nêu trên là thực sự cần thiết cho việc đánh giá toàn diện sự
phát triển bền vững các KCN. Tuy vậy, cần có quan điểm lịch sử, cụ thể trong
nghiên cứu và đánh giá theo những tiêu chí nói trên, mục đích là vận dụng những
tiêu chí này phù hợp với từng giai đoạn xem xét, phù hợp với những yêu cầu khác
nhau của các KCN khác nhau, ở những địa phương, khu vực khác nhau.
1.2. Thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
1.2.1. Tổng quan chung về các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, phía đông giáp Đồng

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, rút ngắn quá trình CNH,
HĐH trên địa bàn tỉnh so với các địa phương khác trong cả nước.
Trên lĩnh vực kinh tế, trong 5 năm giai đoạn (2006 – 2010) tổng sản phẩm
(GDP) tăng bình quân hàng năm 14% gấp đôi so với mức tăng bình quân cả
nước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng: năm 2010 công
nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp tương ứng là 63% - 32,6% - 4,4%. Nếu so với
thời điểm 2005, thì dịch vụ tăng 4,5%, công nghiệp giảm 0,5% và nông nghiệp
giảm 4,4%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 30,1 triệu đồng. Hàng năm giá trị
sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20%; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân
22,9% /năm và đạt 8,5 tỉ USD (khu vực kinh tế trong nước chiếm 36%, khu vực
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 64%). Tỉnh phát triển thêm 13 KCN,
thành 28 khu, nâng tổng diện tích các KCN lên 8.751 ha, hiện có 24 khu đi vào
hoạt động với trên 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang sản xuất kinh
doanh. Tổng thu ngân sách tăng bình quân 24,3%/năm. Toàn tỉnh hiện có 1.922
dự án FDI với vốn hơn 13 tỉ USD, góp phần làm cho tỉnh đạt thứ hạng cao về chỉ
số năng lực cạnh tranh so với các tỉnh thành khác [24, tr.65].


25
Cùng với những lợi thế mà Bình Dương có được so với các tỉnh thành phố
khác, việc phát triển các KCN ở Bình Dương còn gặp những khó khăn đó là:
Thứ nhất, Bình Dương chưa có được những kinh nghiệm trong việc
thành lập các KCN so với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, bởi vậy công tác
kêu gọi đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài còn hạn chế.
Thứ hai, Bình Dương không có thế mạnh về đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật, thiếu những công nhân lành nghề và có kỹ thuật cao, mà chủ yếu là
những lao động xuất thân từ nông nghiệp, trình độ tay nghề thấp.
Thứ ba, Bình Dương là một tỉnh có dân số thấp, việc cung ứng lao động
cho các KCN trong tỉnh gặp nhiều khó khăn.
Thứ tư, nền kinh tế của Bình Dương nói chung và các KCN của tỉnh nói

* Đánh giá tính chất bền vững nội tại ở các KCN Bình Dương
Hiệu quả hoạt động của các DN trong KCN [Phụ lục 02].
Năm 1995, KCN Sóng Thần I đi vào hoạt động, là KCN đầu tiên của
tỉnh. Từ đó đến nay các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương không ngừng phát
triển cả về số lượng và chất lượng. Bình Dương hiện có 24 KCN thuộc diện
tỉnh quản lý ( KCN Việt Nam - Singapore 1,2 do Chính phủ trực tiếp quản lý).
Các DN trong KCN đã đóng góp lớn vào quá trình phát triển và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của địa phương. Theo thống kê của BQL các KCN Bình Dương
năm 2010 các KCN Bình Dương có 1.086 dự án còn hiệu lực, bao gồm 746 dự
án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 4,86 tỉ USD và 343 dự
án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 18.328 tỉ đồng [8, tr.2].
Doanh thu của các DN trong KCN tăng rất nhanh, năm 2006 là 2,17 tỉ USD thì
đến năm 2010 là 4,54 tỉ USD, dự kiến năm 2011 sẽ là 5 tỉ USD.
Xuất khẩu của các DN trong KCN ngày một tăng, đỉnh cao nhất trong gia
tăng xuất khẩu là năm 2006 tăng 61,22 % so với năm 2005, đạt 138,8 % so với



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status