ĐẶNG THỊ THỦY * LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP * NĂM 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐẶNG THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA
PHƯƠNG TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
MỘT SỐ LOÀI CÂY CHỊU HẠN TRÊN ĐẤT CÁT
VEN BIỂN TẠI XÃ XUÂN HÒA,
THỊ XÃ SÔNG CẦU, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta có bờ biển dài 3.260 km kéo dài từ Bắc xuống Nam, trong đó
có hơn 500.000 ha đất cát ven biển và rất nhiều cồn cát di động. Phần đất này
có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt là chức
năng phòng hộ môi trường vùng ven biển. Tuy nhiên, đây là loại đất rất dễ bị
thoái hóa, thảm thực vật tự nhiên trên cát luôn bị mất dần vì khí hậu khô hạn
và khắc nghiệt. Hiện nay, vùng cát ven biển luôn được sự quan tâm và tạo
điều kiện của nhiều ngành để nghiên cứu, đánh giá về giá trị khoa học, kinh
là cần thiết, góp phần bổ sung những thông tin làm cơ sở cho việc bảo tồn,
khôi phục và phát triển thảm thực vật trên đất cát ven biển tại địa bàn thị xã
Sông Cầu theo hướng đa dạng sinh học và tận dụng các loài cây chịu hạn bản
địa.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu về quản lý rừng cộng đồng và quản lý rừng bền
vững
1.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới khái niệm quản lý rừng cộng đồng lần đầu tiên được tổ
chức FAO đưa ra vào năm 1978 trong hội nghị lâm nghiệp thế giới đó là “tất
cả các hoạt động lâm nghiệp mà cộng đồng người dân tham gia, bao gồm
những hoạt động nhỏ lẻ ở các khu vườn, đến thu hái các sản phẩm lâm
nghiệp cho nhu cầu cuộc sống của người dân và đến việc trồng cây ở các
trang trại cây hàng hoá, sản xuất chế biến các sản phẩm lâm nghiệp ở quy
mô hộ gia đình, hợp tác xã để tăng thu nhập cho những cộng đồng sống trong
rừng”. Tổ chức Fern (2005) lại đưa ra một khái niệm cô đọng và đơn giản
hơn đó là “tiến trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào những kiến
thức bản địa, cấu trúc truyền thống, những lễ hội và luật tục của cộng đồng”.
Hoạt động quản lý rừng cộng đồng bao gồm cả các hoạt động của cá nhân và
cộng đồng liên quan đến rừng, đến quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Về phương diện khoa học, quản lý rừng cộng đồng chỉ mới được nhận
diện vào những năm đầu của thập kỷ 70, khi mà hạn hán ở châu Phi và lũ lụt
ở châu Á đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm một cách nghiêm trọng.
Nhiên liệu và chất đốt cho các cộng đồng nông thôn trở nên ngày càng khó
bị khai thác một cách kiệt quệ.
Trái ngược với Hardin, Arnold (1978) [53] lại cho rằng rừng cộng đồng
mang lại hiệu quả lớn trong phát triển rừng và phát triển cộng đồng. Ông nhấn
mạnh rằng rừng cộng đồng phải là một hợp phần không thể thiếu trong phát
5
triển nông thôn, mà mục tiêu chủ yếu là nhằm giúp đỡ những cộng đồng
nghèo tự duy trì và phát triển cuộc sống của họ … Vì thế, rừng cho phát triển
cộng đồng phải là rừng của người dân, cho người dân và phải có sự tham gia
của người dân trong quản lý và phát triển. Với cách như như vậy thì Arnold
đã chỉ ra 3 mục tiêu cơ bản của rừng cộng đồng là (1) cung cấp nhiên liệu và
những nhu yếu phẩm khác nhằm phục vụ cho những nhu cầu cơ bản của cộng
đồng, (2) cung cấp bền vững nguồn lương thực và môi trường sống cho một
quá trình sản xuất lương thực liên tục, và (3) tạo nguồn thu nhập, giải quyết
công ăn việc làm cho người dân địa phương. Burda (1997) [54] cũng đã nhìn
nhận về quản lý rừng cộng đồng rằng: “Những người dân sống lâu ở trong
rừng có những kiến thức đặc biệt về sinh thái bản địa và những ảnh hưởng
dài hạn về mặt xã hội, môi trường của rừng đến cuộc sống của họ. Sự tập
trung hoá trong hệ thống quản lý quan liêu thiếu đi sự linh động và khả năng
thích ứng với những điều kiện thực tiễn của các địa phương khác nhau. Trong
khi đó quản lý rừng cộng đồng giúp cho con người sống gần gũi hơn với thiên
nhiên và từ đó lập ra những thiết chế, kế hoạch nhằm quản lý và sử dụng
rừng một cách hiệu quả hơn. Quản lý rừng cộng đồng đã tạo ra một hệ thống
nhạy bén để nhanh chóng đưa ra những quyết định và hành động nhằm thích
ứng với những thay đổi của điều kiện cụ thể. Các quyết định này nhằm đáp
ứng lợi ích của toàn thể cộng đồng, những người chịu trách nhiệm trực tiếp
trong việc đưa ra những quyết định đó”.
Herb (1991) [57] cũng đã đưa ra những lập luận nhằm ủng hộ quản lý
vệ chống cát bay, chống sạt lở đất...; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài,
bảo tồn các hệ sinh thái...). Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi
trường, cụ thể: Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên
tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng;
7
duy trì và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật
làm tăng năng suất rừng); Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh
rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã
hội, bảo đảm quyền hạn và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân,
với cộng đồng địa phương; Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh
rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng
sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác.
1.2. Vai trò và tác động của cộng đồng đối với rừng
Theo nghĩa chung, quản lý tài nguyên được hiểu là tập hợp những hoạt
động nhằm bảo vệ, sử dụng và phát triển tài nguyên. Một nguồn tài nguyên
được quản lý tốt là nó được bảo vệ tốt, phát triển thêm về số lượng, nâng cao
về chất lượng và sử dụng hiệu quả. Tài nguyên rừng là một bộ phận của tài
nguyên nói chung. Vì vậy, quản lý tài nguyên rừng thực chất là những hoạt
động bảo vệ, sử dụng và phát triển chúng vì lợi ích của con người và môi
trường. Để tài nguyên rừng được quản lý một cách bền vững, đòi hỏi phải có
sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành, các cá nhân trực tiếp và gián tiếp
tham gia vào quá trình này. Phân tích vai trò của các bên liên quan trong quản
lý tài nguyên rừng nhằm tìm ra điểm thống nhất chung giữa các bên, góp phần
đề xuất các giải pháp giải quyết những mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa con người với tài nguyên rừng nhằm bảo vệ, sử dụng và phát triển
chúng một cách có hiệu quả (Hoàng Mạnh Quân và ctv, 2005) [15].
Theo Nguyễn Hồng Quân, Phạm Xuân Phương và Vũ Long (2006)
người dân trong công tác quản lý tài nguyên chính là động cơ kinh tế. Điều
này có nghĩa là các chiến lược thúc đẩy sự tham gia phải giúp tạo ra những
tình huống quản lý mà tất cả các bên liên quan đều cảm thấy cùng có lợi. Giải
quyết các vấn đề về quyền lợi chính đáng của các bên liên quan trong quản lý
9
và phát triển tài nguyên rừng trở thành một yếu tố quan trọng. Tuy nhiên, lợi
ích mà các bên liên quan nhận được không phải chỉ là lợi ích kinh tế trực tiếp,
các cộng đồng muốn bảo vệ rừng vì muốn tạo ra một cơ sở tài nguyên, một
môi trường tự nhiên đảm bảo cho các sinh kế của họ và một bối cảnh văn hóa,
gắn liền môi trường sống với các giá trị văn hóa mà các cộng đồng đã gắn bó
lâu dài. Hơn thế nữa, việc hưởng dụng các lợi ích này có thể liên quan đến
công bằng xã hội.
Sự tham gia trong quản lý rừng không đơn thuần là một thuật ngữ mà
đã và đang trở thành một khái niệm, một thực tiễn. Tuy nhiên, có nhiều quan
điểm khác nhau về khái niệm sự tham gia. Theo Ngân hàng thế giới, sự tham
gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể hay các
bên liên qua cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng ra
quyết định. Năm 1994, Hoskin đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn về sự tham
gia trong lâm nghiệp, đó là “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng
của nam và nữ trong cộng đồng (những người bên trong cộng đồng) với sự hỗ
trợ của những người bên ngoài cộng đồng”. Năm 1996, Hosley đưa ra các
mức độ từ thấp đến cao của sự tham gia, đó là: tham gia có tính chất vận
động; tham gia bị động; tham gia qua hình thức tư vấn; tham gia vì mục tiêu
được hưởng các hỗ trợ vật tư từ bên ngoài; tham gia theo chức năng; tham gia
hỗ trợ; tự huy động và tổ chức. Fisher (1984) cho rằng, không có vai trò trong
quá trình quyết định thì sự tham gia chỉ là vô nghĩa. Câu hỏi quan trọng nhất
ở đây không phải “ai thực hiện” mà “ai quyết định” trong quản lý rừng (dẫn
15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000 - 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc
thấp khác. Năm 1962, G. N. Slucop đã đưa ra số lượng các loài thực vật hạt
11
kín phân bố ở các châu lục như sau: Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài, Châu
Âu có khoảng 15.000 loài, Châu Phi có khoảng 40.500 loài, Châu Á có
khoảng 125.000 loài và Châu Úc có khoảng 21.000 loài.
Lecointre và Guyader (2001) đã đưa ra bảng đánh giá số loài thực vật
bậc cao được mô tả trên toàn thế giới như sau: Nấm 100.800 loài (5,80%),
Ngành Rêu 15.000 loài (0,90%), Ngành Thông đất 1.275 loài (0,07%), Ngành
Dương xỉ 9.500 loài (0,50%), Ngành Thông 601 loài (0,03%), Ngành Ngọc
lan 233.885 loài (13,40%).
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu
được tiến hành từ lâu trên thế giới. Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên
cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933),
Creepva (1978)… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình
thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác
biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của
nó. Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu
quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật.
Ramakrishman (1981 - 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy
ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã khẳng định: chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài
ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời
gian bỏ hoá.
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực
vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
I. K. Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường
đông, sinh sản…
13
Xêrêbriacốp (1964) đưa ra bảng phân loại dạng sống mang tính chất
sinh thái học hơn của Raunkiaer. Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu
hiệu hình thái sinh thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả
nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể bao gồm: ngành, kiểu, lớp và
lớp phụ. Trong bảng phân loại này không bao gồm những cây thuỷ sinh.
Trong bảng phân loại này ông còn chia ra các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm
phụ, tổ và các dạng đặc thù.
Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên
bởi Canon (1911), sau đó hàng loạt bảng đã được đưa ra. Với cây thảo, đặc
điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó
biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu
năm của cây. Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia
dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc
trưng của môi trường.
1.3.2. Ở Việt Nam
Bảng phân loại đầu tiên của ngành Lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực
vật rừng ở Việt Nam là bảng phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng
(1960). Theo bảng phân loại này rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia
làm 4 loại hình lớn: Loại I: đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi.
Loại II: gồm những rừng non mới mọc. Loại III: gồm tất cả các loại hình rừng
bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt. Loại IV: gồm những rừng già nguyên
sinh chưa bị phá hoại hoặc khai thác hợp lý.
Trần Ngũ Phương (1970) [32] đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền Bắc
Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai
rừng á nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao.
15
những đặc điểm cơ bản của 265 họ và khoảng 2.300 chi thuộc ngành hạt kín ở
nước ta [4]. Gần đây, Phan Kế Lộc (1985) [23] đã kiểm kê và ghi nhận đến
nay trong hệ thực vật Việt Nam đã biết được 9.653 loài thực vật bậc cao có
mạch mọc tự nhiên, thuộc 2.011 chi và 291 họ. Nếu kể cả khoảng 733 loài
cây trồng đã được nhập nội thì tổng số loài thực vật bậc cao có mạch biết
được ở Việt Nam đã lên tới 10.386 loài, thuộc 2.257 chi và 305 họ, chiếm
khoảng 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số họ của toàn thế giới.
Cũng do điều kiện khí hậu và địa hình đa dạng, đặc thù nên hệ thực vật
nước ta có thành phần loài khá phong phú mang cả yếu tố của thực vật nhiệt
đới ẩm Indonesia - Malaisia, yếu tố của thực vật nhiệt đới gió mùa, thực vật ôn
đới nam Trung Hoa và các yếu tố của thực vật Ấn Độ - Trung và Nam Tiểu Á.
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc
Việt Nam có 5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ. Nguyễn Đăng Khôi (1971)
đã bổ sung thêm 26 loài không được F. Gagnepain ghi nhận ở Miền bắc Việt
Nam trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương”. Nguyễn Đăng Khôi và
Nguyễn Văn Phú (1975) đã thống kê 39 loài cây bộ Đậu thân bò và thân leo
làm thức ăn giàu protein cho gia súc Miền Bắc Việt Nam. Thái Văn Trừng
(1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch
thuộc 1850 chi, 289 họ [46]. Phan Kế Lộc (1978) điều tra phát hiện 20 loài
cây có tannin thuộc họ Trinh nữ (Mimosaceae) và giới thiệu 4 loài khác mọc
ở Việt Nam có tannin [22]. Hoàng Chung (1980) [6] khi nghiên cứu đồng cỏ
vùng núi Bắc Việt Nam đã công bố thành phần loài thu được gồm 233 loài
thuộc 54 họ và 44 bộ. Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ
thực vật Tây Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã
biết của toàn Đông Dương [3].
17
bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B),
ký sinh (K), bì sinh (B).
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các
trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây
chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật;
nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43
loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1
năm có 35 loài chiếm 10,80% [18].
Lê Ngọc Công (2004) [11] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng
bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực
vật thành các nhóm dạng sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo.
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trọng hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tương đối trong một giai đoạn
phát triển nhất định của tự nhiên. Cấu trúc của rừng vừa là kết quả, vừa là sự
thể hiện quan hệ đấu tranh và thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với
môi trường sinh thái và giữa các sinh vật với nhau. Các nhân tố trong cấu trúc
rừng là: cấu trúc tổ thành, cấu trúc tầng (trên mặt đất và dưới mặt đất), cấu
trúc tuổi…
Phạm Minh Nguyệt (1994) [31] đưa ra những tiêu chuẩn về một cấu
trúc rừng cần được quan tâm khi tiến hành chặt tu bổ. Cấu trúc thích hợp tức
là mọi tầng cây đều phát triển tốt. Tầng cây trên cung cấp nguyên vật liệu cho
kinh doanh nhưng cũng tạo ra các điều kiện khác cho cây rừng phát triển cân
đối nhịp nhàng. Tầng trung bình bổ sung độ tàn che tạo điều kiện sinh thái
thuận lợi cho cây rừng và cung cấp một số nguyên liệu. Tầng cây tái sinh mọc
18
Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho
việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe dọa trên thế giới
[59]. Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hoá như sau: loài
tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy
cấp (VU)…
1.4.2. Ở Việt Nam
Tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể tác giả thuộc
Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học
và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài
thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam. Cuốn sách được xuất
bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007. Trong cuốn “sách đỏ
Việt Nam (phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài (thuộc 201 họ) quý
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ.
Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP [27] về quản lý thực vật, động vật
rừng nguy cấp, quý, hiếm đã chia thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,
hiếm thành 2 nhóm:
- Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm
những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi
trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự
nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao. Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I
được phân thành: nhóm IA gồm các loài thực vật rừng thuộc 2 ngành là:
ngành Thông với 7 loài và ngành Mộc lan với 8 loài, nhóm IB gồm các loài
động vật rừng.
- Nhóm II: hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, gồm
những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị khoa học, môi trường hoặc
có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy
20
tác động của thiên nhiên và con người. Bão lụt hàng năm thường xuyên đe
dọa đời sống của cư dân địa phương. Nguy cơ sạt lở bờ biển và hiện tượng cát
bay, cát trôi, cát chuồi là những mối đe dọa thường xuyên. Ngay cả việc phát
triển sản xuất nâng cao đời sống trong mấy năm gần đây như đào hồ nuôi
trồng thủy sản cũng đã làm xáo trộn không ít cảnh quan, môi trường; cộng với
việc khai khoáng đại trà đã làm cho những vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó
lại càng khốn khó hơn. Thực trạng nhiễm mặn đất trồng, sa mạc hóa cảnh
quan, gia tăng hạn hán, ngập úng do lún sụt địa tầng... do hậu quả của khai
khoáng và đào hồ nuôi trồng thủy sản thiếu kiểm soát gây ra, đã và đang là
vấn nạn của đời sống cư dân tại chỗ.
Một trong những phương thức phát triển bền vững là phải là xây dựng hệ
thống nông lâm kết hợp lấy nguồn gen bản địa làm gốc, bảo tồn, phát triển
thảm thực vật tự nhiên đã có trên cơ sở hiểu biết tường tận tiềm năng đất đai
và đa dạng sinh học.
Năm 2000, tác giả Đỗ Xuân Cẩm, Đặng Thái Dương và cộng tác viên của
Trường Đại học Nông Lâm Huế đã nghiên cứu trồng thử nghiệm một số loài
cây trồng bản địa thân gỗ trên vùng đất cát nội đồng huyện Phong Điền tỉnh
Thừa Thiên Huế [2].
Năm 2005, Trường Đại học Nông Lâm Huế đã có nghiên cứu về tiềm
năng sử dụng cây bản địa ở vùng cát ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, qua bước
đầu điều tra đã xác định được 372 loài, thuộc 268 chi và 112 họ thực vật khác
nhau. Trong đó có họ Myrtaceae có giá trị nhất về phục hồi rừng tự nhiên và
khai thác gỗ củi. Trong số 7 chi hiện hữu của họ này ở vùng nghiên cứu, chi
Syzygium có đến 6 loài, trong đó có 5 loài cây gỗ có ý nghĩa sinh thái và sử
dụng vào đời sống… Từ đó đã đề xuất một số nhóm cây gỗ, cây bụi sử dụng
22
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.1.1. Vị trí địa lý
- Thị xã Sông Cầu nằm ở phía Bắc của tỉnh Phú Yên, cách Thành phố
Tuy Hòa khoảng 60 km (dọc theo quốc lộ 1A) và cách Thành phố Quy Nhơn
42 km (theo quốc lộ 1D). Toàn thị xã gồm có 10 xã và 04 phường.
- Tọa độ đạ lý:
Từ 13021’ - 13042’ vĩ độ Bắc
Từ 109006’ - 109020’ kinh độ Đông
- Ranh giới:
+ Bắc giáp tỉnh Bình Định
+ Nam giáp huyện Tuy An
+ Đông giáp biển Đông
+ Tây giáp huyện Đồng Xuân
- Tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã là 48.928,48 ha, chiếm 9,7% diện
tích tự nhiên toàn tỉnh Phú Yên. Sông Cầu có quốc lộ 1A đi xuyên qua suốt
chiều dài của thị xã, hầu hết các khu dân cư và các vùng kinh tế trọng điểm
đều nằm trãi dài theo dọc tuyến quốc lộ 1A và 1D. Tập trung nhiều nhất nằm
ở phía Bắc thị xã Sông Cầu dọc theo tuyến quốc lộ 1D.
- Địa danh khu vực nghiên cứu: xã Xuân Hòa - thị xã Sông Cầu, tỉnh
Phú Yên.