Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện con cuông, tỉnh nghệ an - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN TRỌNG BẰNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN 661
TẠI HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ SỸ VIỆT

Hà Nội, 2012


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một hệ sinh thái đa dạng, phong phú, có vai trò cực kỳ quan
trọng đối với môi trường sống và là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của
mỗi quốc gia. Tuy nhiên với không ít lý do, từ năm 1943 đến năm 1998, rừng
nước ta đã mất đi 14% độ che phủ. Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới
sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường, đặc biệt là tới sinh kế của
các cộng đồng nông thôn miền núi nước ta.

tổng hợp các tác động kinh tế, xã hội, môi trường tiến tới phát triển bền vững
mà chỉ đề cập ở một khía cạnh hoặc là các tác động kinh tế, xã hội, hoặc là
các tác động môi trường… Do vậy, Dự án này được đánh giá thực sự là cần
thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn.
Con Cuông tỉnh Nghệ An là một huyện miền núi nằm phía Tây nam tỉnh
Nghệ An cách trung tâm tỉnh 130 km. Gồm 12 xã 1 thị trấn. Diện tích tự
nhiên chủ yếu là đất lâm nghiệp, mật độ dân cư thưa nằm rải rác tại các thôn,
bản, trình độ dân trí thấp, thành phần dân tộc đa dạng, tập quán canh tác lạc
hậu. Hoạt động sản xuất Nông lâm nghiệp là chính do vậy đời sống nhân dân
còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong những năm gần đây huyện cũng đã tham
gia và triển khai nhiều dự án trồng rừng trong đó Dự án 661 là dự án trọng
điểm thực hiện từ năm 1998 đến nay. Dự án đã thu hút đông đảo người dân
tham gia qua đó sự thành công của Dự án thể hiện diện tích đất trống đồi núi
trọc đã được phủ xanh, nâng cao độ che phủ của rừng, góp phần đáng kể trong
việc cải thiện kinh tế - xã hội, môi trường trên địa bàn huyện;
Vì vậy, để có kết luận những đóng góp về mặt tích cực cũng như những
mặt cần bổ sung của Dự án đối với cộng đồng và làm căn cứ kiến nghị, đề
xuất đối với các Dự án khác có đặc điểm tương tự, tác giả tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện Con Cuông tỉnh
Nghệ An”.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Ý nghĩa của việc đánh giá tác động
Hiện nay ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung đang đứng
trước thời kỳ biến đổi khí hậu toàn cầu gây thiên tai lũ lụt, băng tan, sóng thần
...với tính chất ngày càng phức tạp và khó kiểm soát. Bên cạnh đó việc gia

1.2.1.1. Khái niệm về Dự án
Trong lý thuyết cũng như thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau về Dự án. Mỗi quan điểm về Dự án xuất phát từ
cách tiếp cận khác nhau tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu, khái niệm về Dự án
đã và đang được bổ sung hoàn thiện.
Theo Cleland và King(1975): Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và
tài lực trong một thời gian nhất định để đạt đưọc một mục tiêu định trước;
Clipdap cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một
vấn đề hay để hoàn thiện một trạng thái cụ thể trong một thời gian xác định;
Gittinger(1982) đưa ra quan điểm: Dự án là tập hợp các hoạt động mà ở
đó tiền tệ được đầu tư với hy vọng được thu hồi lại. Trong quá trình này các
công việc kế hoạch tài chính, vận hành hoạt động là một thể thống nhất, được
thực hiện trong một khoảng thời gian xác định;
Theo WB: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên
quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong
một khoảng thời gian nhất định;
Theo Lyn Squire : Dự án là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các
nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có, nhằm đem lại lợi ích cho xã hội càng nhiều
càng tốt
Từ điển xã hội học của của David Jary và Julia Jury, đưa ra định nghĩa về
Dự án như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích
hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng. Theo định nghĩa này
có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian,
nhân lực và tài chính cụ thể. Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên


5

ngoài và bên trong cộng đồng. Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành
công của Dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật

thụ hưởng;
Trong một Dự án, hoạt động đánh giá là khâu cuối cùng trong tiến trình
triển khai Dự án cho cộng đồng. Thực ra đánh giá không chỉ tiến hành một lần
vào cuối Dự án. Đó mới chỉ là đánh giá tổng thể. Trong quá trình thực hiện Dự
án, hoạt động đánh giá có thể được tiến hành vào những giai đoạn quan trọng,
thường gọi là đánh giá giai đoạn (Gittinger,1982). Nhiều tác giả cho rằng, điều
quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên có liên quan
mà quan trọng nhất là người hưởng lợi từ Dự án;
Các tác giả và các tổ chức trên thế giới như Jim Woodhill, Lisa Robins,
Joachim Theis, Heather. M. Grady, ARI ... đã phân chia thành hai loại đánh
giá: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình. Đánh giá mục tiêu là xem xét liệu
Dự án có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào việc phân tích
các chỉ số đo đạc hiệu quả thu được. Đánh giá tiến trình, mở rộng diện đánh giá
hơn so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để
xem xét nhiều vấn đề của Dự án;
Các phương pháp đánh giá Dự án cũng được phát triển mạnh mẽ từ
những năm 50, 60 của thế kỷ trước, khi các Dự án phát triển cộng đồng ra
đời. Các phương pháp bao gồm: Phương pháp người dân tham gia đánh giá
(PRA), phương pháp phỏng vấn, phương pháp động não, Điều tra khảo sát,
nhật ký theo dõi, tranh ảnh... Những hình thức khích lệ sự tham gia của cộng
đồng (chò chơi, ca nhạc, kịch...) cũng được sử dụng để chính người dân địa
phương tham gia thấy được những kết quả cụ thể của Dự án.
1.2.1.3. Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án
Trên thế giới, việc đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường của
Dự án hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó đã có lịch sử hàng trăm
năm. Trên cơ sở xem xét các nội dung mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, kết quả


7



tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994). Trong những năm 1970 và đầu 1980,
ở một số nước đang phát triển như Thái Lan, Singapo, Philippine, Indonesia... đã
ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trường;
Năm 1972, Liên hiệp quốc đã tổ chức hội nghị về môi trường của con
người với mục đích là tìm hướng giải quyết những tác động không mong
muốn mà cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật gây ra đối với môi trường
sống. Các tổ chức UNEP, UNDP, WB đã công bố “Tuyên bố về các chính
sách và thủ tục về môi trường” nói lên quan điểm phải kết hợp giữa phát triển
kinh tế - xã hội với việc bảo vệ môi trường và quy định trong các Dự án phát
triển do các cơ quan này viện trợ hoặc cho vay vốn phải báo cáo đánh giá tác
động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994);
Năm 1979, tổ chức FAO đã xuất bản tài liệu “Phân tích các Dự án lâm
nghiệp” do Hans M-Gregersen và Amoldo H. Contresal biên soạn. Đây là tài
liệu giảng dạy dùng cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư Dự án trồng
rừng và phát triển lâm nghiệp; tài liệu này tương đối đầy đủ và phù hợp với điều
kiện đánh giá hiệu quả các Dự án lâm nghiệp ở các nước đang phát triển.
 Giai đoạn 2: Từ đầu những năm 1980 đến nay, với đặc trưng của giai
đoạn này là phát triển bền vững, trong đó đã thể hiện được sự bổ sung hỗ trợ
lẫn nhau giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường;
Từ những năm 1980 cho đến nay, khái niệm phát triển bền vững đã được
nêu ra và ngày càng trở nên phổ biến. Ngày nay quan điểm phát triển bền
vững đã trở thành một quan điểm chính thống và bắt buộc mọi người không
thể bỏ qua. Bản báo cáo “Tương lai Chung của Chúng ta” của ủy ban
Brundtland (1987) đã công nhận đánh giá tác động môi trường là một bộ phận
cấu thành quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình phát triển bền vững. Báo cáo
cũng đã vạch ra sự tham gia rộng lớn hơn của cộng đồng vào các quyết định


9

10

- Dự án là một tổng thể những hoạt động được kế hoạch hóa thành những
công việc cụ thể nhằm đạt một số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian
và khuôn khổ chi phí nhất định;
Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, Dự án được hiểu như một kế
hoạch can thiệp để giúp cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện điều kiện
sống trên một địa bàn nhất định;
Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngừa thảm họa đã đưa ra hai
khái niệm về Dự án:
- Dự án là một quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt
được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó;
- Dự án là một quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt
được mục tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong một thời gian nhất định;
Theo bài giảng về Quản lý DA lâm nghiệp xã hội của Trung tâm đào tạo
lâm nghiệp xã hội (Đại học lâm nghiệp), để nhìn nhận Dự án một cách đầy đủ
nhất phải đứng trên nhiều khía cạnh khác nhau vê hình thức, nội dung, cách
thức quản lý và kế hoạch;
- Về mặt hình thức: Dự án là một tập tài liệu trình bày chi tiết và có hệ
thống các hoạt động và chi phí dưới dạng một bản kế hoạch để đạt được
những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai;
- Về mặt quản lý: Dự án là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư
lao động để tạo ra các kết quả kinh tế, tài chính xã hội, môi trường trong
tuơng lai;
- Về mặt kế hoạch: Dự án là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết để đầu tư
sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội làm tiền đề cho các quyết định đầu
tư và tài trợ. Dự án đầu tư là một hoạt động riêng lẻ, nhỏ nhất trong công tác kế
hoạch nền kinh tế;



12

Năm 1985, trong quyết định về điều tra, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trường, Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã
nêu: “Trong xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của các chương trình xây
dựng lớn hoặc các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, cần tiến
hành đánh giá tác động môi trường”. Như vậy có thể nói từ đây vấn đề đánh
giá tác động Dự án đã trở thành một yếu tố quan trọng không thể thiếu được
trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta;
Năm 1994, Lê Thạc Cán hoàn thành công trình nghiên cứu “Đánh giá
tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” tạo tiền đề
cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên
cứu tiếp theo;
Hoàng Xuân Tý (1994) với công trình “Bảo vệ đất và đa dạng sinh học
trong các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” đã tiến hành những nghiên
cứu về kinh tế, môi trường. Song, trong các phân tích, đánh giá tác giả thường
thiên về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không
đánh giá một cách toàn diện các mặt trên;
Cũng trong năm 1994, nhiều công trình của nhiều tác giả khác đã tiến
hành những nghiên cứu về tác động môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của
các phương thức canh tác như: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm với công trình
“Hiệu quả các biện pháp canh tác trên đất dốc” và “Sử dụng đất trống, đồi núi
trọc và bảo vệ rừng”; Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải và tập thể với công
trình “Nghiên cứu và đề xuất mô hình phát triển kinh tế môi trường tại một số
vùng sinh thái điển hình”; Phùng Ngọc Lan, Vương Văn Quỳnh với đề tài
“Nghiên cứu khả năng giữ nước và bảo vệ đất của các phương thức canh tác
trong các hộ gia đình ở huyện Hàm Yên - Tuyên Quang”;
Trần Hữu Dào (1995) đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh doanh cả
3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng rừng quế



kinh tế- xã hội của địa phương với Luận văn thạc sỹ “ Bước đầu đánh giá hiệu
quả của các Dự án 327, ảnh hưởng của nó đến việc quản lý sử dụng đất và kinh
tế - xã hội tại các khu vực vùng Lâm trường Quy Nhơn- Bình Định”;
Năm 2002, Phạm Xuân Thịnh với Luận văn thạc sỹ “Đánh giá tác động
của Dự án KFW1 tại vùng Dự án xã Tân Hoa huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc
Giang” đã đề cập đến một số tác động của Dự án trên các mặt kinh tế, xã hội
và môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo, có sự so
sánh các lĩnh vực trước và sau Dự án. Tuy nhiên, trong công trình này tác giả
mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực chưa đi sâu phân tích những tác
động tiêu cực của Dự án;
Công tác đánh giá tác động kinh tế, xã hội và môi trường ở nước ta hiện
nay có thể nói còn rất mới mẻ, đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Đây lại
là vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có đầu tư thích đáng về thời gian và tiền của
nên nhìn chung chúng ta còn thiếu hụt về thông tin, về phương pháp luận và
kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Chính những tồn tại trên đây là một trong
những nguyên nhân gây trở ngại cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường,
thực hiện các chính sách về môi trường nói chung. Do vậy chúng ta cần phải
tiếp tục có những nghiên cứu nhằm hoàn thiện dần phương pháp luận cũng
như tích luỹ dần kinh nghiệm thực tiễn, đồng thời làm phong phú thêm nguồn
thông tin cho các nhà nghiên cứu sau này. Xuất phát từ những lý do nêu trên,
chúng tôi chọn đề tài: “Đánh giá tác động của dự án 661 tại huyện Con
Cuông tỉnh Nghệ An” để thực hiện trong khuôn khổ một bản luận văn tốt
nghiệp cao học tại trường Đại học Lâm nghiệp.


15

Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

16

3. Đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án tại Huyện Con Cuông
tỉnh Nghệ An.
4. Đánh giá một số tác động của Dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và môi
trường.
5. Đề xuất một số giải pháp để duy trì, phát triển cho việc triển khai thực hiện
dự án tiếp theo.
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Quan điểm và phương pháp luận
Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định thông qua việc
sử dụng các nguồn lực xác định. Dự án khi đi vào hoạt động thường gây nên
những tác động đến kinh tế, xã hội, môi trường. Những tác động đó cũng có thể
là trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể là tích cực hay tiêu cực. Tuy nhiên, những tác
động đó luôn thay đổi theo thời gian và không gian cụ thể. Xác định được sự
thay đổi đó con người có thể điều chỉnh theo mục đích của mình. Cũng như các
hoạt động của Dự án chúng ta có thể nghiên cứu và điều chỉnh sao cho đạt hiệu
quả cao nhất cả về kinh tế, xã hội và môi trường, hạn chế thấp nhất những tác
động tiêu cực;
Dự án 661 đầu tư cho việc khôi phục, bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng,
hỗ trợ phát triển Nông lâm nghiệp miền núi. Mục tiêu của Dự án là trồng rừng
phủ xanh đất trống đồi núi trọc, góp phần xóa đói giảm nghèo tăng thu nhập
cho người dân, đảm bảo cung cấp nguyên liệu lâm sản;
Để đảm bảo tính khách quan và độ chính xác, khi đánh giá tác động của
một dự án nào đó phải đứng trên tổng thể các mối quan hệ của nó và quá trình
đánh giá phải được thực hiện trong suốt thời gian hoạt động của Dự án thì sẽ
mang lại hiệu quả cao. Với giới hạn nhất định của đề tài chỉ nghiên cứu một số
yếu tố cơ bản có liên quan mật thiết đến các hoạt động của Dự án và công tác
phục hồi, phát triển tài nguyên rừng. Trong quá trình đánh giá các yếu tố, có thể

Đánh giá tác động của
dự án

Tác động kinh tế

Tác động xã hội

Đề xuất giải pháp phát
triển dự án trong tương lai

Hình 2.1: Sơ đồ quá trình nghiên cứu

Tác động môi trường


18

2.5.2. Phương pháp điều tra thu thập số liệu
2.5.2.1. Lựa chọn điểm nghiên cứu
Do giới hạn về mặt thời gian nên Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tại
một xã trong đó các hộ gia đình, người dân đã tham gia và không tham gia dự
án Dự án.
2.5.2.2. Phương pháp kế thừa tài liệu
Để rút ngắn khối lượng và thời gian nghiên cứu, một số tài liệu thứ cấp
đươc kế thừa một cách có chọn lọc, bao gồm:
- Những văn kiện Dự án, các văn bản của nhà nước như các văn bản
pháp luật, các nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của các bộ,
ngang bộ, quyết định thực hiện Dự án...;
- Các báo cáo giám sát đánh giá Dự án, báo cáo tổng kết thường kỳ, các
biên bản nghiệm thu, thẩm định, hồ sơ thiết kế.

nhóm sẽ có sự biến động qua lại trong tổng số hộ được điều tra);
+ Các thông tin phỏng vấn được ghi chép trong phiếu điều tra HGĐ.
b. Điều tra về xã hội
+ Tiến hành đồng thời với điều tra kinh tế, sử dụng công cụ là bộ câu
hỏi ghi trong phiếu điều tra phỏng vấn tại 40 hộ gia đình nói trên;
+ Các thôn còn lại tham gia dự án, tiến hành phỏng vấn sâu mỗi thôn 40
hộ điển hình (10 hộ nhóm khá, 10 hộ nhóm trung bình, 10 hộ nhóm nghèo, 10
hộ không tham gia Dự án; chú ý đến đối tượng phỏng vấn đại diện cho thành
phần dân tộc, tuổi, giới tính).
c. Điều tra về môi trường
Thực hiện tương tự như điều tra về mặt xã hội. Trong đó, các số liệu,
thông tin thu thập theo phương pháp PRA đều được kiểm tra tính thực tiễn
thông qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo;


20

Ngoài ra, khi điều tra, có những vấn đề phát sinh, những thông tin mới
ngoài bộ câu hỏi cũng được ghi chép lại làm tài liệu tham khảo.
2.5.3. Phương pháp đánh giá các hoạt động của dự án
2.5.3.1. Đánh giá các hoạt động của dự án.
Từng hoạt động của Dự án được tổng hợp, đánh giá trên 4 khía cạnh:
Điểm mạnh, điểm yếu, khó khăn trở ngại và khuyến nghị.
2.5.3.2. Phương pháp đánh giá tác động dự án.
(1) Phương pháp đánh giá các tác động của môi trường
a. Đánh giá sự thay đổi về diện tích rừng, độ che phủ rừng.
Kế thừa từ tổng hợp kết quả trồng rừng của Dự án, Số liệu hiện trạng
rừng vào các thời điểm trước và sau khi thực hiện Dự án.
b. Đánh giá về lượng nước thấm vào đất (W)
Xác định theo công thức của Vưscotsky (1937): W= P0 – (Eb+T+S)

cỏc biện phỏp canh tỏc bảo vệ đất (P)

e. Đánh giá về mức độ cải thiện nguồn nước trong khu vực
Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá nguồn nước địa phương tại hai thời
điểm trước và sau DA rồi tiến hành đánh giá theo phương pháp cho điểm từng
chỉ tiêu (tối đa là 10 điểm).
(2) Phương pháp đánh giá tác động kinh tế
a. Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình rừng dự án
Dự án trồng rừng 661 được sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước,
nên vốn đầu tư không phải chịu lãi suất. Tuy nhiên do đặc thù chu kỳ kinh
doanh (CKKD) cây lâm nghiệp thường dài nên phương pháp tính toán hiệu
quả kinh tế ở đây được tính theo phương pháp động với giả thiết là phải chịu
lãi suất tín dụng theo quy định được áp dụng cho các chương trình và Dự án
khác. Cách là này tuy làm giảm về hiệu quả kinh tế của Dự án song lại phù
hợp với thực tế sản xuất hiện nay khi phải vay vốn đầu tư và chịu lãi suất tiết
kiệm, các chỉ tiêu kinh tế ở đây được tính toán gồm:


22

+ NPV: Giá trị hiện tại của thu nhập ròng: (theo công thức của DK.
Paul)

NPV 

n

t 0

Trong đó:


t 0

(1 r )


BCR  BPV / CPV 



t

t

Trong đó: BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng).
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng).
Chỉ tiêu này chính là hệ số sinh lãi thực tế nó phản ánh về mặt chất
lượng đầu tư tức là cho ta biết được mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản
xuất. Nó cho phép ta so sánh và lựa chọn các phương án có qui mô và kết cấu
đầu tư khác nhau, phương án nào có BCR lớn thì được lựa chọn BCR > 1 kinh
doanh có lãi, BCR < 1 kinh doanh bị thua lỗ;
+ IRR(%): Tỷ lệ thu hồi nội bộ: là chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời tối
đa của một mô hình rừng trồng, nếu mô hình nào vay vốn với lãi suất IRR thì
mô hình đó sẽ hoà vốn. nghĩa là NPV = 0 thì r =IRR.


23

Tiêu chuẩn đánh giá: IRR: IRR> r, mô hình có lãi;
IRR = r, mô hình hoà vốn;

Vấn đề bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, làm giàu rừng, trồng
rừng hợp lý ... là những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế tốc độ suy thoái cả
về số lượng và chất lượng của rừng.
Nhận thức được mối nguy cơ từ hiểm họa suy thoái tài nguyên rừng,
trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã banh hành nhiều chủ trương, chính
sách, bằng mọi cách hạn chế tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi và khuyến
khích trồng cây gây rừng. Đặc biệt Dự án 661 được Quốc hội Việt Nam khóa
X phê chuẩn bằng Nghị quyết số 08/1997/QH10 và được Thủ tướng Chính
phủ chỉ đạo thực hiện bằng Quyết định số 661/QĐ - TTg ngày 29 tháng 7 năm
1998. Dự án 661 là một chương trình kinh tế - xã hội - sinh thái trọng điểm
của Nhà nước Việt Nam theo đó sẽ trồng mới 5 triệu ha rừng và bảo vệ diện
tích rừng hiện có trong thời kỳ từ năm 1998 đến năm 2010 nhằm nâng cao độ
che phủ của rừng Việt Nam lên 43% vào năm 2010.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status