BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG
----------
NGUYỄN PHƯƠNG MAI
THùC TR¹NG B¹O LùC HäC §¦êNG ë HäC SINH
TR¦êNG THCS CAM TH¦îNG, HUYÖN BA V×, THµNH
PHè Hµ NéI N¡M HäC 2015-2016 Vµ MéT Sè YÕU Tè
LI£N QUAN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2010-2016
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. VŨ KHẮC LƯƠNG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp tiến hành đề tài nghiên cứu, với lòng kính trọng và biết ơn sâu
sắc, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội
Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, trong sâu thẳm trái tim, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.VŨ
KHẮC LƯƠNG - người thầy đã trực tiếp dìu dắt, hướng dẫn, tạo mọi điều
kiện tốt nhất và giúp đỡ tôi tận tình trong suốt quá trình học tập tại trường và
Bạo lực
BLHĐ
Bạo lực học đường
Bộ GD – ĐT
Bộ Giáo dục và đào tạo
CDC
Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch
bệnh Hoa Kỳ
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
HS
Học sinh
THCS
Trung học cơ sở
THPT
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu.......................................................................25
2.4.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu............................................................25
2.4.3. Biến số, chỉ số...............................................................................27
2.5. Xử lý và phân tích số liệu.....................................................................30
2.6. Sai số và cách khống chế sai số............................................................30
2.7. Đạo đức trong nghiên cứu....................................................................31
Chương 3........................................................................................................33
KẾT QUẢ.......................................................................................................33
3.1. Thông tin chung của học sinh tham gia nghiên cứu.............................33
3.2. Thực trạng về bạo lực học đường.........................................................34
3.2.1. Thực trạng chung về bạo lực học đường.......................................34
3.2.2. Thực trạng bạo lực học đường theo một số đặc tính của học sinh 41
3.3. Mối liên quan giữa bạo lực học đường và các yếu tố...........................45
Chương 4........................................................................................................49
BÀN LUẬN....................................................................................................49
4.1. Thông tin chung của học sinh tham gia nghiên cứu.............................49
4.2. Thực trạng về bạo lực học đường.........................................................49
4.2.1. Thực trạng chung về bạo lực học đường.......................................49
4.2.2. Thực trạng về hành vi bạo lực học đường ở học sinh trường THCS
Cam Thượng.................................................................................52
4.2.3. Thực trạng về tình trạng bị bạo lực học đường của học sinh trường
THCS Cam Thượng......................................................................54
4.3. Các yếu tố liên quan tới bạo lực học đường.........................................56
4.3.1. Các yếu tố liên quan tới hành vi bạo lực học đường.....................56
4.3.2. Các yếu tố liên quan tới tình trạng bị bạo lực học đường.............59
KẾT LUẬN....................................................................................................63
KHUYẾN NGHỊ............................................................................................65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Biểu đồ 3.10. Phản ứng của học sinh khi là nạn nhân của BLHĐ............40
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạo lực là vấn đề của con người ở mọi thời đại, mọi quốc gia và mọi
nền văn hóa. Trong cuộc sống, con người ở mọi lứa tuổi, mọi ngành nghề đều
có nguy cơ bị bạo lực. Bạo lực là hành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một
nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy cơ bị
tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến sự phát
triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác .
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là người sẽ góp phần xây
dựng quê hương, đất nước giàu mạnh trong tương lai. Tuổi vị thành niên là
giai đoạn phát triển rất cao về thể chất và có nhiều sang chấn, biến đổi trong
tâm lý hết sức phức tạp. Chính yếu tố tâm lý cũng như thể chất và nhân cách
chưa hoàn thiện một cách đầy đủ này khiến cho trẻ em trong lứa tuổi này hay
bị khủng hoảng về tâm lý dẫn đến những suy nghĩ và hành động sai lệch. Bạo
lực học đường (BLHĐ) là một phần của bạo lực giới trẻ, xảy ra trong khuôn
viên nhà trường, trên đường tới trường, hoặc từ trường về hay trong các hoạt
động do nhà trường tổ chức. Nó không phải là các lời nói, cử chỉ trêu chọc,
thân thiện khi vui đùa giữa các em . Bạo lực trong lứa tuổi học đường, tuy
không phải là vấn đề mới mẻ nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy xu
hướng bùng phát mạnh mẽ, mức độ và tính chất của hành vi này ngày càng
nguy hiểm ở Việt Nam . Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện
tại xã Cam Thượng - một xã thuộc huyện Ba Vì, ngoại thành Hà Nội. Kết quả
phỏng vấn cô Phan Thị Hiền- hiệu trưởng trường THCS Cam Thượng những năm gần đây, nhà trường đã ghi nhận bạo lực trong học sinh diễn ra cả
trong và ngoài trường học, đặc biệt xuất hiện những xô xát xuất phát từ những
mâu thuẫn, xích mích trên mạng xã hội đầy phức tạp . Với câu hỏi đặt ra: thực
chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị
tổn thương hoặc có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn
tâm thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng
khác” .
Định nghĩa này của WHO bao gồm cả những hành vi cố ý gây thương
tích giữa người với người và hành vi tự sát cũng như xung đột vũ trang. Với
bản chất như vậy thì bạo lực cũng có thể là những hình thức chém giết, đánh
đập, hành hạ nhau về mặt thể xác, nhưng cũng có thể là trấn áp, đe dọa, gây
sức ép về mặt tâm lý, tâm thần. Điều này phản ánh sự công nhận bạo lực
không nhất thiết phải dẫn đến tử vong hay thương tích mà còn gây ra ảnh
hưởng về tinh thần, đặt ra gánh nặng đáng kể với cá nhân, gia đình, xã hội và
hệ thống chăm sóc sức khỏe. Định nghĩa trên đã gạt bỏ đi sự cố không chủ ý,
những sự kiện xảy ra ngoài ý muốn (ví dụ tai nạn giao thông, tai nạn lao động,
cháy nổ, bỏng…) không được coi là bạo lực.
•Phân loại bạo lực
Tổ chức Y tế Thế giới đã phân loại bạo lực dựa trên sự khác nhau giữa
bạo lực của một người tự gây ra cho chính mình hay gây ra bởi nhiều người
khác, bởi một nhóm ít người hay nhiều người như các tổ chức chính trị, tổ
4
chức khủng bố, nhóm quân sự… Dưới đây là sự phân loại bạo lực theo phạm
vi bạo lực hoặc loại hành vi bạo lực, mỗi loại được chia nhỏ hơn phản ánh
nhiều loại bạo lực chi tiết hơn nữa .
a. Phạm vi bạo lực
- Bạo lực tự định hướng: được chia làm 2 thể chính.
+ Hành vi tự sát: bao gồm các hành vi nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sát
nhưng chưa thành và tự sát thành công.
+ Tự ngược đãi bản thân: là các hành động tự hành hạ bản thân.
bạo lực như bạo lực thể chất, bạo lực tình dục, bạo lực tinh thần cũng như kì
thị, xa lánh. Bạo lực cộng đồng có thể gồm bạo lực thể chất, bạo lực tình dục
ở nơi làm việc, kì thị, xa lánh người cao tuổi. Bạo lực chính trị có thể bao
gồm bạo lực tình dục trong các cuộc xung đột, chiến tranh, bạo lực thể chất và
bạo lực tâm lý,...
1.1.2. Bạo lực học đường và cách phân loại bạo lực học đường
•Khái niệm bạo lực học đường
Theo trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), bạo
lực học đường là một phần của bạo lực giới trẻ, xảy ra trong khuôn viên nhà
trường, trên đường tới trường, hoặc từ trường về hay trong các hoạt động do
nhà trường tổ chức. Nó không phải là các lời nói, cử chỉ trêu chọc, thân thiện
khi vui đùa giữa các em .
Bắt nạt học đường: là một hành động đối xử thô bạo trong giới học sinh
với nhau. Các hành vi bắt nạt bao gồm bạo lực về thể chất (đá, đấm,...) cho
đến việc sử dụng lời nói (đặt tên hay đe dọa) và bạo lực tinh thần như lời đồn,
xa lánh, cô lập .
Bạo lực học đường là thuật ngữ để chỉ các hành vi làm tổn hại đến thể
chất, tinh thần và vật chất của người khác dưới những hình thức khác nhau
diễn ra trong môi trường học đường. Còn hành vi BLHĐ được hiểu là hành vi
6
sử dụng sức mạnh từ một khách thể hay nhóm khách thể này đến khách thể
khác làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất của người khác dưới
những hình thức khác nhau diễn ra trong môi trường học đường .
• Phân loại bạo lực học đường
Bạo lực học đường được chia thành 4 nhóm dựa trên phân loại của một
số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam , , , .
- Bạo lực thể chất: bao gồm các hành vi vũ lực như đánh, đá, đấm, tát,
nhân liên quan đến bạo lực. Ở bất kì nơi đâu, tỷ lệ nam là nạn nhân của bạo
lực luôn cao hơn nữ. Điều này chứng tỏ nam giới là nhóm dân số có nguy cơ
cao hơn. Đi đôi với mỗi vụ tử vong do bạo lực trong giới trẻ, trung bình có từ
20-40 nạn nhân phải nhập viện do chấn thương. Các loại súng, súng ngắn là
vũ khí được sử dụng phổ biến trong các vụ bạo lực gây tử vong, trong khi đó
các vụ bạo lực có mức độ nhẹ hơn thưởng sử dụng đấm, đá, và một số loại vũ
khí khác như dao, gậy, dùi cui .
Ở châu Á, bạo lực học đường cũng trở thành một vấn đề nhức nhối của
ngành giáo dục nói chung và toàn xã hội nói riêng. Tổ chức phát triển cộng
đồng tập trung vào trẻ em Plan Internatinonal công bố báo cáo về tình trạng
bạo lực trong các trường học ở châu Á. Báo cáo dựa trên kết quả nghiên cứu
và khảo sát thực tế với 9.000 học sinh ở lứa tuổi 12- 17, các giáo viên, hiệu
trưởng, phụ huynh tại 5 quốc gia: Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakistan
và Nepal. Theo báo cáo này, tình trạng bạo lực trong các trường học châu Á
đang ở mức báo động. Chỉ tính trong 6 tháng, số học sinh bị bạo lực (ở mọi
hình thức: tinh thần, thể xác…) tại trường học của Indoneisa là 75%, Việt
Nam đứng thứ hai với 71% .
Tại Kolkata, một nghiên cứu cắt ngang về bản chất bạo lực phải chịu
đựng của thanh thiếu niên và xác định các mối quan hệ liên quan đến nền kinh
tế- xã hội và sức khỏe tâm thần trên 370 thanh thiếu niên (182 bé trai và 188
8
bé gái) từ 6 trường Trung học phổ thông. Kết quả cho thấy rằng 52,4%;
25,1% và 12,7% thanh thiếu niên bị tâm lý, thể chất, tình dục trong năm qua.
18,6% vị thành niên đứng chứng kiến bạo lực giữa các thành viên người lớn
trong gia đình. Hơn 61,9% thanh thiếu niên trải qua ít nhất một loại bạo lực,
32,7% bị bạo lực về thể xác hoặc tình dục hoặc cả hai. Bạo lực để lại một vết
“sẹo” trên sức khỏe tinh thần của các nạn nhân .
thấy 30% thanh thiếu niên Mỹ từng là nạn nhân, kẻ bắt nạt hay cả hai. Cụ thể
13% báo cáo là kẻ bắt nạt, 11% báo cáo là nạn nhân của vụ bắt nạt, 6% báo
cáo vừa là nạn nhân, vừa là kẻ bắt nạt. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới
thường sử dụng hình thức bạo lực thể chất trong khi hình thức bạo lực bằng
lời nói diễn ra phổ biến hơn ở nữ giới . Năm 2015, nghiên cứu ở học sinh lớp
9-12 cho thấy 8,1% học sinh báo cáo trong một cuộc chiến vật lý; 7,1% báo
cáo họ không đi học trong 1 hoặc nhiều ngày trong vòng 30 ngày trước thời
điểm nghiên cứu bởi vì cảm thấy không an toàn ở trường, trên đường đến
trường hoặc từ trường về nhà; 5,2% mang vũ khí; 6,9% báo cáo bị đe dọa
hoặc bị thương; 14,8% bị bạo lực điện tử trong 12 tháng trước thời điểm
nghiên cứu .
Công trình nghiên cứu của Wang.J và cộng sự năm 2009 đã được nghiên
cứu tại Mỹ với đề tài “ Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa Kì:
thể chất, lời nói, quan hệ và trên điện tử ” ở học sinh lớp 6-10 cho kết quả:
Người thực hiện hành vi bắt nạt người khác ít nhất một lần trong 2 tháng qua
với 13,3% thể chất; 37,4% bằng lời nói; 27,2% xã hội và 8,3% điện tử. Nạn
nhân trong 2 tháng qua là 12,8% thể chất; 36,5% cho lời nói; 41,0% cho quan
hệ; và 9,8% đối với các hình thức mạng. Tỷ lệ thực hiện hành vi bắt nạt, bị
bắt nạt, hoặc cả hai là 20,8% đối với thể chất; 53,6% cho lời nói; 51,4% cho
quan hệ và 13,6% cho mạng. Trong số bắt nạt về thể chất có 38,9% chỉ là
người bắt nạt; 36,0% chỉ là nạn nhân và 26,3% vừa là kẻ bắt nạt, vừa là nạn
nhân. Bắt nạt bằng lời nói có 30,3% chỉ là kẻ bắt nạt; 31,7% chỉ là nạn nhân
10
và 38,1% là kẻ bắt nạt và nạn nhân. Bắt nạt xã hội có 19,1% chỉ là kẻ bắt nạt;
48,1% chỉ là nạn nhân và 32,8% là kẻ bắt nạt là nạn nhân. Bắt nạt điện tử có
27,4% chỉ là người bắt nạt; 40,0% chỉ là nạn nhân và 32,6% là kẻ bắt nạt và
nạn nhân . Nghiên cứu ở học sinh từ lớp 6 đến 10 trong các trường công lập
tình yêu đã dùng dao rạch mặt bạn, đâm chết bạn giữa sân trường . Vấn đề
bạo lực học đường ngày càng gia tăng với số lượng chóng mặt, tiếp tục diễn
biến phức tạp, trở thành vấn đề cấp bách ảnh hưởng đến quá trình đào tạo và
phát triển toàn diện của trẻ em- chủ nhân tương lai của đất nước. Chốn học
đường được xem là môi trường an toàn nhưng giờ đây bị ảnh hưởng nghiêm
trọng bởi tình trạng học sinh hành xử nhau theo kiểu xã hội đen. Vấn nạn này
đã khiến các ngành chức năng hết sức quan tâm, là nỗi lo lắng của gia đình và
cả một thế hệ tương lai của đất nước. Bộ GD-ĐT đã công bố kết quả nghiên
cứu từ tháng 3 đến tháng 9/2014 với 3.000 học sinh cho biết có khoảng 80%
học từ trước đến nay bị bạo lực giới ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong
vòng 6 tháng qua. Mức độ an toàn ở nhà trường được các em đánh giá rất
thấp, chỉ 16% học sinh nữ và 19% học sinh nam cho rằng luôn luôn an toàn
trong khuôn viên trường . Không chỉ gia tăng về số lượng, mức độ và tính
chất nguy hiểm của các vụ bạo lực trong học sinh ngày càng nghiêm trọng.
Kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam ( SAVY)
năm 2003 cho thấy tỷ lệ mang hung khí/vũ khí nói chung là 2,3% tập trung
chủ yếu vào nam thanh thiếu niên ( nam 4% so với nữ 0,5%), riêng tỷ lệ nam
thanh thiếu niên thành thị 14-17 tuổi, 18-21 tuổi mang vũ khí cao hơn nhiều
(6,4% và 9%). 3% nam thanh niên trả lời họ đã từng hành hung một người
khác đến mức người đó phải đi bệnh viện. Đặc biệt là một nghiên cứu trong
trường học tại thành phố Hồ Chí Minh có hơn 10% nam thanh thiếu niên
mang hung khí . Bạo lực học đường hiện nay cũng tồn tại ở hình thức giữa
các em học sinh với nhau với tỷ lệ 16,7% học sinh bị bạn ức hiếp; 35,4% học
12
sinh đã từng bị bạn hù dọa và 10,2% các em không nhận được sự trợ giúp của
bạn bè khi gặp khó khăn .
Một cuộc khảo sát do trường ĐHQGHN vào năm 2008 tại 2 trường
học sinh thực hiện trên một học sinh. Về thực trạng bị bạo lực, 35,2% bị bạo
lực lời nói; 19,6% bị bạo lực thể chất; 17,6% bị bạo lực xã hội và 5,9% là nạn
nhân bạo lực điện tử. Phần lớn sau khi bị bạo lực, các em chỉ chia sẻ với bạn
bè hoặc không kể với ai. Học sinh nam vừa là đối tượng thực hiện hành vi,
vừa là đối tượng nạn nhân bị bạo lực hơn so với học sinh nữ. Thực trạng bạo
lực học đường ở học sinh 3 khối lớp học là gần như tương đương nhau .
Nghiên cứu “Thực trạng và các yếu tố liên quan đến bạo lực học đường
ở học sinh trường THCS Lê Lai, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh” cho kết quả
13,2% học sinh có thực hiện hành vi bạo lực học đường trong 6 tháng qua,
mang vũ khi tới trường 5,9%, đe dọa học sinh khác 12,2% và mắng chửi nhau
là 36,9%. Kéo theo đó việc có học sinh là nạn nhân của bạo lực học đường là
đương nhiên với 11,9% HS bị đánh; 10,3% bị đe dọa và 4,1% bị trấn lột. Các
đặc tính cá nhân, gia đình, nhà trường và xã hội đều có liên quan rất lớn đến
hành vi bạo lực của HS. Đặc biệt, tỷ lệ học sinh đã từng bị bạo lực, gia đình
có sử dụng bạo lực, hay bạn bè có sử dụng bạo lực có hành vi bạo lực cao gấp
1,9 lần; 1,4 lần và 2,1 lần so với những học sinh chưa từng bị bạo lực, gia
đình không sử dụng sử dụng bạo lực hay bạn bè không sử dụng bạo lực .
Nghiên cứu “Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS Thành phố
Huế” cho kết quả 24% trong số 200 em được hỏi nhận định là hành vi BLHĐ
xảy ra rất thường xuyên; 33% cho là khá thường xuyên; 26,5% cho là thỉnh
thoảng; 14,5% cho là ít và chỉ có 0,5% cho là hoàn toàn không xảy ra .
Thời gian qua, các cấp chính quyền nước ta đã có nhiều giải pháp để
ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường, nhằm thiết lập một môi trường học
đường an toàn, thân thiện cho học sinh, bảo đảm an ninh cho xã hội. Thông tư
liên tịch số 34/2009/TTLT-BGDĐT-BCA ngày 20/11/2009 của Bộ Giáo dục
14
và Đào tạo với Bộ Công an về “Hướng dẫn phối hợp thực hiện công tác bảo
là nạn nhân của bạo lực thì xu hướng cảm xúc thường lo lắng, trầm cảm, hay
chán nản, sợ hãi, thiếu cảm giác an toàn, thiếu tự tin, học tập kém, từng có ý
nghĩ tự tử và cố gắng tự tử . Tâm lý lứa tuổi học sinh trung học với sự phát
triển chưa hoàn thiện: cái “tôi”, bản tính “anh hùng” muốn thể hiện bạn thân
trước bạn bè và không muốn thua thiệt “bùng phát” làm cho các em đôi khi
chưa biết kiềm chế cảm xúc, dễ dẫn đến những hành vi xô xát, gây gổ đánh
nhau. Khả năng nhận thức cũng như tư duy chưa chín muồi, vốn kỹ năng sống
chưa trang bị đủ, hiểu biết về xã hội còn quá ít làm cho các em rất dễ bị kích
động bởi những sự việc đơn giản, đôi khi đó chỉ là sự hiểu nhầm rất nhỏ. Trên
thực tế không thiếu những hành vi BLHĐ nghiêm trọng mà xuất phát điểm
chỉ là những xích mích, hiểu lầm nhỏ giữa học sinh với nhau .
Các yếu tố nguy cơ như sử dụng rượu bia, thuốc lá và chất kích thích
cũng đã được chứng minh có liên quan tới hành vi bạo lực ở học sinh , .
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang đã chỉ ra học sinh có sử dụng rượu bia
có nguy cơ thực hiện hành vi bạo lực thể chất cao hơn (OR= 3,5; 95%CI: 1,4
- 8,5); nhóm học sinh sử dụng thuốc lá có nguy cơ thực hiện bạo lực xã hội,
internet cao hơn (OR= 2,6; 95%CI: 1,1 - 6,2) và (OR= 4,9; 95%CI: 1,9 - 12,7)
nhóm còn lại .
Những đối tượng có hành vi bạo lực bao gồm nhiều lứa tuổi khác nhau.
Tuy nhiên vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với lứa tuổi thiếu niên. Theo một
nghiên cứu trên học sinh từ lớp 7 đến lớp 12 của Úc đã chỉ ra rằng tỉ lệ trẻ bị
bắt nạt giảm đi theo độ tuổi, trẻ càng lớn thì càng ít bị bắt nạt hơn .
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nam giới là đối tượng hay thực hiện
hành vi bạo lực đồng thời cũng là nạn nhân của bạo lực xuất hiện phổ biến
hơn và có mức độ nghiêm trọng hơn so với nhóm nữ sinh , , , . Các nghiên
cứu cho thấy rằng các em học sinh nam thường tham gia nhiều hơn vào các
hoạt động bạo lực với các hình thức vũ lực như ẩu đả, tổ chức đánh nhau
16
17
tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con cái. Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra rằng cha mẹ ly hôn, ly thân có ảnh hưởng nghiêm trọng tới nét tính
cách của trẻ. Đa số các em trở nên tự ti hay hung hãn hơn . Đôi khi các em
muốn sử dụng hình thức này để gây sự chú ý với cha mẹ như một cách phản
kháng với sự thiếu hụt tình yêu thương. Xu hướng quan tâm thái quá cũng gây
ra nhiều vấn đề phức tạp. Ở lứa tuổi học sinh các em có nhu cầu tự khẳng
định, độc lập trong quyết định thì sự bao bọc, nghiêm khắc quá mức sẽ khiến
các em thấy áp lực. Vì vậy, gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi và nhân
cách của các em .
Ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang chỉ ra nhóm học sinh bị bạo
lực từ gia đình có nguy cơ thực hiện hành vi bạo lực thể chất cao hơn (OR=
3,3; 95%CI: 2,0 - 9,3), đồng thời cũng có nguy cơ trở thành nạn nhân cao hơn
(OR= 2,3; 95%CI: 1,3 - 4,3). Học sinh được hỗ trợ thấp từ gia đình có nguy
cơ là nạn nhân của bạo lực lời nói cao hơn (OR= 1,7; 95%CI: 1,0 - 2,7) . Ở
nghiên cứu của Trần Thị Chiến và Tô Gia Kiên cũng chỉ ra học sinh có gia
đình sử dụng bạo lực có nguy cơ thực hiện hành vi cao (OR= 1,4) .
Yếu tố bạn bè
Ảnh hưởng của bạn bè đồng trang lứa là yếu tố khá quan trọng trong
hành vi của giới trẻ. TS.Nghiêm Thị Phiến tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh
hưởng của nhóm bạn bè tới hành vi lệch chuẩn của học sinh” trên 31 học sinh
thiếu niên cá biệt tại trường THCS Thịnh Quang (Hà Nội), đã liệt kê những
hành vi lệch chuẩn của nhóm học sinh này và chỉ ra những nguyên nhân dẫn
đến các hành vi đó. Tác giả kết luận, hiện tượng bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo là
một trong những nguyên nhân khá chủ yếu dẫn trẻ tới những hành vi lệch
chuẩn . Nếu như ở những giai đoạn lứa tuổi trước vai trò của những người
thân trong gia đình gia đình là quan trọng bậc nhất, thì khi bước vào lứa tuổi
vị thành niên, bậc học trung học thì sự cố kết bên ngoài xã hội tăng dần mà