TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
NGUYỄN THỊ HUYỀN HƯƠNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO TÂM THẾ
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn
HÀ NỘI – 2017
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
************
NGUYỄN THỊ HUYỀN HƯƠNG
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO TÂM THẾ
TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG THPT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ Văn
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS BÙI MINH ĐỨC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GV:
Giáo viên
HS
Học sinh
THPT:
Trung học phổ thông
BĐST:
Bạn đọc sáng tạo
GS, PGS:
Giáo sư, Phó Giáo sư
TS:
Tiến sĩ
BP:
1.1.2.2. Đặc trưng của thơ ...................................................................................... 12
1.1.3. Hệ thống hoạt động tổ chức HS đọc hiểu văn bản thơ ở trường THPT ........ 16
1.1.3.1. Hoạt động tạo tâm thế tiếp nhận văn bản thơ ............................................ 16
1.1.3.2. Hoạt động tìm hiểu tri thức nền của văn bản thơ ....................................... 17
1.1.3.3. Hoạt động đọc, hình dung tái tạo thế giới nghệ thuật trong văn bản thơ... 17
1.1.3.4. Hoạt động phân tích, lí giải nội dung ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của
văn bản thơ ............................................................................................................... 18
1.1.3.5. Hoạt động vận dụng .................................................................................... 18
1.1.4. Hoạt động tạo tâm thế trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ ở trường THPT ......... 19
1.1.4.1. Khái niệm và mục đích của hoạt động tạo tâm thế trong dạy học đọc
hiểu văn bản thơ ở trường THPT ............................................................................. 19
1.1.4.2. Nội dung, hình thức của hoạt động tạo tâm thế trong dạy học đọc hiểu
văn bản thơ ở trường THPT ..................................................................................... 20
1.2 Cơ sở thực tiễn ........................................................................................................ 22
Chương 2. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO TÂM THẾ TRONG
DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG THPT .................................... 25
2.1.Tạo tâm thế cho HS bằng việc tổ chức đọc diễn cảm văn bản thơ ..................... 25
2.1.1. Đọc diễn cảm trong dạy học văn bản thơ ........................................................ 25
2.1.2.Tác dụng của việc đọc diễn cảm trong việc tổ chức hoạt động tạo tâm thế
cho HS trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ ............................................................. 25
2.1.3. Các hoạt động đọc diễn cảm trong giờ dạy văn bản thơ ................................. 26
2.1.3. Yêu cầu của việc đọc diễn cảm ......................................................................... 26
2.2. Tạo tâm thế cho HS bằng việc ứng dụng CNTT ................................................. 29
2.2.1.Ứng dụng CNTT trong dạy học văn bản thơ .................................................... 29
2.2.2.Tác dụng của việc ứng dụng CNTT trong tổ chức hoạt động tạo tâm thế
trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ ........................................................................... 29
2.2.3. Các hoạt động tạo tâm thế bằng ứng dụng CNTT .......................................... 30
2.3. Tạo tâm thế trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ bằng việc tổ chức các trò
Học tốt môn học này sẽ tác động, hỗ trợ tích cực đến các môn học còn lại.
Văn học là món ăn tinh thần của con người, không chỉ dung lí trí để “ nhận”
mà còn phải “cảm” bằng trái tim, tâm hồn. Vì thế người dạy không thể xem HS là
“chiếc bình” cần được đổ đầy kiến thức mà phải thấy được rằng các em là những
“ngọn đuốc” cần được thắp sáng. Vậy làm thế nào để đánh thức khát vọng học văn
vốn đang dần bị tắt nguội, để thắp sáng những niềm say mê văn chương trong HS,
để các em chủ động đến với môn Ngữ văn và yêu bộ môn này? Đánh thức khát
vọng văn chương không phải là điều dễ dàng, GV phải có sự chuẩn bị rất chu đáo,
hoàn hảo về giáo án, về các bước lên lớp và đặc biệt là tâm trạng cởi mở, tâm hồn
1
tràn ngập niềm yêu nghề và quý mến học trò. Cũng từ đó chúng ta có thể nhận ra
rằng, để HS chủ động đến với giờ học đọc hiểu văn học, ngoài sở thích, năng khiếu
phải có “tâm thế trong giờ học Ngữ văn”. Nghĩa là cần phải có một tâm lí thoải mái,
một sự tự tin, một cảm hứng, một tâm hồn văn chương thì mới có thể đi vào tìm
hiểu, khám phá được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học.
“Tạo tâm thế” trong đọc hiểu văn bản văn học cũng là cách đa dạng hóa các
phương pháp dạy và học, tạo thêm sức hấp dẫn cho môn học và thu hút HS đến với
bộ môn. Hoạt động tạo tâm thế đóng vai trò rất lớn trong giờ học, giúp tạo tình
huống/vấn đề học tập nhằm huy động kiến thức, kinh nghiệm hiện có của HS và
nhu cầu tìm hiểu kiến thức mới liên quan đến tình huống/vấn đề học tập.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều GV còn thiếu kinh nghiệm tổ chức hoạt động tạo
tâm thế cho HS, chưa thu hút sự chú ý của HS vào giờ học nên hiệu quả giờ học
chưa cao. Chính bởi những lí do trên, chúng tôi quyết định lực chọn đề tài này nhằm
xây dựng một số biện pháp tổ chức hoạt động khởi động, tạo tâm thế trong dạy học
đọc hiểu văn bản thơ ở trường THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đọc hiểu và đọc hiểu văn bản là một nội dung nghiên cứu đã thu hút sự quan
Hơn nửa thế kỉ quan tâm nghiên cứu của thế giới về vấn đề đọc hiểu đã để lại
rất nhiều công trình, những cuốn sách, các bài báo khoa học. Ở Việt Nam, thuật ngữ
“đọc hiểu” được đưa vào nhà trường cho đến nay vừa qua một thập kỉ. Tư tưởng
dạy văn trong nhà trường thực chất là môn học dạy cho HS đọc văn, đọc hiểu văn
bản như thế, trước hết là quan điểm của một số nhà giáo dục trực tiếp làm tổng chủ
biên, chủ biên SGK như GS. Nguyễn Khắc Phi, GS. Trần Đình Sử. Bên cạnh đó còn
phải kể đến cái bài viết, cuốn sách viết về đọc hiểu văn bản văn chương của GS.
Nguyễn Thanh Hùng và một số ý kiến của một số người quan tâm đến vấn đề này
như: GS. Trần Đình Sử đã có nhiều bài nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu, ví dụ như
trong những bài viết: Dạy học văn là dạy học sinh đọc hiểu văn bản, bài Đọc hiểu
là một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay. PGS.TS
Nguyễn Thái Hòa với bài viết Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc hiểu. TS. Nguyễn Trọng
Hoàn với bài viết Đọc hiểu văn bản Ngữ văn ở THCS.
Và “đọc hiểu” còn được phát ngôn trực tiếp trong các tài liệu hướng dẫn thực
hiện chương trình, SGK cho GV, trên báo Văn nghệ, Tạp chí Giáo dục, Thông báo
3
khoa học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội,…và một số cuốn sách khác. Còn có
thể kể đến một vài luận án có sự nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu đã được bảo vệ
thành công như: Mô hình đọc hiểu tác phẩm văn chương theo loại thể ở Trung học
phổ thông của Nguyễn Thanh Bình, Lí thuyết ngôn ngữ học văn bản với việc dạy
đọc hiểu truyện kể dân gian ở Trung học cơ sở của Trịnh Thị Lan,…
Có nhiều cuốn sách, bài viết, công trình nghiên cứu về đọc hiểu, quy trình
đọc hiểu văn bản nhưng chưa thực sự quan tâm và đề cập đến việc tổ chức các hoạt
động trong giờ học văn bản nói chung và văn bản thơ nói riêng. Cần có những biện
pháp, cách thức đề xuất tổ chức hoạt động dạy học nói chung và hoạt động tạo tâm
thế nói riêng trong dạy học đọc hiểu văn bản thơ ở trường THPT.
3. Mục đích nghiên cứu
Bố cục khóa luận gồm 3 phần:
Mở đầu
Nội dung: Gồm 3 chương:
Chương 1: Cở sở lí luận và thực tiễn về việc tổ chức hoạt động tạo tâm thế
trong giờ dạy học đọc hiểu văn bản thơ ở trường THPT
Chương 2: Biện pháp tổ chức hoạt động tạo tâm thế trong giờ dạy học đọc
hiểu văn bản thơ ở trường THPT
Chương 3: Giáo án thực nghiệm
Kết luận
5
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TẠO
TÂM THẾ TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THƠ
Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đọc hiểu và đọc hiểu văn học nhà trường
1.1.1.1. Đọc hiểu
“Đọc hiểu” hay “đọc–hiểu” (reading comprehension, understanding reading)
là một thuật ngữ quen thuộc trong khoa học giáo dục ở nhiều nước tiên tiến trên thế
giới. Ở các nước phương Tây, đặc biệt là các nước Âu – Mĩ, đọc hiểu và lý thuyết
đọc hiểu (Theory ofreading comprehension) đã được chú ý từ lâu. Đã có hàng trăm
công trình viết về vấn đề này với các tên tuổi: K.Goodman (1970), A.K.Pugh
(1978), P.D.Pearson (1984), U.Frith (1985), M.J.Adams (1990)… thậm chí có hẳn
một tạp chí chuyên ngành về đọc (Journal of Reading). Ở nước ta, đọc hiểu mới
được quan tâm trong khoảng mấy năm trở lại đây gắn liền với quá trình đổi mới
chương trình, SGK Ngữ văn THCS và THPT. Nhìn chung, ở nước ta chưa có “lí
hoạt động nhận thức, là hành trình tiến tới nắm bắt và thể nghiệm ý nghĩa của văn
bản ngôn từ.
1.1.1.2. Đọc hiểu văn học và đọc hiểu văn học nhà trường
Trong đọc hiểu văn bản nói chung, đọc hiểu văn bản văn học có một vị trí
đặc biệt, bởi văn bản văn học là sản phẩm sáng tạo độc đáo của con người. Cũng
như quan niệm về đọc hiểu nói chung, có rất nhiều ý kiến xung quanh quan niệm
đọc hiểu văn học. Đọc hiểu văn chương là đọc cái chủ quan của người viết bằng
cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách. Đọc hiểu
không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình nhuần thấm tín
hiệu nghệ thuật chứa mã văn hoá đồng thời với việc huy động vốn sống, vốn kinh
nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có
của tác phẩm văn chương. Đọc hiểu là đón đầu những gì đang đọc qua từng từ, từng
câu, từng đoạn rồi lại quay về với những gì đã đọc để kiểm chứng và đi tìm sự hợp
sức của tác giả để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ thể và giàu tưởng tượng.
7
Trong dạy đọc hiểu VB, GV chỉ là người hướng dẫn HS tìm hiểu bắt đầu từ hiểu từ,
hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết, hiểu ý nghĩa toàn bài. Hiểu văn học không chỉ
hiểu nội dung xã hội, mà còn hiểu cái hay, cái tình, cái tài, cái tuyệt vời trong nghệ
thuật. Cũng theo GS. Trần Đình Sử, đọc hiểu văn học có hai bước : hiểu thông báo
và hiểu ý nghĩa. Hiểu thông báo là hiểu ngôn từ và hình tượng. GV nên tùy thuộc
vào từng đối tượng HS mà đưa ra gợi ý hoặc các yêu cầu khác nhau để hướng dẫn
HS tiếp cận và chiếm lĩnh văn bản văn học từ bước thâm nhập môi sinh của tác
phẩm qua các thông tin về hoàn cảnh ra đời (hoàn cảnh lớn – bối cảnh chính trị, xã
hội, văn hóa của thời đại; hoàn cảnh nhỏ - tiểu sử, con người nhà văn; hoàn cảnh
cảm hứng – hoàn cảnh trực tiếp ra đời tác phẩm) đến bước tri giác ngôn ngữ (đọc –
hiểu tầng ngôn từ), nhập cảm vào thế giới hình tượng (đọc - hiểu tầng hình tượng),
khám phá các lớp ý nghĩa (đọc - hiểu tầng ý nghĩa) và thể nghiệm các giá trị của tác
phẩm và giọng điệu nghệ thuật của người nghệ sĩ. Để làm được điều đó, bước này
cần kết hợp các biện pháp đọc như đọc lướt, đọc chậm, đọc kĩ. Đọc lướt để nắm
được cái tinh thần chung của toàn văn bản. Thao tác này, Chế Lan Viên gọi là “tổng
hợp sơ thủy”, lấy trực cảm ra để cảm nhận chỉnh thể văn bản. Sau đó đọc chậm, đọc
kĩ kết hợp với đọc chú giải, đọc và tra cứu các loại từ điển để hiểu nghĩa của từ,
hiểu nghĩa và sắc thái biểu cảm của câu, hiểu mạch văn, bố cục và hình dung bức
tranh thế giới hình tượng hoặc nội dung thông tin sự kiện được nhà văn miêu tả
trong tác phẩm.
+ Đọc – phân tích – cắt nghĩa:
Đây là bước tiếp theo trong quá trình nhận thức thẩm mỹ của bạn đọc HS.
Nó bao gồm những thao tác đọc và tiếp nhận mang tính chất lý tính, từng bước đưa
học sinh thâm nhập sâu vào văn bản nghệ thuật, khám phá từng nét nghĩa và lớp
nghĩa để rồi cuối cùng nắm bắt được chủ đề, giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác
phẩm. Trong hoạt động này, nhiệm vụ của phân tích là trên cơ sở bức tranh thế giới
hình tượng do tưởng tượng tái hiện “cung cấp”, xác định các khía cạnh cụ thể và
tiêu biểu của tác phẩm (tức là chia nhỏ đối tượng thẩm mỹ, lựa chọn chi tiết nghệ
thuật điển hình, đặc sắc) nhằm chuẩn bị cho hoạt động cắt nghĩa sẽ diễn ra tiếp theo.
Cắt nghĩa là thao tác minh giải ý nghĩa nghệ thuật của đối tượng được lựa chọn
trong hoạt động phân tích. Đó là sự vận dụng tổng hợp các tri thức văn học, ngôn
ngữ học, chú giải học, tâm lý học, xã hội học, triết học..., cả những liên tưởng, hồi
9
ức, vốn sống, kinh nghiệm thẩm mỹ làm sáng tỏ nghĩa tường minh và hàm ẩn, nội
dung thông tin xã hội và nội dung thông tin thẩm mỹ của đối tượng phân tích. Cắt
nghĩa (thường đi kèm với bình giá, có sự hỗ trợ của bình giá) còn có nhiệm vụ chỉ
ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở thao tác phân tích,
cắt nghĩa, HS mới chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”. Bởi vậy, trên nền tảng của
những hiểu biết cụ thể về tác phẩm, HS phải tiến hành thao tác tổng hợp, khái quát
sáng tác của dân chúng. Ở phương Tây, cuội nguồn của thơ – “poet” trong tiếng Hi
Lạp có nghĩa là sản xuất, sáng tạo, chuyển vào thơ, nghĩa là “sáng tạo trên lĩnh vực
từ ngữ”. Nhưng xét về mặt lịch sử thì thơ ca còn xuất hiện trước cả ngôn ngữ. Nhà
khoa học Ý là Vico từng nói: “Ngôn ngữ bắt nguồn từ thơ ca”, còn Hegel trong Mĩ
học viết: “Lời của thơ nảy sinh vào thời xa xưa của mỗi dân tộc, lúc đó ngôn ngữ
còn chưa hình thành, phải nhờ có thơ ca ngôn ngữ mới được phát triển”. Như vậy
thơ ca là sản phẩm của nhận thức, tưởng tượng và sáng tạo, nhờ đó mà ngôn ngữ
được phát triển. Hegel cũng nói thơ gắn với nhạc và họa. Nhà mĩ học Trung Quốc
Chu Quang Tiềm nó thơ ca cùng một nguồn gốc với nhạc và vũ, mà dấu tích còn
thấy rõ trong dân ca, ca dao.Thơ ca gắn với các trò chơi ô chữ, câu đố, trò chơi con
trẻ. Từ đó nảy sinh hình thức ngôn từ đặc thù của thơ ca với tính âm nhạc, nhịp
diệu, hội họa. Người ta nói “Thi trung hữu họa” (trong thơ có họa), lại nói “Thi
trung hữu nhạc”(trong thơ có nhạc) là như thế.
Thơ là dạng thức ban đầu của văn học, ngoại trừ thần thoại thời nguyên thủy
tồn tại chủ yếu dưới các hình thức cúng tế, lễ hội. Các hình thức văn học ban đầu
như sử thi, kịch, thơ trữ tình đều là thơ ca, tức là ngôn ngữ có nhịp điệu.Thơ là hình
thức nghệ thuật cổ xưa hơn văn xuôi rất nhiều. Trong nhiều nền văn học, thơ ca ra
đời rất lâu thì văn xuôi mới xuất hiện. Văn học Việt Nam cũng như vậy.
Trải qua thời kì dân gian truyền miệng rất lâu rồi mới đến thời kì có tác giả
và viết dưới hình thức văn tự.
Thơ có nghĩa rộng, bao hàm toàn bộ văn học.Ví dụ trong sách Thi pháp học
của Aristote, thơ bao gồm sử thi, bi kịch, hài kịch. Vào thời cận, hiện đại, thơ có
nghĩa hẹp chỉ riêng loại hình sáng tác cụ thể như thơ trữ tình, thơ tự sự, trường ca…
11
1.1.2.2. Đặc trưng của thơ
a. Đặc trưng nội dung của thơ
Thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức. Tính trữ tình là đặc trưng
gửi cho nhà thơ. Sự kiện của Từ ấy là ngày nhà thơ và Đảng, còn sự kiện của bài
Việt Bắc là ngày đảng và Chính phủ giã từ Việt Bắc về thủ đô Hà Nội.
Nhà thơ Cuba Joes Marti nói: “Thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ
làm những câu có vần, chứ không làm được nhà thơ”. Lê Quý Đôn từng nói: “Ta
cho thơ có ba điều chính: “một tình, hai cảnh, ba sự”. Trước hết là tình, tình làm nảy
sinh ra cảnh và sự. Hoặc ngược lại, “cảm cảnh, cảm vật mà sinh tình”. Thiếu đi một
tình cảm mãnh liệt thì không thể viết được những câu như thế. Nhưng thơ không
phải là sự bộc lộ tình cảm một cách bản năng, trực tiếp. Tình cảm trong thơ là tình
cảm được ý thức, được siêu thăng, tình cảm được lắng đọng qua cảm xúc thẩm mĩ,
gắn liền với khoái cảm của sự tự ý thức về mình và về đời. Tình cảm trong thơ là
tình cảm lớn, tình cảm đẹp, cao thượng, thấm nhuần bản chất nhân văn, chính
nghĩa. Tình cảm tầm thường không làm nên thơ. Như vậy, một tình cảm mãnh liệt
được ý thức, siêu thoát, không lệ thuộc vào đối tượng miêu tả cụ thể, làm cho thơ
trở thành nghệ thuật cao đẹp, nghệ thuật tự do nhất trong các nghệ thuật.
Thơ - nghệ thuật của trí tưởng tượng. Nếu tình cảm là sinh mệnh của thơ thì
trí tưởng tượng là đôi cánh của thơ. Tưởng tượng là hoạt động tâm lí phân giải, tổ
hợp các biểu tượng đã có để tạo ra hình tượng hoàn toàn mới. Mọi nghệ thuật đều
cần đến tưởng tượng. Vậy tưởng tượng trong thơ có đặc điểm gì? Thơ không xây
dựng các hình tượng khách thể như nhân vật trong truyện hay kịch, kí, mà xây dựng
hình tượng của bản thân dòng ý thức, cảm xúc đang diễn ra, vì thế tưởng tượng ở
đây chủ yếu là liên tưởng, giả tưởng, huyễn tưởng. Liên tưởng là hoạt động tâm lí từ
việc này, từ người này mà nghĩ tới việc khác, người khác. Như bài Tiếng hát con
tàu của Chế Lan Viên mở đầu bằng một thoáng hoang tưởng: “Con tàu lên Tây Bắc
anh đi chăng?” Huyễn tưởng là cách mượn giấc mơ, ảo giác để biểu hiện cảm xúc.
Lối tưởng tượng này làm cho tư duy thơ khác hẳn tư duy trong các thể loại văn học
khác.
Tính cá thể hóa của tình cảm trong thơ. Hegel nói trong thơ có sự tự biểu
hiện của chủ thể. Nhà thơ Trung Quốc Quách Mạt Nhược cũng nói, nội dung chủ
yếu của thơ là: “tự biểu hiện”. Thơ bao giờ cũng tự biểu hiện cái tôi tác giả của nó,
ở chỗ trắng, chỗ im lặng giữa các chữ, các lời. Ví dụ, chất thơ ở bài Mời trầu của
Hồ Xuân Hương không ở những thứ đem mời, cách mời, mà ở cảm nhận đời sống
14
toát ra từ sự mời trầu ấy. Đó là niềm khao khát giao duyên nhưng không còn ảo
tưởng. Nếu đem thuật lại Xuân Hương mời gì, thái độ mời như mắng thế nào, thì đó
đâu phải là chất thơ? Cũng giống như câu kết trong bài Đánh đu của Hồ Xuân
Hương:
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không?
Điều muốn nói là tình cảm tiếc nuối hội xuân, là sự đời vô nghĩa khi hội
xuân đã hết. Đó là điều cảm nhận được qua lời thơ, nhưng không phải ở ý nghĩa mặt
chữ của câu thơ.
b. Đặc trưng hình thức của thơ
Thơ biểu hiện bằng biểu tượng, ý tưởng. Thơ biểu hiện bằng biểu tượng
mang ý nghĩa, các ý tượng, hình ảnh có ngụ ý. Như trong bài ca dao Đêm qua ra
đứng bờ ao, những bờ ao, cá lặn, sao mờ, nhện giăng tơ, sao mai… đều là những
biểu tượng. Hegel nói: “Thơ cũng như nhạc đều xây dựng trên nguyên tắc dùng nội
cảm để tri giác nội cảm, tức là một nguyên tắc không có trong kiến trúc, trong điêu
khắc và trong hội họa. Hơn thế nữa, thơ còn mở rộng đến mức độ dùng các biểu
tượng, các trực giác và các tình cảm bên trong đặng dựng lên một thế giới khách
quan”. Mỗi loại thơ có những loại biểu tượng riêng: nhật, nguyệt, tùng, cúc, mai,
lan,… trong thơ cổ; bờ ao, giếng nước, bến đò, con bống… trong ca dao; cờ đỏ,
máu đào, bàn chân, tay sung, tay cày trong thơ cách mạng; trái tim đôi môi, làn
hương, bờ vai, con mắt… trong thơ lãng mạn… Mỗi nhà thơ cũng có những biểu
tượng không lặp lại.
Ngôn từ trong thơ được cấu tạo đặc biệt. Ngôn từ thơ là ngôn từ được cấu
tạo đặc biệt. Trước hết, đó là ngôn từ có nhịp điệu. Sự phân dòng của lời thơ nhằm
tập trung của ý thức vào một đối tượng, sự vật,... nào đó, để định hướng hoạt
động, đảm bảo điều kiện thần kinh - tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có
hiệu quả. Nhờ sự tập trung chú ý mà trong một thời điểm, giữa sự chi phối của
nhiều hướng và nhiều vấn đề tác động, có thể tách được một phạm vi chú ý xác
định thành đối tượng để chủ thể hướng vào đó mà tiến hành hoạt động chiếm
lĩnh đối tượng ấy.
16
Hoạt động này một phần giúp huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh
nghiệm sống của HS về các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới. Phần
khác giúp thu hút sự chú ý, kích thích sự tò mò sự khám phá bài mới của HS.
GV có thể dẫn dắt từ bài cũ sang bài mới, có thể đặt câu hỏi, kể chuyện, đặt
một tình huống, khai thác kênh nhạc, kênh phim, kênh hình, tổ chức trò chơi hoặc
sử dụng 1 số hình thức khác để giới thiệu bài mới. Hoạt động này sẽ được trình bày
chi tiết, cụ thể hơn ở mục sau.
1.1.3.2. Hoạt động tìm hiểu tri thức nền của văn bản thơ
Đây là hoạt động chuẩn bị cho đọc hiểu văn bản thơ, hoạt động này sẽ giúp
cung cấp cho HS tri thức bên ngoài tác phẩm, có liên quan đến tác phẩm, tạo tiền đề
cắt nghĩa cho việc tìm hiểu văn bản thơ sau này. Hoạt động này tương ứng với mục
Tiểu dẫn trong SGK. Ở hoạt động này GV cần bổ sung thêm về bối cảnh thời đại,
cung cấp thêm tri thức về thể loại, thể thơ cho HS.
1.1.3.3. Hoạt động đọc, hình dung tái tạo thế giới nghệ thuật trong văn bản thơ
Đọc là hoạt động tiếp cận tầng ngôn từ của văn bản thơ, khi đọc cần lưu ý
HS đọc một lượt toàn thể văn bản thơ để có cảm nhận chung về bài thơ sau đó đọc
chậm từng từ, từng câu, từng dòng, từng khổ kèm theo việc tìm hiểu chú thích để có
thể hiểu được nghĩa đen của bài thơ.
Hình dung, tái tạo thế giới nghệ thuật ở trong văn bản thơ là hoạt động đưa
HS đến tầng thứ hai của văn bản thơ, đây là hoạt động của năng lực tri giác, năng
Nếu nội dung phản ánh là cảnh thì nội dung biểu hiện là tâm trạng, còn nếu
nội biêu hiện là tâm trạng thì sau đó là quan niệm, tư tưởng của nhà thơ.
1.1.3.5. Hoạt động vận dụng
Mục đích của hoạt động này nhằm giúp HS sử dụng kiến thức, kĩ năng đã
học để giải quyết các vấn đề, các tình huống trong thực tế đời sống và liên hệ vấn đề
của văn học với những vấn đề của xã hội hiện đại ngày nay.
Hoạt động này không chỉ giúp HS nắm chắc được nội dung, kiến thức của
bài học mà còn hình thành và rèn luyện cho HS những kĩ năng, kĩ xảo đọc hiểu văn
bản văn học để có thể giải quyết các bài tập, những văn bản cùng thể loại không có
trong chương trình.
18