ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ
Đỗ Thị Huyền Trang
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG
HUYỆN CAO PHONG,TỈNH HÒA BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Ngành : Quản Lý Đất Đai
(Chương trình đào tạo Chuẩn)
Hà Nội - 2017
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOAĐỊA LÝ
Đỗ Thị Huyền Trang
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG
SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG
HUYỆN CAO PHONG,TỈNH HÒA BÌNH
Ngành Quản Lý Đất Đai
(Chương trình đào tạo Chuẩn)
KHCN-TB.13C/13-18 của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Thạch đã hỗ trợ tài liệu và đi thực
địa.
Bản thân tác giả Luận văn xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh
đạo, cán bộ Phòng Tài Nguyên và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, cán bộ địa
chính huyện Cao Phong Hòa Bình đã tạo điều kiện cho tác giả thu thập số liệu và
những thông tin cần thiết liên quan phục vụ quá trình thực hiện Luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, xong do vốn hiểu biết của bản thân còn hạn chế.
Luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được những
góp ý, chỉ bảo của thầy cô và các bạn để được hoàn thiện hơn. Đây sẽ là kiến thức bổ
ích cho em cho công việc của em hiện tại và sau này.
Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô, các cán bộ
Phòng Tài Nguyên và Môi Trường, Ủy Ban Nhân Dân huyện Cao Phong. Kính chúc
các thầy cô, toàn thể anh chị em và các bạn luôn mạnh khỏe hạnh phúc và thành công.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Đỗ Thị Huyền Trang
5
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc
biệt không thể thay thế được, không có đất đai là không có bất kỳ một ngành sản xuất
nào, không có quá trình lao động nào diễn ra và không có sự tồn tại của xã hội loài
người. Không những vậy đất đai còn có vai trò rất quan trọng đi đôi với sự phát triển
của xã hội, xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất ngày càng lớn trong khi đất
đai thì có hạn.Đất đai là nguồn tài nguyên hữu hạn, không thể tái tạo được,có vị trí cố
nhằm đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất bền vững tại địa phương , đem
lại hiệu quả kinh tế cao và lâu dài.
3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, tác giả đã tiến hành nghiên cứu các nội dung
sau :
•
•
•
•
Tổng quan tài liệu về nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp bền vững.
Phân tích thực trạng sử dụng đất huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình
Tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất không theo kế hoạch sử dụng đất.
Đề xuất giải pháp triển bềnvững trên đất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế lâu dài
bền vững.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương phápđiều tra thực địa : Tác giả đã tiến hành thu thập tài liệu, số liệu
liên quan đến hiện trạng sử dụng đất của huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình và tài liệu về
phát triển bền vững.
Phương pháp xử lý, phân tích, tổng hợp tài liệu số liệu : Trên cơ sở tài liệu số
liệu đã thu thập, tác giả tiến hành phân loại, tổng hợp để thấy được diện tích đất đã
chuyển mục đích sử dụng đất trái phép không theo quy hoạch kế hoạc sử dụng đất đã
đề ra trước đó; đất bị chuyển từ mục đích sử dụng nào sang mục đích sử dụng nào ?,
biến động sử dụng đất theo xu hướng nào ?
Phương phápbản đồ và GIS: Phân tích các bản đồ hiện có, sử dụng phần mềm
QGIS trong việc tích hợp dữ liệu đã thu thậpvà thành lập bản đồ .
5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian : Khu vực huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình -Cao Phong là
một trong số các huyện vùng cao của tỉnh Hoà Bình, có đường ranh giới phía đông
giáp huyện Kim Bôi, phía tây giáp huyện Tân Lạc, phía bắc giáp huyện Đà Bắc và thị
Chương 1 :TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Nội dung nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp bền vững thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà khoa học :
Tại Trung Quốc, bằng các phương pháp thống kê truyền thống, Lin Kuo-Ching
(1994) đã chỉ ra nguyên nhân của hiện tượng giảm diện tích đất canh tác ở Trung Quốc
trong những năm gần đây là do quá trình đô thị hóa làm gia tăng sức ép lên đất nông
nghiệp và dẫn đến chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất này thành đất phi nông
nghiệp.[1]Đề tài này, với việc sử dụng phương pháp phân tích nhân tố cho thấy hiệu
quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp phụ thuộc khá nhiều vào đầu tư thủy lợi,
kiểm soát lũ, và cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nhiều khu vực nông
nghiệp phải đối mặt với tình trạng thiếu nước tưới, vì vậy những người nông dân dựa
phần nhiều vào khai thác nước ngầm ở mức không bền vững, khiến mực nước ngầm
giảm nhanh chóng. Ngay cả những khu vực có nguồn nước dồi dào cũng xảy ra tình
trạng thiếu hụt vì công tác bảo vệ cũng như hệ thống thủy lợi hoạt động kém hiệu quả.
Năm 1998, với phương pháp điều tra va áp dụng phương pháp phân tích thống kê, trong
một đánh giá về hiệu quả thực thi chính sách đất nông nghiệp khác ông đã chỉ ra rằng :
ngoài chính sách về quyền sử dụng đất, lao động cũng là một trong những nhân tố ảnh
hưởng quan trọng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Do thu nhập tại khu vự đô
thị cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp nên nông dân ít đầu tư để
duy trì và nâng cao năng suất đất. Bên cạnh đó, nếu sinh kế của người dân ở khu vực
nông thôn không gắn liền với đất, họ cũng có ít động cơ để sử dụng có hiệu quả đất nông
nghiệp.Bên cạnh đó với nghiên cứu của Gale (2002) cho biết, khả năng tiếp cận thị
trường kém cũng là một nguyên nhân dẫn tới sự kém hiệu quả trong sử dụng đất nông
nghiệp ở đất nước này.
Báo cáo của Monterey County (1999) đăng trên Land Watch, Tiểu bang
California (Mỹ) cho biết, trong khi đô thị hóa thường được coi là một hiện tượng mang
tính nhân khẩu học hay kinh tế - xã hội thì chính quá trình này cũng để lại những hậu
Uganda để điều tra tác động của thị trường đất đai đối với các loại đầu tư khác nhau
vào đất và thực tiễn quản lý, sản lượng cây trồng, chất lượng đất. Kết quả nghiên cứu
cho thấy, thị trường đất đai, bao gồm cả bán đất và cho thuê đất ngắn hạn, có một vai
trò quan trọng trong quản lý đất đai hiệu quả, bền vững cũng như phát triển nông
nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện thị trường các yếu tố khác sản xuất không hoàn hảo
khuyết thiếu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trên những diện tích đất mà người nông
dân có thời gian và quyền sử dụng lâu dài thì mức đầu tư có sự khác biệt so với những
diện tích mà họ chỉ được sử dụng trong ngắn hạn. Chẳng hạn, hoạt động bón phân hữu
cơ và việc nạo vét các công trình thủy lợi được tiến hành thường xuyên hơn trên
những mảnh đất mà họ được sử dụng và thu được lợi ích trong thời gian dài hơn. Trên
những diện tích đất thuê, người nông dân thường sử dụng phân bón hóa học. Thực tế
đó ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp và chất lượng đất, kết quả điều tra trong
nghiên cứu này đã cung cấp sở cứ để tin rằng những diện tích đất được giao dịch trên
10
thị trường ngắn hạn ở Kenya và Uganda có xu hướng kém chất lượng, làm tăng thêm
tính thuyết phục của giả thuyết về sự tích tụ đất nông nghiệp trong tay những người có
khả năng về vốn đầu tư cao trên một đơn vị diện tích.[1]
Orawan Srisompun và Somporn Isvilanonda (2012) sử dụng phương pháp phân
tích dữ liệu bảng (Panel Data Analysis) để nghiên cứu về sự thay đổi hiệu quả trong
sản xuất gạo tại Thái Lan. Kết quả nghiên cứu cho thấy: việc áp dụng các giống lúa
hiện đại có gây ra những thay đổi lớn trong lĩnh vực sản xuất lúa gạo trong Thái Lan.
Ứng dụng công nghệ mới, sử dụng nhiều phân bón hóa học hơn và việc áp dụng các
giống lúa mới dẫn đến năng suất trung bình cao hơn tại Thái Lan trong vài thập kỷ
qua. Kết quả cho thấy rằng hạt giống và thời gian làm việc của máy móc có ảnh hưởng
lớn nhất đến năng suất lúa. Điều đó có thể được giải thích rằng: thông qua sử dụng
máy móc đã tiết kiệm lao động trong tất cả quy trình sản xuất lúa gạo, bù đắp cho tình
trạng khan hiếm lao động thủ công. Như vây, máy móc đã có một vai trò quan trọng
hiện, nhiều công trình đã được công bố. Từ những năm 60 của thế kỷ 20, nhiều nhà
nghiên cứu nước ngoài đã nghiên cứu và công bố nhiều loại bản đồ đất, nhiều tài liệu
khác nhau về đặc điểm thổ nhưỡng của nhiều vùng trên toàn quốc.
Về hiệu quả kinh tế liên quan đến vấn đề sử dụng đất nông nghiệp, có một số
nghiên cứu điển hình sau:
Phan Sỹ Cường (2000) đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cây cam ở huyện
Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Nghiên cứu dùng các chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại thuần –
Net present value) và IRR ( Tỷ suất hoàn vốn nội bộ- Internal rate of return ) để tính
hiệu quả kinh tế sản xuất cam cho các hộ nông dân.Đây là phương pháp nghiên cứu có
độ chính xác cao nhưng gặp phải hạn chế về nguồn số liệu cần lưu trữ chi tiết trong
nhiều năm, đặc biệt khó đáp ứng tại những vùng sâu vùng xa và miền núi cao, nơi có
trình độ dân trí thấp. Do vật việc tính toán hiệu quả kinh tế theo phương pháp này ít
được sử dụng.
Đinh Duy Khánh, Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng mô hình bài toán tối ưu đa
mục tiêu để xác định phương án tổ chức sản xuất trên đất canh tác cho huyện Gia Viễn,
tỉnh Ninh Bình. Bài toán tối ưu được giải bằng Modul Solver trong phần mềm Excel,
theo phương pháp nhượng bộ từng bước. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện trạng sản
xuất ngành trồng trọt của huyện Gia Viễn tương đối đa dạng. Cây trồng cho hiệu quả
kinh tế cao nhất là dưa chuột. Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, huyện cần
chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng theo hướng tăng diện tích cây trồng cho hiệu quả
cao, kiên quyết loại trừ những cây trồng cho hiệu quả thấp.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông
nghiệp (2005) đã thực hiện dự án nghiên cứu “Quy hoạch sử dụng hiệu quả 38 vạn ha
đất nương rẫy vùng Trung Du Miền Núi Bắc Bộ”. Nghiên cứu khẳng định, canh tác
nương rẫy là một giai đoạn phát triển nông nghiệp mà mọi miền trên trái đất đều trải
qua và hiện vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới. Ở nước ta, canh tác nương
rẫy là phương thức sản xuất truyền thống lâu đời của cộng đồng các dân tộc vùng cao,
mang nặng tính tự cung tự cấp. Cả một thời gian dài, canh tác nương rẫy đã đáp ứng
12
- Chuyển đổi các loại hình sử dụng đất nông nghiệp một cách ồ ạt, thiếu căn cứ khoa
học sẽ dẫn tới hậu quả là làm thay đổi chất dinh dưỡng của đất, ảnh hưởng đến năng
suất và chất lượng nông sản.
- Trong nền kinh tế thị trường, đất nông nghiệp đang phải chịu sức ép về khả năng cạnh
tranh với các mục đích sử dụng khác. Nếu không có giải pháp quy hoạch v à sử dụng
13
theo hướng bền vững thì ngay trong thời gian không lâu, nền kinh tế sẽ phải đối mặt
với tình trạng sản xuất lương thực bị giảm sút, giá lương thực, thực phẩm tăng cao, đất
có khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm bị suy kiệt.
- Không nên khai thác quá mức đất nông nghiệp và đưa quá nhiều hóa chất vào đất trồng
để nhanh đem lại sản phẩm thỏa mãn mong muốn của con người, tình trạng đó sẽ tạo
ra nguy cơ thoái hóa đất, ô nhiễm đất trồng và nguồn nước, đe dọa tính bền vững của hệ
sinh thái và môi trường.
- Những thảm họa tự nhiên và nhân tạo như: lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm là các các
nguyên nhân chính của sự kém hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp. Hoạt động
sáng tạo, đa dạng hóa sản xuất và vốn đầu tư nước ngoài vào sản xuất nông nghiệp là
những nhân tố có mối quan hệ tích cực với hiệu quả sử dụng đất canh tác trong nông
nghiệp.
- Các phương pháp để nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp rất đa dạng, từ
đơn giản đến phức tạp, từ phương pháp truyền thống đến hiện đại. Mỗi phương pháp
có những ưu điểm và hạn chế riêng. Trong đề tài này tác giả áp dụng phương pháp
phân tích tổng hợp để thực hiện đề tài.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Các khái niệm cơ bản
• Khái niệm về đất đai
Đất là tầng ngoài của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác dụngtổng hợp
của nhiều yếu tố. Theo Docutraiep: Đất trên bề mặt lục địa là mộtvật thể thiên nhiên
trọt, xây dựng chuồng trại và chăn nuôi gia súc, gia cầm, các loại động vật khác được
pháp luật cho phép.
• Chuyển mục đích sử dụng đất
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất là sự thay đổi về mục đích sử dụng của đất.
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là phạm trù hẹp hơn, tuy cũng chỉ sự
thay đổi về mục đích sử dụng của đất, nhưng đó là mục đích của đất nông nghiệp này
sang mục đích nông nghiệp khác hoặc từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp.
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp còn được hiểu theo các góc độ
về mặt pháp lý, về kinh tế tổ chức…Về mặt pháp lý, chuyển đổi mục đích sử dụng đất
nông nghiệp là thay đổi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất, được duyệt
bằng quyết định hành chính. Về mặt kinh tế, đất được sử dụng vào tất cả các hoạt động
kinh tế và đời sống kinh tế xã hội.(Tạp chí cộng sản, 22/10/2008)
• Sử dụng đất bền vững và hiệu quả
Đất đai mà chúng ta có được hôm nay không chỉ là “tài nguyên thiên nhiên
cho không con người” như C.Mác đã nói, mà còn là thành quả của nhiều thế hệ trước
để lại. Đến lượt mình, chúng ta phải để lại nguồn sống này cho thế hệ con cháu mai
15
sau và phải làm cho nó phì nhiêu hơn, trù phú hơn, bởi chúng ta đang sử dụng “tài sản
vay mượn của con cháu” như đa số các quốc gia trên thế giới quan niệm.[1]
Sử dụng đất bền vững là khái niệm động và tổng hợp, liên quan đến các lĩnh
vực kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường, hiện tại và tương lai. Sử dụng đất bền vững là
giảm suy thoái đất và nước đến mức tối thiểu, giảm chi phí sản xuất bằng cách sử dụng
thông các nguồn tài nguyên bên trong và áp dụng hệ thống quản lý phù hợp. Sử dụng
đất bền vững trong nông nghiệp liên quan trực tiếp đến hệ thống canh tác cụ thể nhằm
duy trì và nâng cao thu nhập, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thức đẩy
phát triển nông thôn.
Ngày nay, sử dụng đất bền vững trở thành chiến lược quan trọng, có tính toàn
triển cây lâu năm có giá trị thương mại cao. Áp dụng quy trình và công nghệ canh tác
thích hợp theo từng vùng, đơn vị sinh thái và hệ thống cây trồng. Phát triển công
nghiệp phân bón và thâm canh theo chiều sâu.
Thứ năm, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách quản lý và bảo tồn tài
nguyên đất. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm, chuyển giao
công nghệ, khoa học kỹ thuật, giao đất, giao rừng, xóa đói giảm nghèo. Đẩy mạnh hợp
tác khu vực và quốc tế trong việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án và kế
hoạch hành động bảo vệ và sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững.
(Tạp chí cộng sản, 22/10/2008)
1.3. Đánh giá hiện trạng sử dụng đất tác động tới phát triển bền vững
1.3.1. Đánh giá loại hình sử dụng đất đai
Thu thập thông tin về các loại hình sử dụng đất có trên địa bàn
huyệnCaoPhong.
Nêu lên các loại hình sử dụng đất nông nghiệp hiện đang có trên địa bàn huyện
Cao Phong.
Mô tả các loại hình sử dụng đất có trên địa bàn huyện Cao Phong.
1.3.1 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai
Hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổchức sản
xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế,khắc phục các khó
khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàncảnh cụ thể còn gắn sản
xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tếquốc dân, gắn sản xuất trong
nước với thị trường quốc tế.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng
vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hếtcác nước trên thế
giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định
17
chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân những người trực tiếp tham gia sảnxuất nông nghiệp.[1]
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây
trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá
chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra.
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt
được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.[4]
Tiềm năng đất đai và đánh giá tiềm năng đất đai
- Tiềm năng: thuật ngữ tiềm năng được sử dụng rất rộng rãi, tiềm năng có thể là
những khả năng tiềm ẩn, những thế mạnh còn chưa được khai thác, chưa được biết đến
hoặc chưa được sử dụng hợp lý vào các hoạt động vì lợi ích của con người
- Đánh giá tiềm năng đất đai: là quá trình xác định số lượng, chất lượng đất,
liên quan đến mục đích của đất được sử dụng. Đó là việc phân chia hay phân hạng đất
đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng đất như
độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hoá, v.v… trên cơ sở
đó có thể lựa chọn những loại sử dụng đất phù hợp [3]
Đánh giá tiềm năng cung cấp thông tin về số lượng, chất lượng đất gắn với mục
đích sử dụng, mức độ thích hợp và thuận lợi, đây là cơ sở để phân bổ, bố trí quỹ đất
hợp lý theo hướng bền vững. Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở cho hoạch định phát
triển bền vững kinh tế xã hội, phát huy lợi thế so sánh theo đặc trưng vùng, miền.
Đánh giá tiềm năng đất đai là cơ sở khoa học cho công tác lập quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành (nông –
lâm nghiệp, xây dựng, giao thông, thương mại, dịch vụ, v.v…) [1]
- Mục tiêu của việc đánh giá tiềm năng đất đai:
+ Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo
mục đích và nhu cầu của con người.
+ Đối với mọi mục đích sử dụng được lựa chọn thì mức độ thích hợp và hiệu quả như
thế nào.
+ Có những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn
+ Đánh giá mức độ thích hợp đất đai: Là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay
- Bảo vệ môi trường đất nông nghiệp: Đảm bảo diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp của mỗi tỉnh, huyện, xã theo quy họach sử dụng đất đã được phê duyệt.
Giáo dục người sử dụng đất và hỗ trợ đầu tư các tiến bộ kỹ thuật mới cho họ để bảo
vệ, duy trì độ phì đất (đặc biệt tăng chất hữu cơ cho đất) và không gây suy thoái đất
(chống xói mòn, rửa trôi, sa mạc hóa, kết von, đá ong, bạc màu hóa).
- Bảo vệ môi trường nước: Bảo vệ vùng đầu nguồn, xây dựng các hồ, đập, ao chuôm
dự trữ nước, xây dựng hệ thống kênh mương tưới tiêu hợp lý và đặc biệt bảo vệ chất
20
lượng nước tưới, không gây ô nhiễm nước tưới bởi các hoạt động sản xuất công
nghiệp, hoạt động dân sinh và sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật.
- Bảo vệ môi trường lao động: Xây dựng các thể chế cho sản xuất nông nghiệp (Luật
Đất đai, Luật Môi trường, Luật Lao động, v.v..., các chính sách đầu tư, dịch vụ và hỗ
trợ sản xuất nông nghiệp); quan tâm đặc biệt đến lực lượng lao động (số lượng lao
động cho sản xuất nông nghiệp, trình độ văn hóa và kỹ thuật của người lao động và
vấn đề bình đẳng giới trong nguồn lực), đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
các ngành trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả lao động
(cơ giới hóa, tự động hóa, công nghệ sinh học, v.v...).
(4) Tính lâu bền và thích hợp: Dựa trên các thuộc tính: hiệu quả, an toàn, chấp
nhận. Phát triển nông nghiệp bền vững phải được đánh giá bởi tính lâu bền và thích
hợp với các điều kiện tự nhiên kinh tế và xã hội của mỗi khu vực sản xuất. Muốn vậy
các hoạt động sản xuất phải được dựa trên các thuộc tính hiệu quả, an toàn và được
chấp nhận. Để đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững có tính lâu bền, cần phải chú
trọng các vấn đề sau: Luật Đất đai, quyền sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất, đầu tư
khoa học và kỹ thuật, khai thác hợp lý tiềm năng sản xuất cả về nguồn tài nguyên tự
nhiên và về nguồn lực, ổn định và bảo vệ thị trường nông nghiệp: dịch vụ cho sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Tính thích hợp cũng rất quan trọng đối với phát
triển nông nghiệp bền vững vì nó thỏa mãn được nhu cầu sinh trưởng và phát triển của
cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ
thuật đặc biệtcó ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và
nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp .[1]
• Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức.[1]
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Phát triển sản xuất hàng hoá phải gắn
với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp. Cơ sở để tiến hành quy
hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng. Việc phát
triển sản xuất nông nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy
hoạch công nghiệp chế biến. Đó sẽ là cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm
năng của đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất
hàng hoá.
+ Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng trực
tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Vì vậy, cần phải
thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp,xác lập một hệ thống tổ
chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất, dịch
vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá.
+ Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời
những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản
22
xuất.Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao
chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm .
• Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội.[1]
+ Nền kinh tế thị trường: Cung - cầu có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành
và phát triển đối với các hàng hoá nông nghiệp, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn
hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên
kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng
cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng.
Đơn vị đất đai
Đầu ra
(Năng lượng, vật chất tự nhiên)
Vốn,Đầu
lao động,
vào kỹ thuật,
…
Năng suất, thu nhập, chất
lượng môi trường
Loại hình sử dụng đất
Hình 1 : Mô hình cấu trúc hệ thuống sử dụng đất
(Yêu cầu sử dụng
đất) : Trần Văn Tuấn và nnk 2014)
(Nguồn
Quan điểm phát triển bền vững :
Quan điểm phát triển bền vững hiện nay đã trở thành phổ biến và áp dụng rộng
rãi trong tất cả các hoạt động của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong khai thác sử
dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Phát triển bền vững được xác định ngay từ khi
bắt đầu tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Phát triển kinh tế-xã hội phải
gắn liền với bảo vệ môi trường để đảm bảo rằng việc khai thác tài nguyên và phát triển
sản xuất đó đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế của hiện tại mà vẫn đảm bảo cho
thế hệ tương lai. Do đó, trong đề xuất định hướng sử dụng đất cần phải cân nhắc tính
toán, phân tích một cách tổng hợp, toàn diện các đặc điểm điều kiện địa lý tự nhiên
trên hệ thống, tổng hợp với các mục đích phát triển kinh tế-xã hội gắn liền bảo vệ môi
Định
hướng
đấtmôi trường.
-Điều kiện tự
nhiên,
kinhsử
tế-dụng
xã hội,
Thu thập tài liệu, số liệu
đẩy
vềhợp
mặt kinh
Tổng
-Hiện trạng-Thúc
sử dụng
đất,
biến
độngtếsử dụng đất.
25
-Đảm
bảo
về
mặt
xã
hội
-Xu
động
sửđiểm
dụng
đất