TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
------------------------------
NGUYỄN THU HIỀN
LỰA CHỌN MỘT SỐ TRÕ CHƠI BÓNG ĐÁ
NHẰM PHÁT TRIỂN SỨC NHANH CHO CÁC
BÉ TRAI (5 - 6 TUỔI) TRƢỜNG MẦM NON
XUÂN HÕA – PHÖC YÊN - VĨNH PHÖC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành học: Giáo dục Mầm non
Cán bộ hƣớng dẫn
TS. LÊ TRƢỜNG SƠN CHẤN HẢI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với Thầy giáo – TS. Lê Trƣờng Sơn
Chấn Hải, ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, từ
khâu chọn lựa đề tài đến hoàn chỉnh nội dung chi tiết. Những góp ý vô cùng
quý báu của thầy đã giúp tôi có những hiểu biết sâu sắc hơn về đề tài khóa
luận của tôi.
.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Thu Hiền
GDTC
GDTC
GVMN
Giáo viên mầm non
GV
Giáo viên
GD & ĐT
Giáo dục và đào tạo
NXB
Nhà xuất bản
STT
Số thứ tự
TCVĐ
Trò chơi vận động
TN
trẻ mầm non ..................................................................................................... 18
1.6. Cơ sở giáo dục sức nhanh ........................................................................ 19
1.6.1. Khái niệm và các hình thức biểu hiện của sức nhanh ........................... 19
1.6.2. Phƣơng pháp giáo dục sức nhanh phản ứng vận động.......................... 20
Chƣơng 2. NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 21
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 21
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................... 21
2.2.1. Phƣơng pháp phân tích và tổng hợp tài liệu ......................................... 21
2.2.2. Phƣơng pháp phỏng vấn........................................................................ 21
2.2.3. Phƣơng pháp quan sát sƣ phạm............................................................. 22
2.2.4. Phƣơng pháp kiểm tra sƣ phạm............................................................. 22
2.2.5. Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm...................................................... 22
2.2.6. Phƣơng pháp toán học thống kê ............................................................ 23
2.3. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................. 23
2.3.1. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 23
2.3.2. Đối tƣợng nghiên cứu............................................................................ 24
2.3.3. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 24
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 25
3.1. Đánh giá thực trạng tổ chức GDTC và việc sử dụng trò chơi bóng đá
nhằm phát triển sức nhanh cho bé trai (5 - 6 tuổi) trƣờng mầm non Xuân
Hòa – Phúc yên – Vĩnh Phúc.......................................................................... 25
3.1.1. Thực trạng công tác GDTC trƣờng Mầm non Xuân Hòa ..................... 25
3.1.2. Thực trạng năng lực đội ngũ giáo viên trƣờng mầm non Xuân Hòa .... 26
3.1.3. Thực trạng năng lực giảng dạy môn Thể dục của giáo viên ở trƣờng
mầm non Xuân Hòa ........................................................................................ 27
3.1.4. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động GDTC cho trẻ
trƣờng mầm non Xuân Hòa ............................................................................. 29
Bảng 3.6: Bảng phỏng vấn mức độ ƣu tiên test kiểm tra đánh giá sức
nhanh cho các bé trai (5-6 tuổi) trƣờng mầm non Xuân Hòa
(n=20) .............................................................................................. 37
Bảng 3.7: Tiến trình giảng dạy trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức
nhanh cho các bé trai (5-6 tuổi) trƣờng mầm non Xuân Hòa. ........ 40
Bảng 3.8: Kết quả kiểm tra trƣớc TN của 2 nhóm ĐC và TN (nA=nB=15) .... 39
Bảng 3.9: Kết quả kiểm tra sau TN của 2 nhóm ĐC và TN (nA=nB=15) ....... 41
Biểu đồ 1: Thành tích chạy 8m của 2 nhóm ĐC trƣớc và sau TN .................. 42
Biểu đồ 2: Thành tích chạy cắm cờ của 2 nhóm ĐC trƣớc và sau TN ........... 43
Biểu đồ 3: Thành tích chạy zích zắc của 2 nhóm ĐC trƣớc và sau TN ............. 43
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Một quốc gia có nền giáo dục phát triển là một quốc gia có nền kinh tế
phát triển hùng mạnh. Vì vậy, đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho sự phát triển,
đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp có đầy đủ những phẩm chất về tri thức,
năng lực, trình độ để phục vụ cho đất nƣớc. Tại Đại hội Đảng toàn quốc khóa
IX đã xác định: “GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục là một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nƣớc, là điều kiện để phát huy nguồn lực con ngƣời” [3]. Vì vậy
hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội đặc
biệt là GDMN.
Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của
mỗi gia đình, là tƣơng lai của đất nƣớc, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo
dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con ngƣời
mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì một tƣơng lai tƣơi sáng, trẻ em sẽ trở
thành chủ nhân hữu ích của tƣơng lai thì ngay từ tuổi thơ ấu trẻ phải đƣợc
hƣởng nền giáo dục phù hợp, hiện đại và toàn diện về mọi mặt: đức, trí, thể,
mĩ. Vì vậy, chăm sóc – giáo dục trẻ em đặc biệt là GDTC ngay từ những năm
vƣợt chƣớng ngại vật… Các bài tập và trò chơi với bóng nhằm phát triển
không những thể chất cho các cháu về mặt sinh học và chức năng mà còn giáo
dục các phẩm chất tâm lý lành mạnh nâng cao năng lực vận động và một số
kỹ năng đơn giản, biết điều khiển quả bóng bằng tay, bằng chân theo ý muốn.
Những phẩm chất trên là rất cần thiết và là cơ sở để sau này định hƣớng cho
các cháu ham thích, chơi bóng đá.
* Lịch sử nghiên cứu
Bàn về vấn đề trò chơi bóng đá cho trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) có rất
nhiều tác giả đề cập đến nhƣ:
3
1. Đánh giá hiệu quả sử dụng trò chơi bóng đá trong phát triển sức bền
cho trẻ 5 - 6 tuổi trƣờng mầm non Hùng Vƣơng – Phúc Yên [9]
2. Lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức nhanh cho
trẻ mẫu giáo lớn trƣờng mầm non Vĩnh Sơn – Vĩnh Tƣờng – Vĩnh Phúc [14]
Nhƣ vậy có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề trò chơi bóng đá cho
trẻ em lứa tuổi mầm non nhƣng chƣa có ai nghiên cứu đề tài “Lựa chọn một
số trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi)
trường mầm non Xuân Hòa – Phúc Yên – Vĩnh Phúc”.
Xuất phát từ thực trạng, tầm quan trọng của GDTC nói chung và vai trò
của trò chơi bóng đá nhằm phát triển sức nhanh cho bé trai nói riêng, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn một số trò chơi bóng
đá nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai, tuổi mẫu giáo lớn (5-6 tuổi)
trường mầm non Xuân Hòa – Vĩnh Phúc”.
* Mục đích nghiên cứu.
Lựa chọn và áp dụng một số trò chơi bóng đá phù hợp với lứa tuổi
nhằm phát triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi) trƣờng mầm non Xuân
Hòa. Giúp trẻ phát triển toàn diện về mặt thể chất.
* Giả thuyết khoa học.
nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi
đồng. GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được
thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học. Thể dục
thể thao trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và
tổ chức thể dục thể thao ngoại khóa cho người học. Nhà nước khuyến khích
5
đào tạo và tạo điều kiện cho học sinh tập luyện thể dục thể thao phù hợp với
đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi. GDTC là bộ phận quan trọng để thực
hiện nguyên tắc giáo dục toàn diện góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa [10].
Quan niệm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhấn mạnh rằng, cùng với việc
chăm lo nuôi dƣỡng, bảo vệ sức khỏe của trẻ, ngƣời lớn cần phải nhạy cảm và
đón nhận thỏa mãn nhu cầu phát triển của trẻ, làm nảy sinh nhu cầu mới, từng
bƣớc hoàn thiện và phát triển nhân cách trẻ. Vì vậy, chăm sóc từ những năm
đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức ý nghĩa và vô cùng quan trọng
trong sự nghiệp chăm lo đào tạo bồi dƣỡng thế hệ trẻ trở thành chủ nhân của
đất nƣớc.
“Việc chăm sóc giáo dục mầm non phải thực hiện, gắn kết chặt chẽ giữa
nhà trƣờng, gia đình và xã hội. Coi trọng và nâng cao công tác tuyên truyền,
phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục cho các bậc phụ huynh cha mẹ của trẻ
nhằm thực hiện đa dạng hóa phƣơng thức chăm sóc giáo dục trẻ em” [1].
Con ngƣời cần đƣợc nâng cao giáo dục đào tạo một cách có hệ thống
ngay từ khi bƣớc những bƣớc chập chững đầu tiên trong những điều kiện phát
triển giáo dục có tổ chức một cách đặc biệt, thì khả năng tiềm tàng to lớn của
trẻ sẽ đƣợc bộc lộ, do đó hình thành nhân cách cho trẻ sẽ thu đƣợc những
công trình to lớn.
1.1.2. Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sự
phát triển xã hội C.Mác và Ănghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục
vào điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục.
C.Mác nhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản
7
xuất với trí dục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thêm sức
sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát
triển toàn diện” [1].
GDTC cho trẻ mầm non là cơ sở phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể,
hình thành những thói quen vận động cần thiết cho cuộc sống.
Nhƣ vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự phát triển toàn diện về thể
chất và tinh thần, luận điểm về sự thống nhất giữa các mặt giáo dục đức, trí,
thể, mĩ và lao động trong học thuyết của Mác và sau này ngƣời kế tục là
V.I.Lênin đã trang bị cho lý luận GDTC phƣơng pháp nhận thức và cho phép
nghiên cứu sâu sắc những quy luật sƣ phạm trong quá trình GDTC cho con
ngƣời nói chung, cho trẻ mầm non nói riêng.
Cơ sở tâm lý học
Dựa vào lý thuyết hoạt động, các đặc điểm tâm lý lứa tuổi, các trạng
thái tâm lý và các thuộc tính tâm lý của trẻ em, các nhà giáo dục thiết kế hệ
thống phƣơng pháp GDTC phù hợp với trẻ em.
Bởi ở mỗi độ tuổi có đặc điểm khác nhau vì vậy đối với từng lứa tuổi
nên có hệ thống bài tập thể chất phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng trẻ.
Qua đó trẻ có thể phát triển vận động một cách cân đối, hài hòa góp phần phát
triển toàn diện cơ thể trẻ.
Cơ sở giáo dục học.
Dựa vào kiến thức về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trẻ em, những quan
điểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chƣơng trình chăm sóc và giáo dục,
các phƣơng pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ, trong đó GDTC là
nhân. Các tổ chức này có nhiệm vụ chỉ đạo hƣớng dẫn mọi ngƣời thực hiện
đƣờng lối, quan điểm và nhiệm vụ GDTC. Bên cạnh đó còn có hệ thống các
trƣờng Thể dục thể thao, câu lạc bộ Thể dục thể thao nhà nƣớc và tƣ nhân, các
đội huấn luyện, đội ngũ các bộ, giáo viên Thể dục thể thao để trực tiếp đào
9
tạo, hƣớng dẫn giảng dạy Thể dục thể thao từ mầm non đến đại học, …chỉ
đạo phong trào Thể dục thể thao quần chúng.
Hình thành những Liên đoàn, Hiệp hội nhƣ Liên đoàn bóng đá, Hiệp
hội võ vật, điền kinh, bóng chuyền,… nhằm thu hút đông đảo nhân dân lao
động tập luyện, phát triển phong trào Thể dục thể thao.
1.2. GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân
GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí
quan trọng trong chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực con ngƣời, nhà giáo
dục học ngƣời Nga đã viết: “Những cơ sở căn bản của việc giáo dục trẻ đã
đƣợc hình thành trƣớc tuổi lên năm. Những điều dạy trẻ trong thời kì đó,
chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ về sau, việc giáo dục đào tạo con ngƣời vẫn
tiếp tục, nhƣng lúc đó là bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa đã đƣợc vun
trồng trong năm đầu tiên” [1]. Điều đó cho thấy rằng: Việc nuôi dạy “con
ngƣời” bắt đầu từ những năm đầu tiên của cuộc sống là hết sức quan trọng và
có ý nghĩa lớn lao về nhân văn xã hội và kinh tế, nhƣng lại vô cùng vất vả và
khó khăn.
1.2.1. Vị trí, vai trò của GDMN
GDMN là cốt lõi, là trọng tâm của chiến lƣợc trồng ngƣời. Phát triển
giáo dục là nền tảng để tạo ra những nguồn nhân lực có chất lƣợng cao, là
động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc. Bởi vậy
Đảng ta đã khẳng định “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Trong đó GDMN là
một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, có vị trí rất quan
trọng trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của đất nƣớc.
tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho
trẻ vào học lớp một.
1.2.3. Chương trình GDMN
11
Chƣơng trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN; cụ thể hóa các yêu cầu
nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từng độ tuổi; quy định việc tổ chức
các hoạt động nhằm tạ điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
tuệ, thẩm mỹ, hƣớng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi
mầm non.
Bộ trƣởng Bộ GD&ĐT ban hành chƣơng trình GDMN trên cơ sở thẩm
định của Hội đồng quốc gia thẩm định chƣơng trình GDMN.
1.2.4. Yêu cầu về nội dung, phương pháp GDMN
1.2.4.1. Yêu cầu về nội dung GDMN
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát
triển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ,
mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống
hiện thực.
- Phù hợp với sự phát triển tâm lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dƣỡng,
chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh,
nhanh nhẹn; cung cấp kĩ năng sống phù hợp với lứa tuổi.
1.2.4.2. Yêu cầu về phương pháp GDMN
- Đối với giáo dục nhà trẻ, phƣơng pháp giáo dục phải chú trọng giao
tiếp thƣờng xuyên, thể hiện sự yêu thƣơng và tạo sự gắn bó của ngƣời lớn với
trẻ; chú ý đặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phƣơng pháp giáo dục phù hợp,
tạo cho trẻ có cảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện thuận
lợi cho trẻ đƣợc tích cực hoạt động giao lƣu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và
vui chơi, kích thích sự phát triển của các giác quan và các chức năng tâm –
sinh lý; tạo môi trƣờng giáo dục gần gũi.
những giáo viên ở các bậc học khác, công việc của GVMN khá bận rộn.
13
Ngoài việc hƣớng dẫn, dạy dỗ các em, GVMN còn phải thực hiện các công
việc chăm sóc, nuôi dƣỡng các em.
GDTC không chỉ tác động tích cực đến quá trình phát triển và hoàn
thiện thể chất mà còn góp phần quan trọng phát triển các phẩm chất đạo đức
nhân cách và những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống học tập và lao động.
Để nâng cao chất lƣợng GDTC, cần đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất và
quan tâm phát triển đội ngũ giáo viên giỏi, tâm huyết với nghề. Chính sách
đối với GVMN cần đƣợc chỉnh sửa phù hợp hơn nữa, ƣu tiên giáo viên mầm
non làm việc tại vùng nông thôn và vùng khó khăn.
Ở độ tuổi mầm non cơ thể trẻ phát triển nhanh, nhƣng sức đề kháng
yếu, các cơ quan đang phát triển chƣa hoàn thiện. Vì vậy, giai đoạn này
GDTC có nhiệm vụ vô cùng quan trọng: bảo vệ tăng cƣờng sức khỏe nhằm
đảm bảo sự phát triển toàn diện ngay từ những tháng năm đầu của cuộc đời.
Sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ em luôn theo những quy luật nhất
định, do đó việc lựa chọn và áp dụng những bài tập rèn luyện thể lực cần
đƣợc quan tâm đặc biệt.
Qua những đăc điểm trên đây ta có thể thấy rằng hoạt động TDTT là
một hoạt động không thể thiếu đƣợc trong sự phát triển vận động cơ bản của
trẻ. Tập luyện TDTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc gìn giữ tăng
cƣờng sức khỏe, đồng thời GDTC có tác dụng rèn luyện trẻ một cách toàn
diện cả về mặt thể chất và tinh thần.
1.3.2. Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non
GDTC cho trẻ mầm non là một trong những bộ phận quan trọng của
giáo dục toàn diện cho trẻ và tạo ra những điều kiện thuận lợi trong quá trình
giáo dục trẻ.
Để thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị tiền đề quan trọng đảm bảo
luyện những phẩm chất vận động cho trẻ, dần hoàn thiện các động tác để
động tác trở lên nhanh nhạy, chính xác, linh hoạt, gọn gàng, dẻo dai, không
15
còn những động tác thừa nhƣ nghẹo cổ, thè lƣỡi, xô ngƣời về phía trƣớc hay
phía sau khi không cần thiết. Trẻ biết thực hiện các bài tập vận động một
cách hợp lý trong các điều kiện khác nhau và biết kết hợp các bài tập vận
động đã học khác.
1.3.2.3. Giáo dục nếp sống, có thói quen và các kỹ năng giữ gìn vệ sinh
- Thói quen thƣờng để chỉ những hành động của cá nhân đƣợc diễn ra
trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan hệ xã hội nhất
định. Thói quen có nội dung tâm lý ổn định và thƣờng gắn với các nhu cầu cá
nhân. Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên ổn định, cân
bằng và khó loại bỏ.
- Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn luyện thói quen ăn, ngủ,
thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động
khác. Thói quen này giúp đƣa trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêu hóa, có
khả năng làm việc cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra
bình thƣờng và sức khỏe của trẻ đƣợc củng cố.
- Rèn luyện các kỹ năng, giữ gìn vệ sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn đối
với việc bảo vệ sức khỏe cà tăng cƣờng thể lực. Bởi khi trẻ biết vệ sinh thân
thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh quần áo vè môi trƣờng xung quanh sẽ tăng
cƣờng khả năng miễn dịch cho trẻ, giúp ngăn chặn những ảnh hƣởng xấu từ
môi trƣờng xung quanh đến trẻ. Tuy nhiên, khả năng nhận thức cũng nhƣ vận
động của trẻ còn hạn chế nên chúng ta cần hình thành, rèn luyện những thói
quen đó một cách tỉ mỉ, kiên trì trong thời gian dài để thói quen đƣợc củng cố
ổn định.
17
triển sức nhanh cho các bé trai (5 - 6 tuổi) trƣờng mầm non Xuân Hòa – Phúc
Yên – Vĩnh Phúc góp phần nâng cao công tác GDTC cho trƣờng mầm non
Xuân Hòa. Các em rất hào hứng nhiệt tình tham gia, vui chơi, để tinh thần
thoải mái, xua tan mệt mỏi. Giúp trẻ thêm yêu trƣờng, yêu lớp, mến bạn hơn,
trẻ muốn đƣợc đến trƣờng mỗi ngày.
Vì vậy, trong khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứu những trò
chơi bóng đá mang tính vận động thể lực và đặc biệt chú ý tới sức nhanh của
các bé trai (5 - 6 tuổi), từ đó đƣa ra đƣợc một số ứng dụng hiệu quả trong
công tác GDTC trƣờng mầm non Xuân Hòa nói riêng và các trƣờng mầm non
khác nói chung.
1.4.2. Đặc điểm sinh lý
Hệ thần kinh: Đây là thời kì phát triển nhanh và rõ nhất trong cuộc
đời. Song ở lứa tuổi này, khả năng hƣng phấn và ức chế của hệ thần kinh
chƣa cân bằng, nên nếu để trẻ làm việc gì đơn thuần và kéo dài sẽ dễ bị mệt
mỏi. Nếu ban ngày chơi nghịch quá nhiều hay gặp phải kích thích mạnh, ban
đêm dễ sinh mộng mị, la hoảng, khả năng tự kiềm chế, điều tiết còn kém,
khi trẻ hƣng phấn làm một việc gì đó thì rất tập trung, quên ăn, quên ngủ. Vì
vậy, ngƣời lớn không nên để kéo dài thơi gian hƣng phấn, nhằm tránh gây
mệt mỏi cho trẻ.
Hệ vận động: Gồm hệ xƣơng và hệ cơ
Hệ xương: Bộ xƣơng của trẻ còn mềm, dẻo nhiều nƣớc và chất hữu
cơ. Trong bộ xƣơng còn có một phần sụn, các khớp xƣơng, bao khớp, dây
chằng, gân còn lỏng lẻo. Sự liên kết giữa các xƣơng chƣa thật vững chắc do
vậy dễ bị cong vẹo, khớp. Ở trẻ 5 - 6 tuổi xƣơng cột sống có 2 đoạn uốn cong
vĩnh viễn ở cổ và ở ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đƣờng kính ngang lớn hơn
đƣờng kính trƣớc sau, xƣơng sƣờn chếch theo hƣớng dốc nghiêng.