TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====
DOÃN THỊ HÀ
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP
QUA CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC THÓI QUEN
VỆ SINH CHO TRẺ LỚP 5 - 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG
MẦM NON CỔ LOA - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp chăm sóc vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thị Việt Nga
HÀ NỘI, 2017
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2; Các thầy cô giáo trong khoa Giáo Dục Mầm Non, khoa Sinh đã
giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện để em hoàn
thiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Việt Nga
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên
cứu để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cô giáo và các em học sinh
trường Mầm non Cổ Loa - Đông Anh - Hà Nội đã cùng hợp tác, tận tình
giúp đỡ em trong thời gian em thực tập tại trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 2
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu ......................................................... 2
5. Giả thuyết khoa học .................................................................................. 2
6. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 3
7. Đóng góp khóa luận .................................................................................. 3
NỘI DUNG ....................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU.................................................................................................. 4
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................... 4
1.1.1. Trên thế giới ...................................................................................... 4
1.1.2. Ở Việt Nam....................................................................................... 5
1.2. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 7
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................. 7
1.2.2. Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ mầm non nói chung và trẻ 5-6 tuổi
nói riêng .................................................................................................... 12
1.2.3. Đặc điểm kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi .................................. 14
1.2.4. Vai trò của hoạt động phát triển kĩ năng giao tiếp qua giáo dục cho
trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non .......................................................... 15
1.3. Thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp qua các nội dung giáo dục thói
quen vệ sinh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở Trường Mầm non Cổ Loa - Đông Anh Hà Nội .......................................................................................................... 16
CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP QUA
CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH CHO TRẺ LỚP 5 - 6
TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON CỔ LOA - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI ........ 18
2.1. Một số kĩ năng giao tiếp cần phát triển cho trẻ thông qua các nội dung
giáo dục thói quen vệ sinh ........................................................................... 18
2.1.1. Kĩ năng giao tiếp lịch sự lễ phép ................................................... 18
2.1.2. Kĩ năng giao tiếp phi ngôn ngữ ..................................................... 18
2.1.3. Kĩ năng sử dụng ngôn từ ................................................................ 18
3.4.3. Tiến hành thực nghiệm .................................................................. 39
3.5. Đánh giá ................................................................................................ 40
3.6. Kết quả thực nghiệm ............................................................................ 40
3.6.1. Mức độ trẻ có kĩ năng giao tiếp sau đánh giá đợt 1 ...................... 40
3.6.2. Mức độ trẻ có kĩ năng giao tiếp sau đánh giá đợt 2 ...................... 41
3.6.3. Mức độ trẻ có kĩ năng giao tiếp sau đánh giá đợt 3 ...................... 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 46
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
I.C Vapilic đã từng nói: “Giao tiếp với mọi người là một nghệ thuật mà
không phải ai cũng nắm bắt được. Bất kì ai cũng phải học điều đó”. Giao tiếp
có vai trò quan trọng trong đời sống cá nhân cũng như trong các mối quan hệ
xã hội. Thông qua giao tiếp mà con người lĩnh hội các giá trị văn hóa tinh
thần trong nền văn hóa xã hội, các chuẩn mực đạo đức để hình thành và phát
triển nhân cách.
Đối với trẻ mầm non, kĩ năng giao tiếp có vai trò rất quan trọng. Nhờ
có kĩ năng giao tiếp mà trẻ có thể hòa nhập vào môi trường xã hội dễ dàng.
Kĩ năng giao tiếp có được không nhờ bẩm sinh mà nó được hình thành và
phát triển trong quá trình sống, qua hoạt động, trải nghiệm luyện tập,.. Vì
vậy, dạy cho trẻ biết cách giao tiếp với mọi người xung quanh, biết tập trung
chú ý khi giao tiếp, biết bày tỏ quan điểm của mình bằng lời nói, cử chỉ , nét
mặt, biết lắng nghe… là nội dung quan trọng trong giáo dục trẻ ở độ tuổi
mầm non.
Với trẻ từ 5 - 6 tuổi, các cơ quan trong cơ thể trẻ đã hoàn thiện. Vốn
từ của trẻ lên tới 2000 từ. Trẻ đã có thể hát nhiều bài hát ngắn hay kể lại
những câu chuyện trẻ được học từ cô, trao đổi ý kiến với bạn bè... Với 1 số
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển kĩ năng giao tiếp qua các nội dung giáo dục thói quen vệ
sinh cho trẻ 5 - 6 tuổi.
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Trẻ 5- 6 tuổi ở trường mầm non Cổ Loa- Đông Anh- Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ
thì sẽ giúp cho trẻ có được kĩ năng giao tiếp tốt hơn đồng thời góp phần
quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách cho trẻ.
2
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống và khái quát những tài liệu lí
thuyết liên quan đến kĩ năng giao tiếp và phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ
mẫu giáo lớn
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Quan sát những kĩ năng giao tiếp mà trẻ biểu hiện trong quá trình học
tập, vui chơi.
Tổng hợp kiến thức qua các đợt kiến tập, thực tập tại trường mầm non
Cổ Loa.
6.3. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại với giáo viên hướng dẫn để tìm ra được mấu chốt vấn đề,
cách xử lí; đàm thoại với trẻ trong quá trình giúp trẻ phát triển kĩ năng
giao tiếp.
6.4. Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành khảo sát thực tế nhiều lần về quá trình phát triển kĩ năng
giao tiếp.
“gừ, gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kĩ năng giao tiếp và trí tuệ của trẻ. Trẻ
sơ sinh chưa có ngôn ngữ, chưa biết cách giao tiếp, các bậc phụ huynh cần phải
bắt đầu công việc can thiệp như: luyện âm, luyện giọng, luyện hơi sau đó đến
luyện nói. Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực tác giả đã giúp các bậc
phụ huynh có con ở giai đoạn lứa tuổi này có thêm những kiến thức cơ bản
trong việc giáo dục và dạy dỗ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp.
Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget đã giới
thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong
việc kết giao bạn bè. Muốn giúp trẻ giao tiếp phải tạo môi trường giao tiếp
cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cầu
giao tiếp. Tác giả đã giúp cho phụ huynh có con ở lứa tuổi mẫu giáo biết cách
lựa chọn môi trường giáo dục phù hợp để trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp.
Học giả Steven Gutstin cho rằng để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp
cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, giúp trẻ hiểu được bản
4
thân trẻ (tên gọi, các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các
đồ vật trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ
và các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh,
tình huống có vấn đề trẻ biết cách giao tiếp phù hợp. Tác giả đã giúp cho giáo
viên, phụ huynh biết được một phương pháp mới trong việc phát triển kĩ
năng giao tiếp cho trẻ.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp trên thế giới đã
chỉ ra các khía cạnh khác nhau của kỹ năng giao tiếp trong sự phát triển giao
tiếp nói chung và giao tiếp của trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng. Những nghiên cứu này
là sự gợi mở giúp chúng tôi xây dựng hướng nghiên cứu cho đề tài của mình.
1.1.2. Ở Việt Nam
giúp trẻ dễ dàng trong quá trình tích lũy vốn từ, cơ hội trải nghiệm để phát
triển kĩ năng giao tiếp. Tuy nhiên việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ
được lồng ghép ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và tích hợp ở các lĩnh vực
khác nhưng chưa thể hiện rõ ràng để giáo viên dễ vận dụng.
Hiện tại ở Việt Nam việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ là một
việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp
chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người chủ tương lai
của đất nước. Trong xu thế đổi mới mạnh mẽ của giáo dục mầm non hiện
nay, với mục tiêu chủ yếu là phát triển năng lực chung cho trẻ, các hoạt
động giáo dục ở trường mầm non phải hướng tới việc dạy cho trẻ biết cách
học như thế nào, phát huy tối đa tính chủ động tich cực của trẻ trong tất cả
các hoạt động. Giáo dục nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ ra đời là
nhằm đáp ứng các yêu cầu của giáo dục mầm non. Tuy nhiên tổ chức cho trẻ
mầm non hoạt động phát triển kĩ năng giao tiếp qua các nội dung giáo dục
thói quen vệ sinh vẫn còn là một vấn đề mới. Tuy đã có một số trường mầm
non bước đầu vận dụng, tổ chức một số hoạt động cho trẻ phát triển kĩ năng
giao tiếp bằng việc mở các lớp học trong đó trẻ được phát triển kĩ năng giao
6
tiếp dưới góc độ kĩ năng sống, song trên bình diện lí luận chưa có tài liệu nào
trình bày cụ thể, đầy đủ quá trình tổ chức cho trẻ phát triển kĩ năng giao tiếp.
Trong thực tiễn, phần lớn giáo viên mầm non chưa hướng dẫn trẻ thực hành
kĩ năng giao tiếp thường xuyên, đa số còn nghiêng về dạy ngôn ngữ giao tiếp
chứ chưa hẳn là dạy kĩ năng giao tiếp trong khi trẻ 5- 6 tuổi có tiềm năng to
lớn để phát triển kĩ năng giao tiếp. Nhiều giáo viên cũng chưa biết rõ phương
pháp tổ chức cho trẻ thưc hành phát triển kĩ năng giao tiếp như thế nào để
có thể vận dụng đồng bộ vào các trường mầm non. Vì vậy, “Phát triển kĩ
năng giao tiếp qua các nội dung giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ lớp 5 - 6
Trong Tâm lý học xã hội, Trần Thị Minh Đức cho rằng: “Giao tiếp là
sự tiếp xúc trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử
chỉ, tư thế, trang phục…”.
Ngày nay, cùng với việc xây dựng một cách tích cực và khoa học hệ
thống phương pháp nghiên cứu giao tiếp thì bản chất hiện tượng giao tiếp
cũng được lý giải ngày càng đấy đủ và rõ ràng. Ở một khái niệm chung nhất
chúng ta có thể hiểu: “Giao tiếp là sự tác động qua lại giữa con người với
con người, mà trong quá trình của nó nảy sinh sự tiếp xúc tâm lý, được thể
hiện ở sự trao đổi thông tin, sự ảnh hưởng lẫn nhau, sự rung cảm lẫn nhau,
sự hiểu biết lẫn nhau và cuối cùng là những quan hệ qua lại giữa con người
với con người được thực hiện, được thể hiện và được hình thành”.
1.2.1.2. Khái niệm Kĩ năng Giao tiếp:
Kĩ năng giao tiếp được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng
chưa có một định nghĩa thống nhất nào. Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu
khác nhau, mỗi tác giả đưa ra cho mình một định nghĩa khác nhau.
Tác giả Nguyễn Văn Đính trong cuốn Giao tiếp tâm lí và nghệ thuật
giao tiếp, ứng xử trong kinh doanh và du lịch đã định nghĩa kĩ năng giao tiếp
như sau: “Kĩ năng giao tiếp là sự nhận biết mau lẹ những dấu hiệu bên ngoài
và đoán biết những diễn biến tâm lý bên trong của đối tượng, đồng thời biết
sử dụng hiệu quả các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, biết cách định
hướng để điều chỉnh và điều khiển quá trình giao tiếp đạt được mục đích
nhất định”. Với ông, ông xem kĩ năng giao tiếp như là khả năng (Một dạng
biểu hiện của năng lực) nhưng ông chưa làm nổi bật được mặt thao tác, hành
8
động của kĩ năng giao tiếp. Xuất phát từ quan niệm “Giao tiếp là 1 dạng đặc biệt
của hành động” nghĩa là giao tiếp cũng diễn ra bằng hành động và có cả thao tác
cụ thể, sử dụng các phương tiện khác nhau, nhằm đạt được mục đích xác định,
trên vốn hiểu biết về tâm lí con người và những hành vi của nó thông qua lời
nói, hành vi, cử chỉ, diện mạo…của đối tượng giao tiếp. Ở mức độ cao hơn
chủ thể giao tiếp còn có thể phán đoán được những hành vi hoặc diễn biến
tâm lí tiếp theo của đối tượng giao tiếp sau một tác động nào đó.
+ Kĩ năng thu nhận và khai thác thông tin từ đối tượng giao tiếp.
Nhóm kĩ năng này bao gồm: Kĩ năng lắng nghe, kĩ năng đặt câu hỏi, kĩ năng
biện luận…
+ Kĩ năng sử dụng ngôn từ. Nhóm kĩ năng này bao gồm: kĩ năng chọn
lựa và sử dụng từ( dùng tứ có nghĩa, đúng nội dung giao tiếp, phù hợp với
đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp); kĩ năng nói- diễn đạt lời từ( đúng cấu trúc
ngữ pháp, phù hợp vơi văn nói…).
+ Kĩ năng sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn từ. Nhóm kĩ năng
này bao gồm: kĩ năng sử dụng đúng giọng điệu,ngữ điệu, cường độ, trường
độ phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp và
Đặc biệt là để diễn đạt đúng suy nghĩ, cảm xúc, thái độ và thông điệp
muốn truyền tải tới đối tượng giao tiếp; điều khiển mắt, mặt, tay, cử chỉ
hành vi…
+ Kĩ năng điều khiển các yếu tố tâm lý của bản thân bao gồm các kĩ
năng thành phần như: Kĩ năng làm chủ cảm xúc, thái độ của bản thân; Kĩ
năng tạo sự tự tin, tự chủ…
Trên đây là những kĩ năng giao tiếp cốt lõi- kĩ năng nền tảng, những
kĩ năng đó có tính độc lập tương đối song không tồn tại tách rời nhau mà
luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành một chỉnh thể thống
nhất. Ngoài những kĩ năng giao tiếp kể trên, tùy theo góc độ tiếp cận, các
nhà nghiên cứu sẽ đưa ra những cách phân loại kĩ năng giao tiếp khác nhau
10
từ đó làm xuất hiện nhiều tên gọi dùng để chỉ những kĩ năng giao tiếp cụ thể
1.2.2. Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ mầm non nói chung và trẻ 5-6 tuổi
nói riêng
Trẻ em ở lứa tuổi mầm non có đời sống tâm- sinh lý rất đa dang và
phong phú. Ở giai đoạn phát triển này trẻ có những đặc điểm, những quy
luật phát triển độc đáo không giống bất cứ một giai đoạn nào sau này. Cụ thể
sự phát triển hiện nay của trẻ 5- 6 tuổi có những đặc điểm sau:
1.2.2.1. Sự phát triển về thể chất
Cơ thể của trẻ 5- 6 tuổi tuy đã khỏe mạnh, cứng cáp hơn các giai đoạn
trước nhưng vẫn nhạy cảm với tác động của thời tiết, dịch bệnh do sức đề
kháng của trẻ còn yếu. Trẻ hay bị mắc các bệnh: cúm, thủy đậu, quai
bị…Trẻ dễ bị thương tích vì thế cần có sự giúp đỡ của người lớn nhằm đảm
bảo an toàn cho chúng. Khả năng vận động của trẻ đã khéo léo và thành thạo
hơn các giai đoạn trước. Trong mọi hoạt động trẻ đã biết quan sát, chú ý,
phối hợp nhịp nhàng giữa vận động của tay với vận động của chân, phối hợp
hoạt động với các bạn trong cùng một nhóm chơi, biết sử dụng sức mạnh tốt
hơn và hiệu quả hơn để đạt được mục tiêu.
1.2.2.2. Hoạt động chủ đạo của trẻ 5- 6 tuổi
Hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non thay đổi theo từng độ tuổi,
từng giai đoạn. Ở trẻ hài nhi (12- 15 tháng) hoạt động chủ đại là giao tiếp
xúc cảm trực tiếp với người lớn, đến tuổi ấu nhi (15- 36 tháng) hoạt động
với đồ vật là hoạt động chủ đạo, vào tuổi mẫu giáo (3- 6 tuổi) thì vui chơi
là hoạt động chủ đạo mà trọng tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề. Khi
tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề, trẻ được thỏa mãn nguyện
vọng là sống và hoạt động như người lớn. Trò chơi này mô phỏng lại các
hoạt động của người lớn và những mối quan hệ qua lại giữa họ trong xã
hội. Qua trò chơi trẻ hiểu mỗi người trong xã hội đều có nghĩa vụ và
quyền lợi của riêng mình.
12
1.2.2.4. Các quá trình tâm lý cùng các phẩm chất tâm lý cá nhân dần được
hoàn thiện
Trí tuệ và khả năng nhận thức của trẻ ngày càng phát triển. Trong
cuộc sống hằng ngày trẻ đã tiếp thu được một lượng tri thức đáng kể về thế
giới xung quanh do trẻ trực tiếp nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy…đến tuổi mẫu
giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt lớn. Đó là việc chuyển từ tư duy trực
quan- hành động sang tư duy trực quan- hình tượng.
Ở trẻ 5 - 6 tuổi, các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng
tượng về cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng
chất lượng mới hơn.
Đời sống xúc cảm, tình cảm ổn định hơn so với trẻ 4 - 5 tuổi, mức độ
phong phú, phức tạp tăng dần theo các mối quan hệ giao tiếp với những
người xung quanh.
Các sắc thái xúc cảm con người trong quan hệ với các loại lứa tuổi
khác nhau, vị trí xã hội khác nhau, được hình thành như: Tình cảm mẹ con,
ông bà, anh chị em, tình cảm với cô giáo, với người thân, người lạ...
Đến cuối tuổi mẫu giáo, khi ý thức bản ngã đã được xác định một cách
rõ ràng, trẻ mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những
người xung quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này
hay hành động khác... ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh
giá về thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm
của bản thân, về những khả năng và cả sự bất lực nữa.
1.2.3. Đặc điểm kĩ năng giao tiếp của trẻ 5-6 tuổi
Với số lượng vốn từ khoảng 2000 từ trẻ 5-6 tuổi đã có thể giao tiếp
với mọi người trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên để cuộc giao tiếp
đạt hiệu quả cao trẻ cần phải có những khả năng giao tiếp nhất định. Thế
nhưng, ở độ tuổi này không phải trẻ nào cũng có kĩ năng giao tiếp tốt, lời nói
15
Được học kĩ năng xin lỗi, trẻ biết phân biệt đúng sai, biết đưa ra quan
điểm, biết lắng nghe và sửa sai. Đây là yếu tố cần để trở thành người có ý
thức trách nhiệm trong công việc và cuộc sống.
Tóm lại, việc giáo viên giúp trẻ phát triển kĩ năng giao tiếp có vai trò
quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển toàn diện cả về trí tuệ, nhận thức và
nhân cách.
1.3. Thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp qua các nội dung giáo dục
thói quen vệ sinh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở Trường Mầm non Cổ Loa - Đông
Anh - Hà Nội
Qua hai kì thực tập (12 tuần) tại Trường Mầm non Cổ Loa, bản thân
tôi thấy được thực trạng phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi ở
Trường Mầm non Cổ Loa như sau:
Trường Mầm non Cổ Loa là một trường đạt chuẩn quốc gia, các
phòng học được xây dựng rộng rãi, thoáng mát. Ban giám hiệu nhà trường
tích cực bồi dưỡng cho giáo viên về chuyên môn; xây dựng phương pháp đổi
mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục mầm non; tạo mọi điều kiện để tôi
cũng như các thực tập sinh khác có cơ hội được học hỏi đào sâu và phát triển
thêm về kiến thức chuyên ngành, nghiệp vụ sư phạm.
Cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường đều cố gắng học tập
nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện phẩm chất đạo đức. 100% Cán bộ,
giáo viên, nhân viên nhà trường đã đạt trình độ trên chuẩn, trong đó có
những giáo viên dạy giỏi cấp quốc gia (Cô Nguyễn Thị Vân Anh, khối Mẫu
giáo lớn). Các cô còn tích cực tham gia các lớp học tiếng anh, âm nhạc, tin
học,… để phục vụ công tác giảng dạy.
Việc thực hiện phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ 5 - 6 tuổi đều được
các giáo viên ý thức và lồng ghép chúng trong những hoạt động của trẻ ở
tạo tiền đề vững vàng để việc phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ đạt hiệu
quả tốt hơn. Trong đó, yếu tố mấu chốt chính là biện pháp, phương pháp để
phát triển mà chương sau chúng tôi sẽ đề cập.
17
CHƯƠNG 2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GIAO TIẾP QUA
CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC THÓI QUEN VỆ SINH CHO TRẺ LỚP
5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON CỔ LOA - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI
2.1. Một số kĩ năng giao tiếp cần phát triển cho trẻ thông qua các nội
dung giáo dục thói quen vệ sinh
2.1.1. Kĩ năng giao tiếp lịch sự lễ phép
Trẻ biết lịch sự lễ phép trong giao tiếp như: cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi,
mời trà,…; Trẻ biết thể hiện các thao tác phù hợp với lời nói và hợp hoàn
cảnh. Trẻ ý thức được tại sao cần phải lịch sự lễ phép, từ đó tạo lập thói
quen tốt cho trẻ trong giao tiếp.
2.1.2. Kĩ năng giao tiếp phi ngôn ngữ
Trẻ biết sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như: ánh mắt, cử chỉ, điệu
bộ,.. thay thế cho lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
2.1.3. Kĩ năng sử dụng ngôn từ
Trẻ biết sử dụng từ ngữ đúng với đối tượng giao tiếp, tình huống giao
tiếp; câu nói của trẻ trong giao tiếp đủ thành phần, diễn đạt rõ lời và rõ ý.
2.1.4. Kĩ năng lắng nghe
Trẻ biết lắng nghe khi người khác đang nói, biết thể hiện thái độ lắng
nghe, biết tôn trọng người nói.
2.1.5. Kĩ năng quản lí cảm xúc
Trẻ biết thể hiện những cảm xúc của bản thân trước những sự việc xảy
ra xung quanh trẻ và liên quan đến trẻ. Trẻ biết thể hiện những cảm xúc tích
cực và hạn chế những cảm xúc tiêu cực trong nhiều trường hợp khác nhau.
Cô hỏi: Khi chào cô giáo các con sử dụng lời thoại nào?
A. Xin chào
B. Chào cô
C. Con chào cô ạ.
19