Quy định pháp luật và thực tiễn tương trợ tư pháp về hình sự - Pdf 44

MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa, không một
quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển một cách hoàn toàn biệt lập mà không
có quan hệ với các quốc gia khác. Quá trình hội nhập với thế giới mang lại
những lợi ích to lớn để các nước có cơ hội phát triển kinh tế, văn hóa xã hội
nhưng đồng thời cũng mang đến những hậu quả tiêu cực. Một trong số đó là việc
gia tăng các tội phạm có tính chất nguy hiểm, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm
quốc tế. Có thể nhận thấy rằng sẽ rất khó khăn nếu như việc phòng chống các
loại tội phạm này nếu như không có sự hợp tác và hỗ trợ giữa các quốc gia với
nhau, vì vậy hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là một nhu cầu mang tính
cấp thiết trong quá trình hội nhập quốc tế. Quá trình tương trợ tư pháp về hình
sự giữ một vai trò hết sức quan trọng trong công tác phòng và đấu tranh phòng
chống tội phạm quốc tế và trong quan hệ giữa các nước từ trước đến nay. Trong
tiến trình nước ta hội nhập quốc tế, pháp luật đã có những quy định tương trợ tư
pháp về hình sự, thực tiễn đã mang lại những hiệu quả nhất định cho công tác
tương trợ tư pháp tuy nhiên cũng còn một số bất cập và hạn chế. Thông qua
việc nghiên cứu đề tài: “Quy định pháp luật và thực tiễn tương trợ tư pháp về
hình sự” dưới đây sẽ làm rõ hơn về những vấn đề nêu trên.

1


NỘI DUNG
I.

Khái quát chung về tương trợ tư pháp về hình sự

1. Khái niệm, nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự
Tương trợ tư pháp về hình sự là một khái niệm hiện đại trong luật quốc tế.
Khoa học pháp lý chưa đưa ra định nghĩa tương trợ tư pháp về hình sự. Tuy
nhiên có thể căn cứ vào bản chất của hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự, có

hình sự quốc tế. Trên cơ sở đó các quốc gia thực hiện tương trợ tư pháp về hình
sự. Vậy cơ sở pháp lý của tương trợ tư pháp về hình sự là Điều ước quốc tế và
tương trợ tư pháp về hình sự theo luật quốc gia.
Nước ta đã ngiên cứu và gia nhập các điều ước quốc tế nhằm thực hiện một
cách thiện chí và có trách nhiệm đối với công tác đấu tranh phòng chống tội
phạm, đây cũng là một trong những điều kiện về mặt pháp lý để hoạt động
tương trợ tư pháp về hình sự được thuận lợi.
Bên cạnh điều ước quốc tế, tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện
dựa trên các quy định của pháp luật có các quy định liên quan, gồm các luật, văn
bản dưới luật, có thể kể đến như các quy định tại Phần thứ tám về hợp tác quốc
tế trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015; các quy định trong luật tương trợ tư pháp
2007; một số quy định của Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân 2014 về tương
trợ tư pháp về hình sự. Bên cạnh đó khi tiến hành tương trợ tư pháp về hình sự,
các cơ quan có thẩm quyền cũng cần nguyên cứu các văn bản hướng dẫn làm
căn cứ để thực hiện đúng và hiệu quả công tác của mình.
II.

Quy định pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự

1. Phạm vi và nội dung tương trợ tư pháp về hình sự
Theo quy định tại Điều 17 Luật tương trợ tư pháp năm 2007, phạm vi
tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước ngoài bao gồm:Tống đạt
giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự; Triệu tập
người làm chứng, người giám định; Thu thập, cung cấp chứng cứ; Truy cứu
trách nhiệm hình sự; Trao đổi thông tin; Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về
hình sự.
Trong hoạt động tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư
pháp về hình sự có thể là tông đạt các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can,
3


thông quy ủy thác tư pháp về hình sự. Ủy thác tư pháp về hình sự thực hiện trên
văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài về thực hiện
4


hoạt động TTTP về hình sự theo pháp luật nước liên quan hoặc điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên. Nội dung TTTP về hình sự phụ thuộc vào các yêu
cầu được nêu trong văn bản UTTP. Các văn bản UTTP về hình sự kết hợp với
văn bản khác tạo thành hồ sơ UTTP về hình sự.
2. Hồ sơ UTTP về hình sự
Hồ sơ UTTP về hình sự bao gồm Văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng có
thảm quyền yêu cầu TTTP về hình sự và văn bản UTTP về hình sự. Văn bản
UTTP về hình sự phải có các nội dung được quy định tại Điều 18, 19 Luật TTTP
năm 2007. Ngoài các nội dung trên thì tùy trường hợp có thể có các nội dung:
- Đặc điểm nhận dạng, quốc tịch và nơi ở của đối tượng trong vụ án hình sự
hoặc những người có thông tin liên quan đến vụ án đó
- Vấn đề cần thẩm vấn, câu hỏi đặt ra, tài liệu, hồ sơ hoặc vật chứng được
đưa ra và nếu có thể thì mô tả đặc điểm người được yêu cầu xuất trình tài
liệu, hồ sơ, vật chứng đối với ủy thác thu thập chứng cứ,…
Nếu thông tin nêu trong văn bản UTTP về hình sự không đủ để thực hiện
UTTP thì cơ quan có thẩm quyền của nước được yêu cầu có thể đề nghị bằng
văn bản với nước yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung và ấn định thời hạn cụ thể
trả lời kết quả bổ sung. Còn về ngôn ngữ thì trường hợp có điều ước quốc tế
giữa Việt Nam và nước ngoài thì ngôn ngữ được sử dụng sẽ được quy định trong
điều ước còn nếu không thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước
được yêu cầu hoặc ngôn ngữ nước đó chấp nhận.
3. Ủy thác tư pháp hình sự cho nước ngoài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tương ứng của
nước ngoài thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy

quốc tịch hoặc nước khác; Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam đã yêu cầu
nước ngoài dẫn độ về Việt Nam, nhưng cơ quan có thẩm quyền của nước đó từ
chối dẫn dộ.
Việc chuyển giao hồ sơ, vật chứng được thực hiện theo quy định tại điều
ước quốc tế mà Việt Nam và các nước được Yêu cầu là thành viên. Trong trường
hợp giữa Việt Nam và nước được yêu cầu chưa là thành viên của điều ước quốc
tế TTTP về Hình sự thì nguyên tắc có đi có lại sẽ được áp dụng. Trình tự, thủ
6


tực chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu nước ngoài tiếp tục truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được thực hiện theo quy định tại
thông tư liên tịch số 02 /2013/TTLT- VKSNDTC- TANDTC-BCA-BTP- BNG
hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao hồ sơ, vật chứng của vụ án để yêu cầu
nước ngoài tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự.
5. Ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài
Về thủ tục tiếp nhận và xử lý ủy thác tư pháp về hình sự của nước ngoài
Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài khi ủy thác tư pháp về hình sự cho
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện yêu cầu của mình thì phải có
công văn và hồ sơ ủy thác tư pháp. Mẫu công văn và hồ sơ ủy thác tư pháp về
hình sự được quy định theo quy định của nước yêu cầu hoặc theo quy định của
điều ước quốc tế mà nước yêu cầu và Việt Nam là thành viên. Mặt khác hồ sơ ủy
thác tư pháp phải có đầy đủ các giấy tờ tài liệu quy định tại Điều 18 và Điều 19
Luật tương trợ tư pháp 2007.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp
về hình sự của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao phải vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ và chuyển hồ sơ cho cơ
quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện. Trường hợp hồ
sơ không hợp lệ thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lại cho cơ quan có thẩm
quyền của nước yêu cầu và nêu rõ lý do. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể

giấy triệu tập người làm chứng, người giám định được thựu hiện theo Điều 23
LTTTP 2007.
Về dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ
Dẫn giải người đang chấp hành hình phạt tù để cung cấp chứng cứ là việc
cơ quan có thẩm quyền tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam cho phép được dẫn
giải người đang chấp hành án phạt tù tại các trại cải tạo của Việt Nam đến nước
yêu cầu, theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của nước đó nhằm mục đích
cung cấp chứng cứ hoặc làm chứng trong vụ án hình sự. Điều kiện để cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam dẫn giải người đang chấp hành án phạt tù quy định
tại Điều 25 LTTTP 2007
Về chi phí thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự

8


Chi phí thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp không hề nhot. Theo quy định
của Luật TTTP chi phí thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự sẽ do nước yêu
cầu chi trả trừ trường hợp có thỏa thuận khác. (Theo Điều 31 LTTTP)
Về vấn đề cung cấp thông tin
Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài hoặc cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam cung cấp các thông tin liên
quan đến yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự. ( Theo Điều 26 LTTTP 2007)
Về việc sử dụng thông tin, chứng cứ trong tương trợ tư pháp về hình sự
Việc sử dụng thông tin, chứng cứ trong tương trợ tư pháp về hình sự phải
đảm bảo giữ bí mật thông tin, chứng cứ; đồng thời cũng bảo đảm thông tin
chứng cứ không bị sai lệch, thay đổi, tiết lộ trái phép hoặc các hành vi lạm dụng
khác. (Theo Điều 27 LTTP 2007)
Về xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân
Việt Nam tại Việt Nam.
Xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân

đôn đốc tiến độ giải quyết yêu cầu tương trợ đối với các cơ quan có thẩm quyền
trong nước. Do vậy, việc thực hiện các yêu cầu TTTP cơ bản đáp ứng về thời
hạn, thủ tục theo yêu cầu của phía nước ngoài.
* Kết quả giải quyết yêu cầu TTTP do cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm
quyền của Việt Nam gửi đi nước ngoài
Viện KSNDTC đã tiếp nhận, giải quyết 367 lượt hồ sơ, công văn liên
quan đến yêu cầu tương trợ của các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của
Việt Nam đề nghị phía nước ngoài hỗ trợ thực hiện, trong đó 70% yêu cầu liên
quan đến các nước đã ký Hiệp định với Việt Nam. Các nước nhận nhiều yêu cầu
tương trợ là CHDCND Lào, CHND Trung Hoa, Hàn Quốc, Liên bang Nga,
Vương quốc Anh…
Nội dung yêu cầu tương trợ chủ yếu liên quan đến việc thu thập, cung cấp
chứng cứ, xác minh lý lịch, tống đạt tài liệu, giấy tờ. Đáng chú ý, gần đây đã
phát sinh một số yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam đề
nghị các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài hỗ trợ thực hiện việc thu hồi tài sản
do phạm tội mà có.
Các yêu cầu TTTP về hình sự ngày càng đa dạng, phức tạp, liên quan đến
nhiều lĩnh vực và tội phạm nghiêm trọng như tham ô tài sản, lừa đảo chiếm đoạt
10


tài sản, cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả
nghiêm trọng và các tội phạm xâm phạm sở hữu khác, các tội phạm về ma túy,
các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người như giết
người, hiếp dâm…
Sau khi gửi hồ sơ yêu cầu TTTP đi, VKSNDTC đã chủ động phối hợp với
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài kịp thời giải quyết vướng mắc phát sinh;
đôn đốc thực hiện. Kết quả hoạt động TTTP về hình sự đã góp phần giải quyết
nhiều vụ án nghiêm trọng, phức tạp như vụ án Đại lộ Đông Tây và Môi trường
nước thành phố Hồ Chí Minh (vụ PCI), vụ án Vinashin, Vinalines…

ước quốc tế về TTTP trong lĩnh vực hình sự ở cả tầm đa phương và song
phương. Tuy nhiên, do còn có sự chưa thống nhất về thủ tục nên số lượng điều
ước quốc tế được chính thức đàm phán, ký kết lại chậm về tiến độ, hoạt động rà
soát, định kỳ đánh giá kết quả thực hiện các Hiệp định về TTTP mới chỉ được
thực hiện đối với một số hiệp định trong lĩnh vực TTTP về dân sự, còn trong
lĩnh vực hình sự chưa được sự quan tâm cần thiết.
Cuối cùng, về sự phối hợp hoạt động, mặc dù luật tương trợ tư pháp, cũng
như trong các luật luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, BLTTHS 2015 quy
định nhiệm vụ quyền hạn của VKSNDTC trong hoạt động tương trợ tư pháp;
hoạt động cung cấp, trao đổi thông tin còn hạn chế giữa VKSNDTC với Bộ Tư
pháp tình hình thực hiện ủy thác tư pháp hình sự, ngược lại, VKSNDTC cũng
không nắm được số lượng công dân nước ngoài bị TAND Việt Nam xét xử do
Bộ Tư pháp đang quản lí để chủ động trao đổi cho phía nước ngoài.

1

1.

http://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Pages/tin-tuc-su-kien.aspx?ItemID=54

12


IV.

Bình luận và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tương trợ tư
pháp về hình sự

1. Hạn chế
Hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự là một yêu cầu khách quan, tất yếu

quốc tế hiện nay.
Thứ ba, số hồ sơ ủy thác tư pháp chưa trả lời vẫn còn cao, điều này làm ảnh
hưởng đến quá trình tố tụng trong nước. Những trường hợp hồ sơ chưa được trả
lời sẽ gây chậm trễ trong quá trình điều tra, truy tố, có thể dẫn đến bỏ lọt tội
phạm.
Thứ tư, hoạt động kí kết các điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự
chưa đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn. Do ảnh hưởng của xã hội và chế độ
chính trị, kinh tế,… của mỗi quốc gia nên việc kí kết các điều ước quốc tế chỉ
giải quyết được một mặt nào đó của vấn đề, bên cạnh đó trên thực tiễn đòi hỏi
phải có những biện pháp triệt để hơn. Đây cũng là một trong số những lí do để
Việt Nam phải bảo lưu các điều ước quốc tế. Bên cạnh đó, cơ chế tổ chức thực
hiện tương trợ tư pháp về hình sự giữa các cơ quan nhà nước chưa thống nhất và
còn nhiều bất cập. Sự chồng chéo về các quy định của pháp luật và những văn
bản dưới luật dẫn đến việc thực hiện tương trợ tư pháp nói riêng và thi hành
pháp luật nói chung còn nhiều khó khăn và vướng mắc.
2. Nguyên nhân
Thứ nhất, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ vẫn còn hạn chế, ảnh
hưởng đến chất lượng thực thi nhiệm vụ tương trợ tư pháp về hình sự.
Thứ hai, hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành chỉ viện
dẫn chung là áp dụng các quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp trong khi
đó Luật Tương trợ tư pháp lại chưa có các quy định về những nội dung đặc thù
cho hoạt động tương trợ tư pháp trong lĩnh vực này hoặc quy định pháp luật hiện
hành về tương trợ tư pháp còn một số khoảng trống so với yêu cầu thực tế nên
dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý, gây khó khăn cho thực tế áp dụng giải
quyết các vụ việc cụ thể. Nhiều điều ước quốc tế về hình sự có một số quy định
mà hệ thống pháp luật Việt Nam chưa hoàn toàn đáp ứng hoặc chưa có quy định,
trong đó có nhiều nội dung phức tạp, nhạy cảm, dẫn đến khó khăn trong việc
triển khai tổ chức thực hiện.

14

những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật
liên quan.

15


Thứ ba, việc tống đạt trực tiếp hồ sơ cho công dân Việt Nam ở nước ngoài
nếu không trái pháp luật nước sở tại hoặc thông qua cơ quan đại diện của Việt
Nam tại nước ngoài mà không phải thông qua cơ quan trung gian là Bộ Tư pháp,
Bộ ngoại giao như hiện nay. Đảm bảo thủ tục tống đạt nhanh gọn, kịp thời và đảm
bảo việc giải quyết vấn đề được nhanh chóng.
Bên cạnh đó đối với ngành Kiểm sát nhân dân, đầu tiên, VKSNDTC cần
tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tập huấn, bồi
dưỡng kiến thức về tương trợ tư pháp hình sự cho đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên
trong ngành Kiểm sát nhân dân để nâng cao nhận thức về ý nghĩa và tầm quan
trọng của công tác này trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện
nay; thứ hai, tăng cường nghiên cứu, đề xuất đàm phán, ký kết Hiệp định tương
trợ tư pháp về hình sự với các nước trên thế giới, trước mắt ưu tiên những nước
có đông người Việt Nam sinh sống, các nước trong khu vực, các nước láng
giềng; thứ ba, xem xét việc bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng có
những quy định riêng về thẩm quyền, thời hạn giải quyết đối với những vụ án có
yếu tố nước ngoài, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Tương trợ tư pháp quy định
cụ thể về một số hoạt động tương trợ tư pháp như hợp tác quốc tế trong việc tịch
thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có, trình tự, thủ tục phong tỏa, kê biên, thu giữ,
tịch thu và trả lại tài sản; trình tự thủ tục dẫn giải người đang chấp hành hình
phạt tù để cung cấp chứng cứ và hỗ trợ điều tra ở nước ngoài; thứ tư,VKSNDTC
và VKSND các tỉnh cần quan tâm kiện toàn tổ chức, bộ máy, tăng cường đội
ngũ cán bộ làm nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp.

KẾT LUẬN

4. Các webside:

17


http://www.vksndtc.gov.vn/tin-chi-tiet-5197?
fref=gc&dti=1292334980888535
http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?
ItemID=2145&fref=gc&dti=1292334980888535

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status