Sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Ngô Quyền - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======

NGUYỄN THỊ KIỀU TRINH

SỬ DỤNG TRÒ CHƠI DÂN GIAN
TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TẠI
TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN THU HƯƠNG

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2,
các thầy cô giáo khoa giáo dục mầm non đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô
giáo - TS. Nguyễn Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này.
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các cô giáo, cùng tất cả các cháu
mẫu giáo lớn trường mầm non Ngô Quyền đã giúp đỡ để em có được những
tư liệu để hoàn thành tốt khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp
đỡ, động viên em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận.

: Nhà xuất bản

VD

: Ví dụ

C–V

: Chủ ngữ - vị ngữ

TCDG

: Trò chơi dân gian


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 5
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................. 5
5. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 5
6. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 6
7. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6
8. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 6
NỘI DUNG ....................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN .............................. 7
1.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ................................... 7
1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ..................................... 7
1.1.2. Vai trò của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ.................................. 8

2.2.1. Biện pháp trình chiếu video mẫu trò chơi ............................................. 41
2.2.2. Biện pháp hướng dẫn trẻ chơi theo nhạc............................................... 45
2.2.3. Tổ chức các hình thức thi đua trong trò chơi dân gian ......................... 49
2.2.4. Sáng tác lời đồng dao mới dựa trên bài đồng dao cổ ............................ 51
2.2.5. Biện pháp dạy trẻ đọc thuộc lời đồng dao ............................................ 53
2.3. Thực nghiệm sư phạm .............................................................................. 55
2.3.1. Mục đích thực nghiệm .......................................................................... 55
2.3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm ...................................... 56
2.3.3. Tiêu chí đánh giá thực nghiệm .............................................................. 56
2.3.4. Nội dung và giáo án thực nghiệm ......................................................... 56
2.3.5. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 57


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ................................................................. 65
1. Kết luận ....................................................................................................... 65
2. Khuyến nghị ................................................................................................ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 68
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chúng ta đều biết giáo dục mầm non có một vị trí rất quan trọng. Nó là
mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là giai đoạn khởi đầu đặt
nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Chính vì thế mà
bậc học mầm non luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm đặc biệt.
Thời kì mầm non được gọi là thời kì vàng của cuộc đời. Sự phát triển
của trẻ em trong thời kì này rất đặc biệt, chúng hồn nhiên, non nớt, khóc cười
theo ý thích. Những gì trẻ được học, được trang bị ở trường mầm non có thể

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, người dân gắn bó sâu sắc với đồng
ruộng, trải qua nhiều thế hệ đã nảy sinh nhu cầu vui chơi giải trí và những trò
chơi dân gian xuất hiện. Trò chơi dân gian mang chủ đề nhất định, nó là dạng
trò chơi dễ chơi, dễ hòa nhập, chơi ở bất cứ đâu và đem lại cho trẻ tinh thần
sảng khoái. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định “Trò chơi dân gian là món ăn
tinh thần không thể thiếu của trẻ thơ.” Trò chơi dân gian thường gắn liền với
các bài ca dao, đồng dao, hò vè, câu đố…vui nhộn, mang vần điệu rất phù
hợp với lứa tuổi mầm non. Những bài ca dao, đồng dao, hò vè, câu đố là loại
hình nghệ thuật ngôn từ có ý nghĩa giáo dục cao, đặc biệt trong việc giáo dục
phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vậy việc sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát
triển ngôn ngữ cho trẻ là việc làm cần thiết.
Nhận thấy trò chơi dân gian có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn
ngữ của trẻ. Trong khi đó, việc hướng dẫn và tổ chức trò chơi dân gian để
phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non chưa khoa học, hợp lí cũng
như chưa đạt hiệu quả cao. Nhằm làm rõ thực trạng sử dụng trò chơi dân gian
trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non để từ đó định hướng
một số biện pháp tổ chức có hiệu quả hơn cho loại trò chơi này chúng tôi đã
xây dựng và thực hiện đề tài Sử dụng trò chơi dân gian trong việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Ngô Quyền. Chúng tôi

2


mong muốn được đưa các trò chơi dân gian đến với các em nhỏ nhiều hơn
nữa nhằm kích thích việc phát triển ngôn ngữ cho các em.
2. Lịch sử nghiên cứu
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt chỉ được sinh ra và phát
triển trong xã hội loài người. Như Mac đã nhận định ngôn ngữ là một sáng
tạo kì diệu của con người, ngôn ngữ cũng cổ xưa như con người. Nhờ có ngôn
ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau

thức giáo dục trẻ hiệu quả, đặc biệt là giáo dục ngôn ngữ. Tác giả Trương Thị
Kim Oanh đã xem trò chơi dân gian là một biện pháp dạy tiếng Việt cho trẻ
em dân tộc thiểu số (tạp chí giáo dục số 1 năm 2001).
Đồng tác giả Trần Hòa Bình và Bùi Lương Việt trong cuốn Trò chơi
dân gian trẻ em NXB giáo dục 2007 cho rằng văn hóa truyền thống của bất
kì dân tộc nào cũng có một bộ phận hợp thành đó là những trò chơi dân gian.
Trò chơi dân gian thường xuất hiện trong những lễ hội đặc trưng và được diễn
ra thường xuyên trong đời sống sinh hoạt cộng đồng. Bởi nó được nảy sinh từ
chính những hoàn cảnh sống sinh hoạt cộng đồng đó. Theo tác giả, trò chơi
dân gian đặc biệt gần gũi với trẻ em, trong cuốn sách này tác giả đã sưu tầm
được gần 80 trò chơi dân gian trẻ em, chia ra làm ba phần: Trò chơi trí tuệ, trò
chơi thẩm mĩ, trò chơi thể lực và có hướng dẫn cách tổ chức chơi.
Qua bài viết “Cuộc sống trẻ qua các trò chơi dân gian” trong báo Văn
Hóa số Xuân Bính Tuất 2006, Trịnh Quỳnh Hoa cũng có những nhận định về
đặc điểm và tác dụng của trò chơi dân gian, tác giả cho rằng thông qua trò
chơi dân gian đơn giản, dễ chơi, dễ tổ chức đã rèn luyện cho sự nhanh nhẹn,
khéo léo, phát triển cho những khả năng về óc phán đoán, khả năng tính toán,
tính kỉ luật.
Người có công lớn trong việc sưu tầm và giới thiệu “Trò chơi dân gian
trẻ em Việt Nam” là tác giả Hà Huy. Với nhiều trò chơi phong phú vùng
miền, đa dạng độ tuổi đã góp phần phục hồi, lưu giữ trò chơi giải trí lành

4


mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc này. Và đưa nó đến với trẻ thơ như một món ăn
tinh thần không thể thiếu và là một phương thức giáo dục hiệu quả.
Ngoài ra, còn có một số tác giả khác cũng có những bài viết tâm huyết
về đồng dao và trò chơi dân gian trẻ em Việt Nam trên các tạp trí Giáo dục
Mầm non, tạp trí Văn học.

- Đưa ra một số biện pháp sử dụng tốt trò chơi dân gian nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát, điều tra
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp thống kê.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận gồm 2
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng trò chơi dân gian nhằm phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn và thực nghiệm sư phạm.

6


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Một số vấn đề về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm về ngôn ngữ và phát triển ngôn ngữ
1.1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người.
Ngôn ngữ là một hệ thống các tín hiệu có cấu trúc, các quy tắc và ý
nghĩa được sử dụng trong giao tiếp. Các kí hiệu có thể được kết hợp, được tổ
chức để truyền đạt một khối lượng thông điệp vô cùng đa dạng và phức tạp.
Vì là một hệ thống tín hiệu đặc biệt nên ngôn ngữ có phạm vi sử dụng vô
cùng to lớn và có những đặc trưng riêng. Ngôn ngữ luôn luôn có tính sáng
tạo. Ngôn ngữ còn là một nhân tố thuộc quá trình tâm lí. Các nhà tâm lí học

Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn
tại được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ
của người lớn.
Ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành
một thành viên của xã hội loài người. Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ có
thể bày tỏ những nguyện vọng của mình khi còn rất nhỏ để người lớn có thể
chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia
vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân cách trẻ.
1.1.2.2. Ngôn ngữ là công cụ phát triển tư duy, nhận thức
Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ
cho trẻ. Tác giả Usinxky trong Phát triển ngôn ngữ trẻ em nhận định: “Tiếng
mẹ đẻ là cơ sở cho mọi sự phát triển, là vốn quý của mọi tri thức” (Nguyên
bản tiếng Nga, NXB Matxcơva, tr.13).
Quá trình trưởng thành của trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ. Công cụ để
phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự

8


hiện hữu) của tư duy. Tư duy của con người có thể hoạt động được (nhất là tư
duy trừu tượng) cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ. Tư duy và ngôn
ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình
tư duy của con người không thể diễn ra được. Ngôn ngữ làm cho các kết quả
của tư duy được cố định lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác
và cho bản thân chủ thể tư duy. Ngược lại, nếu không có tư duy với các sản
phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh vô nghĩa.
Phát triển ngôn ngữ không chỉ có mục đích tự thân. Có ngôn ngữ, tư
duy của trẻ được phát triển. Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có
tác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau. Ngôn ngữ phát triển làm cho
tư duy phát triển. Ngược lại, tư duy phát triển cũng đẩy nhanh sự phát triển

Trẻ biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp để
phù hợp với từng hoàn cảnh, lời nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn. Tuy
vậy, ở tuổi này trẻ vẩn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn nhầm lẫn khi phát
âm một vài phụ âm và nguyên âm (x-s, ch-tr,… ươ, uô, ie) và thanh điệu (?
/~).
Trẻ 3-4 tuổi hay nói chậm và kéo dài giọng, còn ậm ừ, ê, a không liên
tục, không mạch lạc.
Trẻ 4-5 tuổi ít ậm ừ, e, a hơn, song trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm
đệm và âm cuối.
Trẻ 5-6 tuổi phạm vi tiếp xúc rộng, vốn từ và sự hiểu biết của trẻ
phong phú hơn nên trẻ phát âm đúng hơn, trẻ phát âm được những âm khó
như: loanh quanh, nghênh ngang…
Đến cuối 6 tuổi về cơ bản trẻ phát âm đúng, trừ một số trường hợp do
khuyết tật bẩm sinh của cơ quan phát âm, hoặc do ảnh hưởng của môi trường
sống (do những người xung quanh trẻ phát âm sai dẫn đến trẻ bắt chước và
phát âm sai theo).

10


1.1.3.2. Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
*Về số lượng
So với nhà trẻ, trẻ mẫu giáo có số lượng từ nhiều hơn hẳn. Về số lượng
từ của trẻ mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ học và tâm lý học có đưa ra những số
liệu khác nhau:
ND.Levitốp

: 3.5 tuổi: 1000 từ

YU.U.Pratuxevich : 4 tuổi: 1900 từ

Và ở trẻ 6 tuổi: Danh từ giảm 34,47% xuống 30,97%
Tính từ tăng 9,94% lên 11,64%
Trẻ mẫu giáo nói nhiều chưa phải là nói hay, vì vậy cần phải mở rộng
các loại từ để trẻ biết nói hay, biết sử dụng từ gợi cảm, từ văn học. Trẻ mẫu
giáo cũng bắt đầu bộc lộ những nét riêng: có trẻ dùng tính từ, trạng từ,…
nhiều hơn những trẻ khác.
Về danh từ: nội dung ý nghĩa của từ được mở rộng, phong phú hơn ở
những từ có ý nghĩa rộng.
VD: từ “quả” có khoảng 15 loại quả khác nhau (cũng như từ “phương
tiện giao thông”, “đô gỗ”, “cá”, “cây”,…)
Những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng, ở trẻ còn có những danh
từ mang tính văn học. VD: áng mây, đóa hoa,…
Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tượng. VD: kiến
trúc tài năng… mặc dù trẻ chưa hiểu hết nghĩa của những từ đó.
Về động từ: Phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm
những nhóm từ mới như: nhảy nhót, ngo ngoe, rơi lộp bộp, leng keng,…
những động từ chỉ sắc thái khắc nhau như: chạy vèo vèo, chạy lung tung, chạy
loạn xạ,… xuất hiện thêm những động từ có nghĩa trừu tượng: giáo dục,
khánh thành,…
Về tính từ: Phát triển về số lượng cũng như chất lượng tính từ. Trẻ sử
dụng nhiều những từ có tính gợi cảm: chua chua, chua loét, ngọt lịm, to đùng,
tròn vo, tròn xoe, đỏ lòm,…
Từ tượng hình, từ tượng thanh: bập bùng, rì rào,…

12


Trẻ biết dùng những từ trái nghĩa: dày – mỏng, khỏe – yếu, đẹp – xấu,
cao – thấp, ngoan – hư,…
Về trạng từ: trẻ được mở rộng, trẻ sử dụng đúng các trạng từ: ngày xưa,

Bước sang giai đoạn 4-6 tuổi thì trẻ rất ít sử dụng câu 1 từ mà thường
dùng các loại câu: Câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần (C-V), câu đơn mở
rộng thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.
Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng thành phần trong
từng loại câu đều có sự mở rộng, phát triển.
Nếu trẻ 3 tuổi nói câu đơn c-v ( c là một từ), VD: Áo đẹp
Thì trẻ 4-6 tuổi đã nói câu có cụm từ làm chủ ngữ hoặc làm vị ngữ (Ví
dụ: Quả bóng này rất nảy.)
Thành phần trạng ngữ, bổ ngữ cũng được mở rộng (Ví dụ: Hôm nay ở
lớp, con ăn cơm với thịt, với rau.)
Các loại câu phức cũng được mở rộng. Trẻ biết nói các câu hoàn chỉnh
để kể lại nội dung câu chuyện hoặc diễn tả sự hiểu biết, diễn tả điều mong
muốn.
Ví dụ: Cháu và mẹ cháu với em Hùng đi đu quay. Cháu thích ngồi xem đu
hổ. Bé Hùng cung cười khi ngồi đu quay. Mẹ cháu đứng xem.
Các câu phức chính phụ của trẻ đã đủ các từ chỉ quan hệ, ý của các câu
được diễn đạt rõ ràng mạch lạc hơn.
Ví dụ: Bố đánh cháu vì cháu đánh em Hùng.
Trẻ đã có bước tiến khá xa trong việc sử dụng các loại câu so với tuổi nhà
trẻ, nhưng trẻ mẫu giáo vẫn còn hạn chế: Từ dùng trong câu nhiều khi chưa chính
xác, khi thừa, khi thiếu, vị trí sắp xếp các từ trong câu cũng chưa đúng nên câu dài
mà nghĩa không rõ ràng.
1.1.3.4. Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc
Ở tuổi mẫu giáo lớn, trẻ tích cực tham gia trò chuyện với người lớn, với
bạn hơn. Trẻ có thể đàm thoại về những gì trẻ biết hoặc đã được nghe, đọc từ

14


trước. Trẻ có thể tranh luận, đưa ra ý kiến của mình.

điệu, có tác phong văn hoá trong quá trình giao tiếp
b. Làm giàu, củng cố, tích cực hoá vốn từ cho trẻ
Lời nói của trẻ được phát triển qua quá trình giao tiếp với mọi người và
qua quá trình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên. Muốn mở rộng vốn từ cho
trẻ trước hết phải tổ chức cho trẻ làm quan với môi trường xung quanh để mở
rộng hiểu biết. Sau đó giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ, từ đó tích cực hoá vốn
từ cho trẻ.
c. Dạy trẻ nói đúng các cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt
Tức là dạy trẻ nói đúng quy luật ngữ pháp mẹ đẻ: Câu đơn, câu ghép…
trong các tình huống giao tiếp khác nhau. Bên cạnh đó sửa các câu sai, câu
què, câu cụt, câu sai logic ngữ nghĩa… Đồng thời dạy trẻ nói đúng kết hợp
hành vi biểu cảm phù hợp.
d. Dạy trẻ nói mạch lạc
Ngôn ngữ mạch lạc là sản phẩm cuối cùng mà trẻ đạt được, đây là hình
thức ngôn ngữ khó nhất, phức tạp nhất đối với trẻ. Dạy trẻ nói mạch lạc thông
qua hai hình thức ngôn ngữ, đó là hình thức độc thoại và hình thức đối thoại.
Đối với hình thức đối thoại: Cần dạy trẻ biết nghe, hiểu lời nói đối
thoại. Biết nói chuyện, biết trả lời câu hỏi, đặt ra câu hỏi trong quá trình nói
chuyện và biết điều khiển hành vi có văn hoá trong đối thoại.
Đối với hình thức độc thoại: Cần dạy trẻ biết kể lại chuyện đã được
nghe, được xem. Đồng thời dạy trẻ tự đặt nhiều câu chuyện đơn giản mà nội
dung, hình thức câu chuyện phải thể hiện được tính độc lập sáng tạo của trẻ.
e. Dạy trẻ làm quen với các chữ cái ghi âm tiếng Việt
Nội dung này thực hiện cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Cho trẻ làm quen
với các chữ cái ghi âm tiếng Việt nghĩa là giúp cho trẻ nhận biết cấu tạo chữ
cái, cách phát âm. Từ đó giúp trẻ có kỹ năng, tâm thế cần thiết trước khi vào
lớp 1.

16




thức tác động có hiệu quả đến ngôn ngữ của trẻ, trò chơi giúp trẻ nói lên được
tiếng nói của mình, tích cực hoá vốn từ của trẻ, ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc.
1.1.5. Nội dung chương trình giáo dục mầm non về lĩnh vực phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
1.1.5.1. Nghe
Nghe các từ chỉ người, sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, hoạt
động và các từ biểu cảm, từ khái quát.
Nghe lời nói trong giao tiếp hằng ngày.
Nghe kể chuyện, đọc thơ, ca dao, đồng dao phù hợp với độ tuổi.
1.1.5.2. Nói
Phát âm rõ các tiếng trong tiếng Việt.
Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các loại câu
khác nhau.
Sử dụng đúng từ ngữ và câu trong giao tiếp hằng ngày. Trả lời và đặt
câu hỏi.
Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện.
Lễ phép, chủ động và tự tin trong giao tiếp.
1.1.5.3. Làm quen với việc đọc, viết
Làm quen với cách sử dụng sách, bút.
Làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống.
Làm quen với chữ viết, với việc đọc sách.
1.2. Một số vấn đề về trò chơi và trò chơi dân gian
1.2.1. Trò chơi
1.2.1.1. Khái niệm trò chơi
Chơi là một dạng hoạt động độc lập, tự do và tự nguyện của trẻ mẫu
giáo. Chơi không nhằm tạo ra sản phẩm mà chỉ để thoả mãn nhu cầu được
chơi của trẻ. Nội dung chơi luôn phản ánh hiện thực cuộc sống xung quanh,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status