LVTS 2015 quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự việt nam - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------------

NGUYỄN THỊ LIÊN HƢƠNG

QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------------

NGUYỄN THỊ LIÊN HƢƠNG

QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành

: Luật hình sự

Mã ngành

: 60 38 01 40


1.2.2. Các nội dung căn bản của quyền được xét xử công bằng ...........................16
1.3. CƠ CHế BảO ĐảM QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG TRONG Tố TụNG HÌNH Sự ..20
1.3.1. Các tiêu chí quyền pháp luật quốc tế về quyền được xét xử công bằng được
nội luật hóa trong TTHS Việt Nam ...........................................................................21
1.3.2. Kiểm soát việc thực thi quyền được xét xử công bằng ...............................23
1.3.3. Thực thi việc bảo đảm quyền được xét xử công bằng ................................27
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUYỀN ĐƢỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .........................................................31
2.1. THựC TRạNG PHÁP LUậT Tố TụNG HÌNH Sự VIệT NAM Từ 1945 – TRƢớC NĂM
2003 ...........................................................................................................................31
2.1.1. Giai đoạn từ 1945 – 1988 ............................................................................31
2.1.2. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ....................................................33
2.2. PHÁP LUậT Tố TụNG HÌNH Sự 2003 Về QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG ..........37
2.2.1. Quy định về các nguyên tắc tố tụng ............................................................38
2.2.2. Quy định về địa vị của người tiến hành tố tụng ..........................................45
2.2.3. Các quy định về thủ tục các hoạt động tố tụng ...........................................51
2.2.4. Các quy định về khiếu nại, tố cáo, trong tố tụng hình sự............................54
2.3. THựC TRạNG HOạT ĐộNG Tố TụNG HÌNH Sự VIệT NAM ......................................55


2.3.1. Bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự .......................................................................................................................55
2.3.2. Bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong giải quyết khiếu nại tố cáo .........64
CHƢƠNG III. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUYỀN ĐƢỢC
XÉT XỬ CÔNG BẰNG TRONG TTHS VIỆT NAM .........................................68
3.1. CƠ Sở, YÊU CầU CủA VIệC NÂNG CAO HIệU QUả QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG
BằNG TRONG TTHS VIệT NAM .................................................................................68

3.2. CÁC GIảI PHÁP NÂNG CAO HIệU QUả BảO Vệ QUYềN ĐƢợC XÉT Xử CÔNG BằNG
TRONG Tố TụNG HÌNH Sự ...........................................................................................79

của hoạt động Tố tụng hình sự.
Vấn đề quyền được xét xử công bằng mặc dù đã được Nhà nước ta rất quan
tâm, cụ thể là nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản pháp luật nhằm bảo vệ có
hiệu quả các quyền được xét xử công bằng. Tuy nhiên, việc nhận thức về bản chất
vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ quyền được xét xử công bằng còn những
biểu hiện đơn giản, còn thiếu, chưa hình thành đậm nét các quan điểm, nguyên tắc
chỉ đạo quá trình xây dựng bảo đảm pháp lý thực hiện quyền được xét xử công bằng
trong hệ thống pháp luật. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 tuy đã quy định điều

1


luật nâng cao quyền được xét xử công bằng, nhưng vẫn còn những hạn chế trong
việc đấu tranh phòng và chống tội phạm cũng như bảo vệ quyền con người trong
vấn đề này. Bảo vệ quyền được xét xử công bằng như thế nào một cách có hiệu quả
trong xã hội hiện nay ở nước ta là một vấn đề cấp thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài “
Quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự Việt Nam” với mong muốn tìm
ra được những tiêu chí có cơ sở khoa học, có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn trong
giai đoạn hiện nay. Cùng với các công trình nghiên cứu khác, luận văn sẽ góp phần
đưa pháp luật tố tụng hình sự vào cuộc sống, phát huy tác dụng vào công cuộc bảo
vệ quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự Việt Nam
2. Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề Quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự Việt Nam là vấn
đề thu hút sự quan tâm của toàn ngành Tư pháp và toàn xã hội. Đặc biệt kể từ khi có
nghị quyết 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị, xác định đảm bảo
quyền được xét xử công bằng, dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người
tham gia tố tụng khác, cũng như trong nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của
Bộ chính trị nhấn mạnh nâng cao chất lượng tranh tụng của các phiên tòa xét xử, coi
đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, thì nội dung về quyền được xét xử công
bằng lại càng được quan tâm nghiên cứu.

- Khái niệm về quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
- Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của chế định Bảo vệ quyền
được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự từ sau 1945 đến nay.
-Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về quyền
được xét xử công bằng ở Việt Nam trong những năm gần đây.
-Những hạn chế bất cập; nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong việc
bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
-Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình
sự .
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật
về quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng ta về Nhà

3


nước và pháp luật, về mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân với tư cách là những
căn cứ lý luận để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra.
Luận văn đặc biệt coi trọng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
để nghiên cứu quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự. Sử dụng
phương pháp phân tích, tổng hợp trên lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, để đánh giá thực trạng vấn đề; kết hợp phương pháp hệ thống với phương pháp
logic – lịch sử, phương pháp so sánh, nhằm phân tích luận chứng một cách khoa
học khi xác định các giải pháp bảo đảm thực hiện Quyền được xét xử công bằng
trong Tố tụng hình sự.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu lý luận đánh giá thực trạng về bảo đảm
quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự, từ đó đề ra phương hướng, các

bình diện khái quát nhất, quyền được xét xử công bằng trong Tố tụng hình sự thể
hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, việc trừng trị người phạm tội gây ra những thiệt hại
cho các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của các cơ quan tố tụng, góp phần
bảo vệ quyền con người của cơ quan tiến hành tố tụng đã góp phần bảo vệ quyền
con người. Khi tội phạm xảy ra, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của con
người thì các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải có trách nhiệm phát
hiện, ngăn chặn, xử lý, đồng thời phải áp dụng chế tài thích đáng, phù hợp với quy
định của pháp luật trừng trị người phạm tội. Đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khỏi sự xâm phạm của hành
vi phạm tội là một trong những chức năng của nhà nước và trách nhiệm quan trọng
của cơ quan tiến hành tố tụng. Thứ hai, khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án các cơ
quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền được xét xử công
bằng của con người. Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không
được lợi dụng quyền tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền của con người
[2]. Pháp luật tố tụng hình sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền của
người bị tình nghi, bị can, bị cáo và những người tham gia vụ án thông qua biện
pháp trấn áp kịp thời, xử lý công minh theo đúng pháp luật đối với mọi hành vi

5


phạm tội xâm phạm tới các quyền của công dân, đảm bảo tất cả mọi tội phạm đều bị
phát hiện và xử lý. Đồng thời pháp luật tố tụng hình sự còn quy định chặt chẽ các
trình tự, thủ tục trong quá trình giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng nhằm tôn trọng quyền được xét xử công bằng, tránh sự lợi
dụng của người và cơ quan có thẩm quyền khi tiến hành tố tụng. Đây là hai định
hướng, hai lĩnh vực của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo vệ quyền được xét
xử công bằng bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ chế độ bảo vệ lợi ích của nhà nước và trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy mà Điều 1 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 quy định: “ trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình

nhất của con người. Như vậy, đối tượng của quyền được xét xử công bằng bao gồm
những loại người sau:
Người bị tình nghi phạm tội đang trong quá trình giải quyết vụ án, đang bị
các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự nhằm
xác nhận sự thật khách quan của vụ án. Những người này có thể là người bị bắt,
người bị giam giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật, họ chưa bị coi là
người phạm tội mà mới chỉ là người bị tình nghi phạm tội.
Người phạm tội bị kết án và phải chấp hành hình phạt do Tòa án tuyên. Khác
với người tình nghi phạm tội, đây là người được các cơ quan tiến hành tố tụng
chứng minh và phán quyết là có tội, bị tuyên áp dụng hình phạt tương xứng với tính
chất mức độ phạm tội của họ phù hợp với quy định của pháp luật và được phán
quyết bởi thủ tục tố tụng hình sự công bằng khách quan
Nhóm người tham gia tố tụng do có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án:
nguyên đơn dân sư, người bị hại, bị đơn dân sự người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan, người bào chữa… Những người này ngoài việc tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền lợi của mình, còn góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án và góp phần
bảo đảm sự công bằng trong quá trình giải quyết vụ án.
Như vậy, đối tượng quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự là
người bị buộc tội, bị áp dụng hình phạt phải được chứng minh khách quan và được
xét xử công bằng, đồng thời trong quá trình đó nhân phẩm danh dự, sức khỏe của họ
phải được tôn trọng. Đối tượng quyền con người trong tố tụng hình sự chỉ là những

7


con người dễ bị tổn thương do các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng áp
dụng mà đại diện là những người tiến hành tố tụng.
1.1.3. Các quan điểm và định nghĩa quyền được xét xử công bằng trong TTHS
“Xét xử” là hoạt động của Tòa án, một hoạt động đặc trưng của việc thực
hiện chức năng Tư pháp của Nhà nước. Hoạt động này được tiến hành theo cách

bằng với pháp trị và dân chủ cũng đã được khẳng định chính thức trong Tuyên ngôn
Dakar về quyền được xét xử công bằng tại châu Phi. [33, tr 2010]
Phạm vi của quyền được xét xử công bằng được hiểu tương đối khác nhau
trong lập pháp và trong nhiều tài liệu nghiên cứu, hướng dẫn áp dụng. Nếu dịch sát
nghĩa “right to a fair trial” được hiểu là quyền đối với (quyền có một) phiên xử công
bằng. Tức là không phải bị xét xử bởi một phiên toà không công bằng (unfair trial),
dù là hình sự hay phi hình sự. Về mặt lập pháp, ngoài hệ thông pháp luật của các
quốc gia, quyền được xét xử công bằng được ghi nhận trong nhiều điều ước quốc tế
và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị (ICCPR), đã được đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm
1966. Tuy nhiên, theo nhiều quan điểm thì quyền được xét xử công bằng không chỉ
gồm các quy định liên quan đến giai đoạn xét xử, được quy định tại Điều 14 mà cả
ở nhiều điều luật khác (Điều 7, 9, 15...) của ICCPR. Về thời điểm phát sinh, nhiều
luật gia cho rằng ngay từ khi một cá nhân bị bắt họ đã có quyền này. Bởi lẽ các
quyền trước, trong và sau khi xét xử đều có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Việc đối xử với một người khi họ bị buộc tội phản ánh rõ nhà nước tôn trọng
nhân quyền đến mức nào, bởi vậy quyền được xét xử công bằng được coi là một
hòn đá tảng của các xã hội dân chủ. Giống như đặc tính của mọi nhân quyền là phụ
thuộc lẫn nhau, quyền được xét xử công bằng với các quyền khác có mối quan hệ
hai chiều. Một phiên tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản
khác của con người như quyền sống, quyền được an toàn về thân thể, tự do ngôn
luận…Ngượi lại, trong một xã hội không dân chủ các quyền cơ bản của con người
không được tôn trọng thì khó có thể có chuyện mọi người đều được xét xử công
bằng. Quan hệ chặt chẽ giữa quyền được xét xử công bằng với pháp trị và dân chủ
cũng đã được khẳng định chính thức trong tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử
công bằng tại Châu Phi.

9





1.2 Quyền được xét xử công bằng trong pháp luật quốc tế
1.2.1. Quyền được xét xử công bằng theo các tiêu chí quốc tế về quyền con người
Quyền được xét xử công bằng đầu tiên được đề cập trong các Điều 10 và
Điều 11 UDHR. Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử
công bằng và công khai bởi một tòa án độc lập và khách quan để xác định các
quyền và nghĩa vụ của họ cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ. Điều 11 bổ
sung thêm một số khía cạnh cụ thể, tại một phiên toà đó mọi người bị cáo buộc về
hình sự đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội
theo pháp luật tại một phiên tòa được xét xử công khai nơi người đó được bảo đảm
những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình. Không ai bị cáo buộc là phạm tội
vì bất cứ hành vi hoặc sự tắc trách nào mà không cấu thành một tội phạm hình sự
theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay
có sự tắc trách đó. Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình phạt được quy
định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện
Các quy định kể trên sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong các điều
14, 15 và 11 ICCPR [17, tr 174 – 175]
Liên quan đến Điều 14, bên cạnh những khía cạnh đã được nêu cụ thể như
trên, trong Bình luận chung số 13 thông qua tại Phiên họp lần thứ 21 năm 1984,
HRC đã làm rõ thêm một số khía cạnh khác mà có thể tóm tắt như sau:
Thứ nhất, Điều 14 có nội dung đa dạng nhưng tất cả đều hướng vào mục đích
nhằm bảo đảm sự chính xác và công bằng trong hoạt động tư pháp. Nội dung của
Điều này cần được sử dụng như là cơ sở không chỉ trong hoạt động truy tố và xét xử
tội phạm, mà còn trong việc xác định các quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo, cụ
thể như các quyền bình đẳng trước tòa án và trước thẩm phán, quyền được bào
chữa, được xét xử công khai bởi một tòa án có đủ thẩm quyền, độc lập và vô tư,
được thành lập theo pháp luật
Thứ hai, Điều 14 áp dụng cho tất cả các dạng tòa án và thẩm phán, bất kể tòa
án thông thường, tòa án quân sự hay tòa án đặc biệt. Và mặc dù ICCPR không cấm

Thứ tám, để thực hiện được bảo đảm không bị buộc phải đưa ra lời khai
chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội cần phải thực hiện các
quyền quy định trong các Điều 7 và Khoản 1 Điều 10 ICCPR. Thêm vào đó, luật

12


pháp quốc gia cần có quy định chứng cứ thu được từ việc sử dụng các biện pháp tra
tấn, đối xử tàn bạo,vô nhân đạo hay từ bất cứ hình thức ép buộc nào khác trong hoạt
động tố tụng là vô giá trị.
Thứ chín, để thực hiện các bảo đảm nêu ở các Khoản 1 và 3 Điều 14 ICCPR,
các thẩm phán cần được trao quyền giải quyết những khiếu nại, tố cáo về việc vi
phạm các quyền của bị can, bị cáo trong bất kỳ giai đoạn tố tụng nào.
Thứ mười, người chưa thành niên làm trái pháp luật phải được hưởng những
bảo đảm tố tụng ít nhất cũng ngang bằng với những bảo đảm áp dụng với những
người đã thành niên. Việc thi hành tố tụng với những người chưa thành niên làm
trái pháp luật cần tính đến độ tuổi của các em và mục đích khuyến khích các em
hoàn lương, mà thể hiện qua các khía cạnh như: xác định độ tuổi tối thiểu phải chịu
trách nhiệm hình sự và độ tuổi tối đa một người có thể được coi là chưa thành niên;
xây dựng các tòa án, luật và thủ tục tố tụng đặc biệt áp dụng với người chưa thành
niên và bảo đảm rằng những luật và thủ tục đặc biệt đó đã tính đến mục đích
khuyến khích các em hoàn lương.
Thứ mười một, quy định bất kỳ người nào bị kết án đều có quyền yêu cầu toà
án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp
luật cần được áp dụng với mọi trường hợp phạm tội chứ không chỉ với những
trường hợp phạm tội nghiêm trọng. [ 12, tr 169 - 172]
Quyền được xét xử công bằng như đã đề cập, được ghi nhận trong nhiều điều
ước quốc tế và khu vực. Trước hết phải kể đến Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị (ICCPR), mà Việt Nam đã gia nhập từ năm 1982, là văn kiện quốc tế
có giá trị cao trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Trong Công ước

nghĩa vụ liên quan đến điều luật này. Ngoài ra, các bản án của Uỷ ban Nhân quyền
cũng được coi là nguồn “án lệ” (case law) quan trọng, dựa trên các án lệ này mà Uỷ
ban hệ thống hoá lại thành các Bình luận chung.
Đối chiếu với quy định về quyền này trong ICCPR với Công ước về nhân
quyền của một số khu vực (châu Âu, châu Mỹ, châu Phi) cũng thấy rất nhiều điểm
tương đồng. Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và tự do căn bản (ECHR)
năm 1950 tại Điều 6, cũng như Công ước châu Mỹ về nhân quyền (1969) tại Điều 8,
đều quy định với tiêu đề “quyền được xét xử công bằng” (Right to a fair trial),
khẳng định quyền được xét xử bởi “toà án độc lập và không thiên vị, được thiết lập

14


theo luật pháp” trong các vụ việc dân sự hay hình sự, quyền được suy đoán vô tội và
các quyền tối thiểu liên quan đến việc bị buộc tội. Tại các điều ước khu vực khác,
có thể không gọi trực tiếp tên quyền này, như Điều 7 của Hiến chương châu Phi về
nhân quyền và quyền của các dân tộc, nhưng cũng quy định về một số quyền như
được kháng cáo, được suy đoán vô tội, được bào chữa, được xét xử bởi “một toà án
không thiên vị”. Cũng cần lưu ý là châu Phi đã có riêng một văn kiện về quyền
được xét xử công bằng là Tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử công bằng tại
châu Phi (2000), như đã nhắc đến ở trên. Hiến chương nhân quyền Ả-rập (1994), dù
không có điều nào đề cập trực tiếp đến toà án, nhưng cũng có quy định về quyền
được suy đoán vô tội (Điều 7), quyền không bị xét xử hai lần, được bồi thường nếu
bị giam giữ oan (Điều 16). Các điều ước khu vực hiển nhiên chỉ có giá trị bắt buộc
đối với các quốc gia tham gia điều ước, nhưng rõ ràng quyền được xét xử công
bằng mang tính phổ quát cao và được quan tâm bảo vệ trên khắp thế giới.
Bên cạnh các văn kiện mang tính ràng buộc pháp lý (công ước, điều ước),
nhiều văn kiện không mang tính ràng buộc pháp lý như Hướng dẫn, Nguyên tắc,
Quy tắc có liên quan đến bảo vệ quyền được xét xử công bằng. Chẳng hạn như liên
quan đến người tiến hành tố tụng và các nghĩa vụ của họ có Các nguyên tắc cơ bản

đó nội dung vụ án bị sai lệch. Mặt khác, toà án trong giai đoạn này đã có vai trò
xem xét về tính hợp pháp của việc bắt giữ người.
Quyền bình đẳng trước tòa án và được xét xử bởi tòa án độc lập, không thiên
vị, công khai
Trước hết, bình đẳng thể hiện ở sự ngang bằng về quyền giữa các bên trong
tố tụng. Các buộc tội với bên gỡ tội có quyền như nhau trong việc đưa ra chứng cứ,
quan điểm, yêu cầu là những đòi hỏi đầu tiên của công bằng trong xét xử. Đây cũng
là yêu cầu của Điều 7 Tuyên ngôn rằng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và
có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng.
Thứ hai, tòa án cần phải độc lập, không thiên vị cũng là nội dung quan trọng
đảm bảo công bằng. Toà án là cơ quan có thẩm quyền đưa ra phán quyết về việc
một người có tội hay không và trách nhiệm hình sự mà người đó phải ghánh chịu.
Tại Các nguyên tắc cơ bản về tính độc lập của Tòa án (Basic Principles on the
Independence of the Judiciary) do Hội nghị Liên hợp quốc về phòng chống tội

16


phạm và xử lý người phạm tội thông qua và được Đại hội đồng Liên hợp quốc chấp
thuận cùng trong năm 1985, tính độc lập của toà án đã được cụ thể hoá từ nhiều góc
độ như cần có sự bảo đảm của nhà nước, bảo đảm của hiến pháp, toà án không bị
ảnh hưởng bởi dụ dỗ, sức ép, can thiệp sai trái... Bên cạnh sự độc lập của tòa án và
các thẩm phán, sự độc lập của cảnh sát và công tố viên cũng ảnh hưởng đáng kể đến
tính độc lập của hệ thống tư pháp. Hướng dẫn về vai trò của công tố viên (được Hội
nghị Liên hợp quốc thông qua năm 1990) đã khẳng định trách nhiệm của nhà nước
trong bảo đảm cho công tố viên thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn mà không bị
đe doạ, ngăn cản, can thiệp (Khoản 4) và văn phòng công tố viên phải triệt để tách
khỏi chức năng xét xử (Khoản 10)... Trong Quy ước đạo đức của quan chức thi
hành pháp luật (được Đại hội đồng LHQ thông qua năm 1979), một số khía cạnh
liên quan đến tính độc lập như các quan chức thi hành pháp luật (thực thi quyền lực

Cụ thể, việc tiến hành phiên toà phải được dựa trên việc giả định suy đoán là vôi tội.
Liên quan đến suy đoán vô tội, các yếu tố có thể tạo nên định kiến cũng cần phải
tránh như việc yêu cầu bị can, bị cáo đeo còng tay, mặc đồng phục trại giam hoặc
buộc phải cạo trọc đầu.
Quyền bào chữa
Quyền bào chữa có vai trò đặc biệt là quyền bảo vệ các quyền khác. Điều
14/3 ICCPR khẳng định trong quá trình xét xử hình sự, mọi người phải được các
bảo đảm tối thiểu liên quan đến quyền bào chữa. Các quyền đó bao gồm quyền
được biết lý do buộc tội, quyền bào chữa, được trợ giúp pháp lý, được xét xử nhanh
chóng, được đối chất với người làm chứng...
Trước hết, để có thể thực hiện việc bào chữa, người bị buộc tội phải được
thông báo về lý do buộc tội (Điều 14/3/a). Nguyên tắc 10 trong Các nguyên tắc về
bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay tù dưới bất kỳ hình thức nào (1988) cũng
nhấn mạnh quyền được thông báo này của người bị bắt giữ. Bên cạnh quyền có đủ
thời gian để chuẩn bị cho việc bào chữa (Điều 14/3/b), bị cáo lại có quyền được xét
xử nhanh chóng (Điều 14/3/c).
Để đảm bảo quyền bào chữa còn có các quy định liên quan đến chứng minh,
người làm chứng. Cá nhân có quyền thẩm vấn và yêu cầu thẩm vấn những nhân
chứng buộc tội mình, được mời người làm chứng gỡ tội cho mình tới phiên toà
(Điều 14/3/e). Về nghĩa vụ chứng minh, bị can, bị cáo không phải đưa ra lời khai

18


chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội (Điều 14/3/g) và nghĩa vụ
chứng minh trong vụ án hình sự thuộc về phía công tố.
Quyền được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên
Do đặc điểm của người chưa thành niên có nhiều hạn chế về thể chất, tâm
sinh lý, cộng đồng quốc tế đã giành nhiều quan tâm để bảo vệ người chưa thành
niên về mặt pháp lý. Điều 14/4 ICCPR quy định thủ tục áp dụng đối với người chưa

chịu hình phạt hai lần về cùng một tội danh.
Trong ICCPR, ngoài các nội dung quy định tại Điều 14 nêu trên, các nội
dung quy định trong Điều 11 về không bị truy cứu hình sự vì lý do không thực hiện
được nghĩa vụ hợp đồng và Điều 15 về không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu
thành tội phạm theo pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi, không áp dụng hồi
tố cũng được nghiên cứu khi đề cập đến quyền được xét xử công bằng.
Trên đây là những nội dung cơ bản của các quy phạm pháp luật quốc tế về
quyền được xét xử công bằng. Mức độ tuân thủ của các quốc gia, trên khía cạnh
pháp luật thực định và thực tiễn thi hành pháp luật, lại là một vấn đề lớn và phức tạp
hơn nhiều.
1.3. Cơ chế bảo đảm quyền được xét xử công bằng trong tố tụng hình sự
Lịch sử nhân loài đã chứng minh ở mỗi thời đại, mỗi chế độ chính trị - xã hội
nhất định lòng khát khao được bình đẳng về công lý và công bằng xã hội luôn là sức
mạnh vô tận trong nhu cầu được bảo vệ một nhu cầu hết sức tự nhiên của con
người. Do vậy, vai trò của pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói
riêng hơn bao giờ hết cần phải có những quy định cụ thể tạo nên cơ chế bảo vệ thích
đáng xuất phát từ yêu cầu khách quan của đời sống pháp luật, đặc biệt là hoạt động
có tính chất nhạy cảm, phức tạp như trong hoạt động tố tụng hình sự. Quyền được
xét xử công bằng là một quá trình mà nó phụ thuộc nhiều vào biện pháp khác nhau
trong đó pháp luật cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước có vị trí, vai trò và
tầm quan trọng hàng đầu của các biện pháp bảo vệ quyền được xét xử công bằng
trong tố tụng hình sự

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status