BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐẶNG THỊ MẾN
LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ CÁC
HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU TRONG QUẢN LÝ RỪNG CỘNG
ĐỒNG TẠI THÔN LÀNG CÁT, XÃ ĐAKRÔNG,
HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2011
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quản lý tài nguyên rừng và đất rừng dựa vào cộng đồng là một phương thức
quản lý rừng dựa vào kiến thức kinh nghiệm truyền thống và nguyện vọng của cộng
đồng, hướng đến việc nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác chia sẻ kinh
nghiệm cho cộng đồng và bên liên quan, nhằm quản lý các nguồn tài nguyên bền
vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá của các cộng đồng
dân tộc sống trong và gần rừng.
Trong những năm trước đây dân số ít, nhu cầu sinh kế của người dân chưa lớn,
chưa đa dạng vì thế nguồn tài nguyên rừng về cơ bản có thể đáp ứng được. Bên
cạnh đó, trong các cộng đồng dân tộc thiểu số việc quản lý tài nguyên rừng có sự trợ
hướng bền vững. Do đó, nguồn tài nguyên rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm và chưa trở
thành nguồn lực đóng góp cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Nguyên
nhân chủ yếu của tình trạng này ngoài lý do nội lực của cộng đồng còn hạn chế là
chính sách của Nhà nước về cơ chế hưởng lợi chưa được cụ thể và rõ ràng đối với
chủ rừng cùng với sự thiếu những hướng dẫn quản lý rừng cho cộng đồng sau khi
giao, chưa giúp họ thực hiện được các công việc thiết yếu như: Kế hoạch quản lý,
xây dựng quy ước Bảo vệ và phát triển rừng; thiết lập quỹ Bảo vệ và phát triển tài
nguyên rừng của thôn... Do vậy cộng đồng dân cư thôn sau khi nhận đất sẽ lúng
túng và không thực hiện được các mục tiêu giao rừng cho cộng đồng của Nhà nước
đó là: quản lý bền vững tài nguyên rừng và góp phần cải thiện cuộc sống cho người
dân.
Để góp phần xây dựng những tài liệu nhằm hướng dẫn các hoạt động trên, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: "Lâm nghiệp cộng đồng tại tỉnh Quảng Trị và các
hoạt động chủ yếu trong quản lý rừng cộng đồng tại thôn Làng Cát, xã
ĐaKrông , huyện ĐaKrông, tỉnh Quảng Trị "
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
NHỮNG NHẬN THỨC VỀ LÂM NGHIỆP CỘNG ĐỒNG
1.1. Trên thế giới:
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến lâm nghiệp cộng đồng
(LNCĐ) về các khía cạnh, về cải tiến chính sách, thể chế tiếp cận, phát triển công
nghệ trên cơ sở kiến thức bản địa để phát triển quản lý rừng cộng đồng. Đây là
những kinh nghiệm tốt có thể kế thừa và vận dụng một cách thích hợp vào điều kiện
Việt Nam.
Khái niệm cộng đồng thường được hiểu là nhóm người sống trên cùng một
khu vực, thường cùng nhau chia sẽ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung, có
cây và rừng cổ truyền ở nhiều địa phương. Chính sách thực dân đã đập tan các hệ
thống quản lý cổ truyền về tài nguyên ở các địa phương cùng với những nguồn kiến
thức bản địa về tài nguyên và hệ sinh thái nơi đó. Trong thời gian hậu thuộc địa,
nhiều nhà quản lý sử dụng rừng vẫn chịu ảnh hưởng của những lực lượng từ bên
ngoài và cũng góp phần không nhỏ trong việc làm suy giảm tài nguyên rừng trên thế
giới [16].
Một thực tế mà chúng ta có thể kết luận rằng, khi mà các cộng đồng dân cư
không phải là nhân tố tham gia thực hiện quản lý rừng, họ không thấy được trách
nhiệm và quyền hạn của mình trong việc quản lý tài nguyên rừng thì ở đó tài
nguyên rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Khi chính phủ của các quốc gia giao quyền
quản lý những khu rừng và tạo cơ hội cho người dân, cộng đồng được hưởng lợi từ
rừng, khi đó những vấn đề như đói nghèo, suy thoái tài nguyên dần dần được đẩy
lùi và cộng đồng địa phương sẽ nhận ra trách nhiệm của chính họ trong việc bảo vệ
và quản lý tài nguyên rừng, thúc đẩy cho sự phát triển của các cộng đồng dân cư
sống phụ thuộc vào rừng.
Tính đến thời điểm hiện nay LNCĐ đã trải qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất phần lớn những người bên ngoài cuộc xác định vấn đề và
đề ra quyết định để giải quyết vấn đề đó. Kết quả đạt được đều không đáng khích lệ,
5
sự quan tâm của cộng đồng thường theo thời gian mà lắng xuống. Rất ít các cộng
đồng tiếp tục các hoạt động sau khi những người ngoài cuộc rút lui, và tất nhiên tính
bền vững không đạt được.
- Giai đoạn thứ hai những người ngoài cuộc xác định vấn đề và đề ra phần lớn
quyết định, nhưng họ đã bắt đầu tham khảo ý kiến của những người trong cộng
đồng, thông qua các cuộc phỏng vấn. Kết quả là những người ngoài cuộc đã bắt đầu
nhận thức được rằng những người trong cộng đồng có khá nhiều hiểu biết và
thường có cách giải quyết vấn đề phù hợp và hiệu quả hơn.
cho chương trình cộng đồng.
Mục đích của các chương trình lâm nghiệp xã hội tại Ấn Độ tập trung giải
quyết một số vấn đề như: giúp đỡ dân nghèo và cố nông được quyền hưởng thụ các
tài sản công cộng của thôn bản và đất đai của cơ quan lâm nghiệp, trên đó họ có thể
trồng các loài cây rừng và các loài cỏ thích hợp; Tuyển chọn các biện pháp kỹ thuật
có hiệu quả kinh tế cho từng khu sinh thái; Tổ chức các cộng đồng địa phương để
tiến hành phát triển có hiệu quả công tác lâm nghiệp xã hội.
Theo lịch sử ở Ấn Độ có nhiều loại rừng lăng miếu và chúng phục vụ nhiều
mục đích tinh thần và tôn giáo. Những rừng này đều được các tổ chức tôn giáo hoặc
nhóm cộng đồng địa phương quản lý, đồng thời người dân địa phương ở Ấn Độ đã
bảo vệ được các đám rừng có diện tích từ 0.5 – 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để
thờ các vị thần của lùm cây. Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó hình thành
từ những xã hội chuyên săn bắt, hái lượm và việc lấy bất kỳ một sản phẩm nào ra
đều là cấm kỵ và nó cũng đã góp phần vào việc duy trì và mở rộng tài nguyên rừng.
- Tại Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài
sản khác thường gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh. Khi tìm hiểu tính chất của
việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều có những nét chung
và chúng thường có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ. Các chỉ tiêu về quy chế tổ
chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những người sử dụng là phần
quan trọng nhất của tất cả những hệ thống quản lý rừng bản địa. Và những hệ thống
quản lý rừng bản địa này chỉ mới được xây dựng từ năm 1950. Từ năm đó tới nay
Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng đồi,
đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh
hưởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay. Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ
7
phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của Chính phủ, nhưng việc đó đã thất
bại. Sau đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho
Theo Gilmour, D.A King, G.C và Hobley (1989) [16] đã mô tả hai kiểu động
cơ khác nhau nhưng song song tồn tại bên nhau trong phát triển lâm nghiệp ở
Nepan đó là: “Phát triển lâm nghiệp hướng về Trung Ương” và “Phát triển lâm
nghiệp hướng về người dân”. Để nâng cao việc quản lý rừng công cộng có hiệu quả,
một số chương trình của Chính phủ Nepan đã phát triển theo hình mẫu “hướng về
rừng” để khắc phục hiện tượng tàn phá rừng do sự tác động cộng hưởng của chính
sách lâm nghiệp không hoàn chỉnh, áp lực của dân số và sự ô nhiễm môi trường.
Qua báo cáo của Leuschner, tác giả đã khẳng định rằng việc hợp tác giữa cư dân địa
phương với cán bộ cấp huyện là rất quan trọng để thành công trong các dự án phát
triển LNCĐ và nó có thể trở nên dễ dàng bằng cách thu hút các nhóm người dân đó
vào việc lập kế hoạch phát triển địa phương. Tiêu chuẩn chính cho sự thành công
của dự án LNCĐ đó chính là việc quan tâm đến sự thích nghi một hệ thống quản lý
cộng đồng với các điều kiện và nhu cầu của người dân địa phương.
Guha (1989), Rừng núi không yên ổn: Thay đổi sinh thái và sự chống đối của
nông dân tại Himalaya [22] cách đây trên một trăm năm, tại vùng đồi Himalaya
phong trào quần chúng “ôm giữ lấy cây” (chipko) như là một cố gắng nổi bật của
người dân địa phương để cứu vãn tài nguyên rừng đang bị suy sụp và chống lại
chính sách của Chính phủ đã cho phép những người ngoài cuộc tới chặt hạ cây cối
theo mục đích thương mại của họ.
Theo Basu, N.G (1987)[3] đề nghị chính phủ cần có một chính sách lâm
nghiệp mới cùng với một cách nhìn mới để ngăn chặn quá trình phát triển đồi trọc
và để lôi cuốn nhân dân tham gia vào phong trào tái sinh rừng.
Theo Arnold (1992) LNCĐ là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động
gắn kết người dân nông thôn với trồng rừng cũng như quản lý bảo vệ các sản phẩm
và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên.
- Tại Indonesia, người dân ở vùng Kalimanta có tập quán canh tác du canh, lúc
ban đầu du canh được tiến hành tại các khu rừng tự nhiên, sau đó các diện tích rừng
thứ sinh cũng được sử dụng, từng bước các hộ gia đình đã bắt đầu đòi hỏi quyền
được sở hữu nương rẫy và đất bỏ hóa. Với áp lực dân số ngày càng gia tăng những
- Ở Nhật bản, không phải là cường điệu khi nói rằng văn hoá Nhật Bản phát
triển trong mối quan hệ mật thiết của gỗ và rừng, tiêu biểu là những toà nhà bằng gỗ
10
đền "Horyn" và nhiều cây gỗ linh thiêng còn lại xung quanh những đền, miếu và
điện thờ. Từ sự đam mê và quan tâm đến văn hoá, người Nhật đã học được cách cải
tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn. Vì vậy, thực tế
các mục tiêu chính trong luật pháp rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được
công bố rõ ràng để đẩy mạnh phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng
ngay từ những năm 1800 [21]
1.2. Ở Việt Nam:
Hiện nay, Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có
một định nghĩa chính thức nào được công nhận. Tuy nhiên, qua các cuộc hội
thảo dường như mọi người đều thống nhất ở Việt Nam có hai hình thức quản lý
rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:
- Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng: Đây là hình thức mà mọi thành viên
của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những
khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền
sử dụng chung của cộng đồng.
Rừng của cộng đồng là rừng của thôn đã được quản lý theo truyền thống
trước đây (quản lý theo các luật tục truyền thống), rừng trồng của các hợp tác xã,
rừng tự nhiên đã đuợc giao cho các hợp tác xã trước đây mà sau khi chuyển đổi
hoặc giải thể, hợp tác xã đã giao lại cho các xã hoặc các thôn quản lý. Những diện
tích rừng này có thể Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc
đã công nhận quyền sử dụng đất của cộng đồng, song trên thực tế, mặc nhiên
cộng đồng đang tự tổ chức quản lý sử dụng và hưởng lợi từ những khu rừng đó.
Như vậy, thực chất “quản lý rừng cộng đồng” là cộng đồng dân cư thôn
quản lý rừng thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng,
nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác. Cộng đồng tham gia các hoạt
động lâm nghiệp như bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, phục hồi rừng, trồng
rừng với tư cách là người làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi
theo các cam kết trong hợp đồng.
Tại Hội thảo quốc gia “Những kinh nghiệm và tiềm năng của QLRCĐ ở
Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội vào tháng 6 năm 2000, phần lớn các đại biểu đã
thống nhất hai hình thức quản lý trên đều thuộc LNCĐ hay cộng đồng tham gia
quản lý rừng.
12
Từ sự phân tích trên cho thấy, LNCĐ và quản lý rừng cộng đồng là hai khái
niệm khác nhau, thuật ngữ quản lý rừng cộng đồng được sử dụng với nghĩa
hẹp hơn thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng. Thuật ngữ này được sử dụng khi đề
cập đến việc quản lý những khu rừng của một cộng đồng dân cư, còn nói đến
LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tả hàng loạt các hoạt
động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn với rừng, cây, các sản phẩm
của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng. Hay nói cách khác, LNCĐ là một
hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồng dân cư thôn
thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thành phần kinh tế
khác. Với cách hiểu như vậy nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lý rừng cộng
đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý rừng dựa vào cộng
đồng (cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác). Khái niệm này vừa phù
hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng góp của cộng
đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng (Nguyễn Bá Ngãi, 2004).
Lâm nghiệp cộng đồng là một quá trình Nhà nước giao rừng và đất rừng cho
cộng đồng chủ động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đất rừng theo hướng bền
vững nhằm góp phần cải thiện điều kiện sinh kế của cộng đồng ngày một tốt hơn
dưới sự hộ trợ tích cực của các tổ chức lâm nghiệp nhà nước
Ngày nay ở Việt Nam, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã được nhận
thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên
vùng cao. Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào
quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải
pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sự dụng
tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng
đồng.
Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tài
nguyên thiên nhiên ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau. Nó phụ thuộc vào đặc
điểm của nguồn tài nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước, vào những
quy định của cộng đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo,
nhận thức và kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của người dân v.v.... Trong nhiều
trường hợp ở nước ta, sự phụ thuộc này vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Đây là lý
do vì sao việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên
14
trên cơ sở cộng đồng ứng với mỗi nhóm dân tộc cùng toàn bộ phức hệ các điều kiện
tồn tại của họ vẫn đang được đặt ra như một trong những nhiệm vụ cấp bách ở Việt
Nam.
Tính đến 31 tháng 12 năm 2007 [7][13] cả nước có 10.006 cộng đồng dân cư
thôn, chủ yếu là các cộng đồng các đồng bào dân tộc ít người, đang quản lý và sử
dụng 2.792.946,3 ha rừng và đất trống đồi trọc (gọi chung là đất lâm nghiệp) để xây
dựng và phát triển rừng, trong đó: 1.916.169,2 ha đất có rừng (chiếm 68,6%) và
876.777,1 ha đất trống đồi trọc (chiếm 31,4%). Diện tích đất lâm nghiệp do cộng
đồng quản lý nêu trên chiếm 17,20% diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm
nghiệp trên toàn quốc (16,24 triệu ha); diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng
đồng quản lý chiếm 15% tổng diện tích rừng của cả nước (12.873.815 ha). Trong
diện tích đất lâm nghiệp có rừng do cộng đồng quản lý và sử dụng thì rừng tự nhiên
Tiến trình phát triển chính sách Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam [24]:
- Trước năm 1954: Thừa nhận sự tồn tại của rừng cộng đồng.
Lâm nghiệp thuộc địa, phong kiến thừa nhận rừng cộng đồng truyền thống.
Quản lý rừng cộng đồng dựa trên các hương ước và luật tục truyền thống.
- Giai đoạn 1954-1975: Không quan tâm đến rừng cộng đồng nhưng tôn trọng
cộng đồng đang quản lý những khu rừng theo truyền thống.
Miền bắc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và hợp tác hóa, tập trung
phát triển lâm nghiệp quốc doanh (Lâm trường quốc doanh) và lâm nghiệp tập thể
(Hợp tác xã nông - lâm nghiệp). Mặc dù không quan tâm lâm nghiệp hộ gia đình và
Lâm nghiệp cộng đồng, nhưng về cơ bản, Nhà nước vẫn tôn trọng cộng đồng vùng
cao quản lý rừng theo phong tục truyền thống, lâm nghiệp hộ gia đình được xác
định là kinh tế phụ. Trong khi đó, ở miền nam, giống thời kỳ trước năm 1954.
- Giai đoạn 1976-1985: Tập trung và kế hoạch hóa cao độ lâm nghiệp quốc
doanh và tập thể, rừng do cộng đồng quản lý bị thu hẹp.
Sau giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, Chính phủ chỉ chú ý phát triển
2 thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể (hợp tác xã). Lâm nghiệp quốc doanh và
lâm nghiệp tập thể phát triển ở quy mô lớn theo cơ chế kế hoạch hóa, tập trung cao
độ, LNCĐ và lâm nghiệp hộ gia đình không được khuyến khích phát triển. Tuy
16
nhiên, một số nơi ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc vẫn tồn tại các khu rừng do
cộng đồng tự công nhận nhưng mức độ tự quản dần bị mai một và lỏng lẻo.
Quyết định 184 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1982 và Chỉ thị 29 của Ban bí
thư năm 1983 về giao đất giao rừng cho các thành phần kinh tế quốc doanh và tập
thể, bắt đầu chú ý đến hợp đồng khoán rừng cho hộ gia đình.
- Giai đoạn 1986-1992: Lần đầu tiên đề cập làng bản là chủ rừng hợp pháp đối
với rừng truyền thống của làng bản.
Năm 1986, Chính phủ bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới bằng việc thừa
- Từ 2003 đến nay: hình thành khung pháp lý cơ bản cho LNCĐ
Theo Luật Đất đai mới năm 2003, cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao
đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp với tư cách là người sử dụng
đất.
Luật BV&PTR mới năm 2004 có một mục riêng quy định về giao rừng cho
cộng đồng dân cư thôn; quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư thôn được giao
rừng.
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về thi
hành Luật đất đai (Nghị định 181) quy định cộng đồng dân cư thôn được giao đất
rừng phòng hộ với các quyền chung như hộ gia đình và cá nhân được giao đất lâm
nghiệp nhưng cộng đồng dân cư thôn không được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, tặng cho quyền sử dụng đất; không được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng
quyền sử đụng đất.
Luật Dân sự năm 2005 thừa nhận khái niệm sở hữu chung của cộng đồng.
Theo đó, cộng đồng dân cư thôn có quyền sở hữu đối với tài sản được hình thành
theo tập quán, tài sản do các thành viên trong cộng đồng đóng góp và cùng quản lý,
sử dụng theo thoả thuận vì lợi ích của cộng đồng.
- Các Quyết định, Nghị định và thông tư của Bộ NN&PTNT:
+ Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn về việc ban hành bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn. Trong
đó có hướng dẫn cụ thể về các căn cứ, điều kiện và trình tự thủ tục giao rừng cho
cộng đồng (chương II), quyền lợi và nghĩa vụ của cộng đồng được Nhà nước giao
rừng (chương V), việc lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng, xây dựng quy ước bảo
18
vệ và phát triển rừng cộng đồng, xây dựng quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng,
tổ chức quản lý và giám sát đánh giá việc thực hiện (Chương III,IV,VI,VII).
+ Thông tư số 38/2007/TT – BNN ngày 24/5/2007 của Bộ trưởng Bộ nông
giao rừng cho cộng đồng.
Như vậy, đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bản cho
quản lý rừng cộng đồng, được thể hiện trong 2 bộ luật lớn, đó là Luật Đất đai năm
2003, Luật BV&PTR năm 2004 và các văn bản chính sách khác. Khung pháp lý và
chính sách này thể hiện các điểm căn bản sau đây:
- Thứ nhất, cộng đồng dân cư là chủ rừng, người sử dụng rừng có tư cách pháp
nhân đầy đủ hoặc không đầy đủ tuỳ theo từng điều kiện của mỗi cộng đồng và đối
tượng rừng được giao hay nhận khoán.
- Thứ hai, cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhận hợp đồng khoán rừng lâu
dài khi đáp ứng các quy định của pháp luật và chính sách hiện hành như: Khu rừng
hiện cộng đồng dân cư thôn đang quản lý sử dụng có hiệu quả; Khu rừng giữ nguồn
nước phục vụ trực tiếp cho lợi ích chung của cộng đồng; Khu rừng giáp ranh giữa
các thôn, xã, huyện không thể giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mà cần giao
cho cộng đồng dân cư thôn để phục vụ lợi ích của cộng đồng.
- Thứ ba, cộng đồng được hưởng các quyền khi tham gia quản lý rừng theo
quy định của pháp luật như: Được công nhận quyền sử dụng rừng ổn định, lâu dài
phù hợp với thời hạn giao rừng; Được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích
khác của rừng vào mục đích công cộng và gia dụng cho thành viên trong cộng
đồng; Được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp, ngư nghiệp kết hợp; Được hưởng
thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích rừng được giao; Được hướng dẫn
về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước để bảo vệ và phát triển rừng
và được hưởng lợi ích do các công trình công cộng bảo vệ, cải tạo rừng mang lại;
Được bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng
khi nhà nước có quyết định thu hồi rừng.
- Thứ tư, cộng đồng thực hiện nghĩa vụ khi tham gia quản lý rừng theo quy
định của pháp luật như: Xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức bảo
vệ và phát triển rừng, định kỳ báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về diễn
biến tài nguyên rừng và các hoạt động liên quan đến khu rừng; Thực hiện nghĩa vụ
21
các chương trình, dự án người trong cuộc hoặc cả người trong cuộc và người ngoài
cuộc cùng nhau góp sức để đạt được mục đích đã đề ra.
- Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - Thụy Điển đã cho xuất bản các
tài liệu rất hữu ích cho quản lý rừng cộng đồng như: “Điều tra đánh giá nông thôn
có sự tham gia của nông dân, xây dựng kế hoạch ở thôn bản”, “ Phát triển Quỹ thôn
bản” và tổng quan đào tạo về: “Lập kế hoạch cấp thôn/bản và hộ gia đình”.
- Một trong những dự án lớn nhất về lâm nghiệp cộng đồng có lẽ phải kể tới
Dự án Phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà. Bắt đầu vào năm 1993, bên cạnh
những điểm hạn chế, cho tới nay dự án đã thu được những thành công và những bài
học kinh nghiệm quý báu. Chương trình hợp tác với Cộng hòa liên bang Đức cho
xuất bản tài liệu “Bộ công cụ PRA cho cho thôn bản lập kế hoạch phát triển thôn
bản” năm 2006. Trong bộ công cụ này có 12 công cụ hướng dẫn từng bước cho
người dân địa phương đánh giá được thực trạng, thế mạnh trong sản xuất, những trở
ngại, đồng thời thảo luận và tìm ra hướng khắc phục những hạn chế trong điều kiện
của thôn bản mình giúp lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch phát triển thôn bản
Dự án này đã chú ý làm việc với “nhóm sử dụng rừng” hơn là với các đơn vị
quản lý hành chính lâm nghiệp. Tại những nơi người H'Mông sinh sống thì “nhóm
sử dụng rừng” cũng chính là “nhóm bảo vệ rừng” và đó cũng chính là “cấp” để dự
án can thiệp. Trong khi đó, nơi người Thái sinh sống thì “nhóm bảo vệ rừng” không
đại diện cho “nhóm sử dụng rừng” và ở đó những can thiệp của dự án tập trung vào
cấp bản, bắt đầu bằng những hoạt động ký hợp đồng bảo vệ rừng cho cả bản. Dự án
đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao
đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những “nhóm bảo vệ rừng” và hỗ
trợ dân bản xây dựng những quy chế bảo vệ rừng. Những quy chế này dựa vào việc
quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng
cường sự kiểm soát của dân bản tránh sự phá hoại rừng từ những bản bên cạnh.
trợ và thúc đẩy các cộng đồng xây dựng các hoạt động trong quản lý rừng của mình
sau khi được giao rừng; đồng thời các tài liệu này cũng đã đóng góp lớn trong việc
nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các cán bộ quản lý lâm nghiệp địa phương cũng
như, cán bộ xã, thôn về xây dựng các hoạt động Quản lý rừng cộng đồng.
Các chương trình, dự án trên được coi là các cơ sở kỹ thuật quan trọng trong
việc hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam.
23
Tóm lại, những cơ sở pháp lý và cơ sở kỹ thuật về quản lý rừng cộng đồng ở
Việt Nam ở trên có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý rừng cộng đồng
nhằm mục tiêu bền vững.
Thảo luận
Tổng quan các vấn đề liên quan đến quản lý rừng cộng đồng trong nước và
ngoài nước cho thấy:
- Nhìn chung, quản lý tài nguyên rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một
vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng
quốc gia, từng địa phương. Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình
nào từ nơi này sang nơi khác. Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những
bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối
cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay. Điều đáng
chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ
sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng.
- Xu hướng phát triển phương thức quản lý rừng cộng đồng là khách quan
trong phát triển Lâm nghiệp ở nhiều quốc gia nhằm định hướng thu hút sự tham gia
của cộng đồng để đóng góp vào tiến trình quản lý rừng bền vững.
- Tại Việt Nam, dựa vào kinh nghiệm của các dự án lớn về LNCĐ như dự án
SFDF sông Đà, dự án “Chương trình thí điểm Lâm nghiệp cộng đồng” cho thấy kế
hoạch quản lý rừng là công cụ quan trọng bậc nhất để cộng đồng quản lý rừng. Kế