Nghiên cứu nhân giống một số dòng tếch (tectona grandis linn) bằng phương pháp nuôi cấy in vitro - Pdf 44

Bộ giáo dục và đào tạo

Bộ nông nghiệp và PTNT

Tr-ờng đại học lâm nghiệp

Nguyễn thị thuỳ D-ơng

Nghiên cứu nhân giống một số dòng tếch (Tectona
grandis Linn) bằng ph-ơng pháp nuôi cấy in vitro

Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp

H Tây 2007


Bộ giáo dục và đào tạo

Bộ nông nghiệp và PTNT

Tr-ờng đại học lâm nghiệp

Nguyễn thị thuỳ D-ơng

Nghiên cứu nhân giống một số dòng tếch
(Tectona grandis Linn) bằng ph-ơng pháp nuôi cấy
in vitro

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60


Nguyên nh-: Đồng Nai, Bình Ph-ớc, Tây Ninh, Đắc Lắc, Gia Lai, Kom
TumNhưng do chưa có giống được cải thiện nên chất lượng rừng không
cao, năng suất rừng trồng Tếch ở n-ớc ta còn thấp (9 12m3/ năm) [17]. Hiện
nay, diện tích rừng Tếch trồng mới của các n-ớc trên thế giới mỗi năm tăng
nhanh, nhiều nhất là ở Indonesia khoảng 1.760 nghìn ha, ấn Độ khoảng 2.450
nghìn ha, Myanmar là 139 nghìn ha, Malaysia khoảng 4 nghìn ha, Thái Lan là


2

836 nghìn ha [29]. ở Việt Nam, diện tích trồng Tếch chỉ đạt 1.500 ha, rất ít so
với các n-ớc trong khu vực do nhiều nguyên nhân khác nhau mà thiếu giống
đ-ợc cải thiện là một trong những nguyên nhân quan trọng.
Chính vì thế công tác chọn tạo và nhân giống một số dòng tếch có năng
suất cao là vấn đề cần thiết. Hiện nay, cây giống sản xuất từ hạt đ-ợc sử dụng
phổ biến nh-ng không đáp ứng đ-ợc nhu cầu trồng rừng do không có rừng
giống chuyên canh, hạt giống thu hái xô bồ nên phẩm chất hạt kém. Hơn nữa
cách nhân giống này còn gây ra hiện t-ợng phân ly tính trạng vì thụ phấn tự
do làm cho cây trồng không đồng đều dẫn đến năng suất rừng biến động. Một
khó khăn nữa là năng suất hạt trên một cây cũng rất thấp (1 ha rừng 15 tuổi
chỉ cho khoảng 50 kg hạt). Không những thế, hạt Tếch trong tự nhiên có khả
năng nảy mầm thấp, trong v-ờn -ơm tỷ lệ nảy mầm cũng không cao, chỉ đạt
khoảng 5-10% [28] [42]. Để khắc phục những nh-ợc điểm trên thì giải pháp
nhân giống sinh d-ỡng ngày càng đ-ợc quan tâm. Tuy nhiên đối với loài Tếch
thì ph-ơng pháp nhân giống vô tính bằng hom cũng gặp nhiều khó khăn do tỷ
lệ ra rễ không cao chỉ đạt khoảng 24-30% [3]. Chính vì những lý do trên nên
giải pháp nhân giống sinh d-ỡng bằng nuôi cấy mô tế bào đang đ-ợc quan
tâm nghiên cứu. Nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào, còn gọi là
nhân giống in vitro, là ph-ơng pháp sản xuất cây con từ chồi v-ợt của cây mẹ
bằng cách nuôi cấy chúng trong ống nghiệm, ở điều kiện vô trùng tuyệt đối

thể thực vật: nuôi cấy phôi.
Nuôi cấy mô bắt nguồn từ cơ quan thực vật: nuôi cấy mô hay nuôi cấy
mô sẹo.
Nuôi cấy tế bào đơn lẻ hay các cụm tế bào rất nhỏ trong môi tr-ờng lỏng.
Nuôi cấy tế bào thực vật sau khi đã tách bỏ vỏ tế bào, còn gọi là nuôi
cấy tế bào trần (protoplast) [14].
1.1.2. Cơ sở khoa học của của nuôi cấy mô tế bào
* Tính toàn năng (totipotence)
Năm 1902 lần đầu tiên nhà thực vật học ng-ời Đức Haberlandt đã đ-a
ra quan niệm: Mỗi tế bào bất kỳ (đã biệt hoá) lấy từ một cơ thể thực vật đều
có khả năng tiềm tàng để có thể phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Theo


4

quan niệm của sinh học hiện đại thì mỗi tế bào riêng rẽ đã biệt hoá đều chứa
toàn bộ thông tin di truyền (ADN) cần thiết của cơ thể đó, nếu gặp điều kiện
thích hợp thì mỗi tế bào đều có khả năng phát triển thành một cơ thể hoàn
chỉnh, đó là tính toàn năng của tế bào thực vật.
Tính toàn năng của tế bào chính là cơ sở lý luận của nuôi cấy mô tế bào
thực vậy. Cho đến nay, con ng-ời đã hoàn toàn chứng minh đ-ợc khả năng tái
sinh một cơ thể thực vật hoàn chỉnh từ một tế bào riêng rẽ.
* Sự phân hoá và phản phân hoá tế bào
Cơ thể thực vật tr-ởng thành là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều
cơ quan chức năng khác nhau, trong đó có nhiều loại tế bào khác nhau thực
hiện các chức năng cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các loại tế bào đó đều
bắt nguồn từ tế bào phôi sinh.
Sự phân hoá tế bào là sự chuyển hoá các tế bào phôi sinh thành các tế
bào của các mô chuyên hoá đảm nhận các chức năng khác nhau của cơ thể.
Quá trình phân hoá có thể biểu thị nh- sau:

một số gen bị ức chế đ-ợc hoạt hoá trở lại để tạo ra tính trạng mới, một số gen
khác lại bị đình chỉ hoạt động. Điều này xảy ra theo một ch-ơng trình đã đ-ợc
mã hoá trong cấu trúc phân tử ADN ở mỗi tế bào. Mặt khác, khi tế bào nằm
trong một khối mô của cơ thể, nó th-ờng bị ức chế bởi các tế bào ở xung
quanh. Khi tế bào đ-ợc tách riêng ra, gặp điều kiện thuận lợi thì các gen đ-ợc
hoạt hoá, quá trình này sẽ diễn biến theo một ch-ơng trình đã định sẵn trong
bộ gen đó.
1.2. Các giai đoạn chính trong quá trình nhân giống in vitro
1.2.1. Giai đoạn chuẩn bị
Mục đích của giai đoạn chuẩn bị nhằm tạo ra nguồn mẫu sạch để phục
vụ cho các b-ớc tiếp theo. Giai đoạn này coi nh- một b-ớc thuần hoá vật liệu
để nuôi cấy. Cây giống đ-ợc đ-a ra khỏi nơi phân bố tự nhiên để chúng thích
ứng với môi tr-ờng mới, đồng thời giảm bớt khả năng nhiễm bệnh của của
mẫu nuôi cấy và chủ động trong công tác nhân giống. Trong tr-ờng hợp cần
thiết có thể làm trẻ hoá vật liệu giống.


6

1.2.2. Giai đoạn cấy khởi động
Mục đích của giai đoạn này là tạo ra các chồi mới từ các mô nuôi cấy.
Khi đã có nguồn nguyên liệu nuôi cấy, tiến hành lấy mẫu và xử lý trong
những điều kiện vô trùng. Ng-ời ta th-ờng dùng một số hoá chất nh- HgCl 2,
Ca(Ocl)2, H2O2 để khử trùng mẫu cấy. Tuỳ thuộc vào từng loại vật liệu mà
chọn hoá chất, nồng độ và thời gian khử trùng thích hợp. Về nguyên tắc, mô
nuôi cấy có thể là bất kỳ bộ phận nào của cây (thân, rễ, lá, hoa quả) nh-ng
theo Bhatt thì mô lấy từ các phần non của cây có khả năng nuôi cấy thành
công cao hơn mô lấy từ các bộ phận tr-ởng thành khác [29]. Vì vậy, ng-ời ta
th-ờng lấy chồi đỉnh hay chồi nách để nuôi cấy in vitro.
Ngoài ra, khi lựa chọn mô nuôi cấy cần chú ý tuổi sinh lý của mô càng

xuất hiện rễ và trở thành cây hoàn chỉnh. Môi tr-ờng tạo rễ đ-ợc giảm l-ợng
Cytokinin và tăng l-ợng Auxin để tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra rễ của chồi
cây. Ng-ời ta th-ờng dùng các chất NAA (Axit -naphtyl axetic), IBA (Axit
-indol butyric) và IAA (Axit -indol axetic) ở nồng độ 1mg/lít đến 5 mg/lít
để tạo rễ cho hầu hết các loài cây trồng. Giai đoạn này th-ờng kéo dài từ 2 4
tuần lễ, sau đó đ-ợc chuyển sang môi tr-ờng không có Auxin để rễ phát triển.
ở giai đoạn này cây con rất nhạy cảm với ẩm độ và bệnh tật do hoạt động của
lá và rễ mới phát sinh rất yếu, cây ch-a chuyển sang giai đoạn tự d-ỡng.
1.2.5. Đ-a cây ra môi tr-ờng tự nhiên
Đây là giai đoạn chuyển dần cây con từ ống nghiệm ra nhà kính rồi ra
ngoài trời. Cây mô đ-ợc chuyển từ môi tr-ờng dị d-ỡng sang môi tr-ờng tự
d-ỡng nên phải tập cho cây quen dần với môi tr-ờng tự nhiên, tránh sự thay
đổi đột ngột làm cây có thể sốc hoặc bị chết. Khi cây con đã cứng cáp và đạt
những tiêu chuẩn nhất định về chiều cao, số lá và số rễ thì đ-a ra ngoài giá
thể. Giá thể tiếp nhận cây in vitro phải đảm bảo tơi, xốp, thoáng n-ớc và sạch
bệnh. Phải giữ ẩm cho cây khi mới đ-a từ bình nuôi ra, cần duy trì độ ẩm trên
50% để cây con không mất n-ớc và làm giàn che để tránh ánh sáng quá mạnh.
Sau 2 3 tuần đ-a ra ngoài cây mô sẽ sinh tr-ởng ổn định, chăm sóc cây mô
t-ơng tự chế độ chăm sóc cây hom hoặc cây từ hạt.


8

1.3. Các nhân tố ảnh h-ởng tới quá trình nhân giống in vitro
1.3.1. Môi tr-ờng nuôi cấy
Trong nuôi cấy in vitro, môi tr-ờng nuôi cấy và điều kiện bên ngoài
đ-ợc xem là vấn đề quyết định sự thành bại của quá trình nuôi cấy. Môi
tr-ờng nuôi cấy đ-ợc xem là phần đệm để cung cấp các chất dinh d-ỡng cần
thiết cho sự tăng tr-ởng và phân hoá mô trong suốt qúa trình nuôi cấy in vitro.
Cho đến nay, đã có nhiều môi tr-ờng dinh d-ỡng đ-ợc tìm ra (MS 62,

+ Các nguyên tố đa l-ợng: là những nguyên tố khoáng nh-: N, P, K, S,
Mg, Ca cần thiết và thay đổi tuỳ đối t-ợng nuôi cấy. Nhìn chung, các nguyên
tố này đ-ợc sử dụng ở nồng độ trên 30ppm. Các nguyên tố này có chức năng
cung cấp nguyên liệu để mô hoặc tế bào thực vật xây dựng thành phần cấu
trúc hoặc giúp cho quá trình trao đổi chất giữa tế bào thực vật với môi tr-ờng
đ-ợc thuận lợi. Có nhiều môi tr-ờng với thành phần, tỉ lệ các chất khác nhau,
chúng ta có thể lựa chọn để sử dụng. Nói chung, môi tr-ờng giàu Nitơ thích
hợp cho việc hình thành chồi, còn môi tr-ờng giàu Kali sẽ thúc đẩy quá trình
trao đổi chất mạnh hơn. Thành phần khoáng của một môi tr-ờng cấy đ-ợc xác
định do sự cân bằng nồng độ của những ion khác nhau trong dung dịch (nồng
độ ion thể hiện bằng mg/lít). Việc lựa chọn thành phần và hàm l-ợng khoáng
cho một đối t-ợng nuôi cấy là rất khó đòi hỏi ng-ời làm công tác nuôi cấy mô
phải có những hiểu biết cơ bản về sinh lý thực vật đối với dinh d-ỡng khoáng.
+ Nhóm các nguyên tố vi lượng:Fe, Cu, Zn, Mg, Mo, B, Co, I là các
nguyên tố rất quan trọng và không thể thiếu cho sự phát triển của mô và tế bào
do chúng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của enzym. Chúng đ-ợc
dùng ở nồng độ thấp hơn nhiều so với các nguyên tố đa l-ợng để đảm bảo sinh
tr-ởng và phát triển bình th-ờng của cây [25].
+ Các Vitamin: Mặc dù cây in vitro có thể tự tổng hợp vitamin, nh-ng
không đủ cho nhu cầu (czocnowoki 1952). Do đó, để cây sinh tr-ởng tối -u
một số vitamin nhóm B đ-ợc bổ sung vào môi tr-ờng với l-ợng nhất định tuỳ
theo từng hệ mô và giai đoạn nuôi cấy. Các vitamin B1 (Thiamin) và B6


10

(pyrodoxal) là những vitamin cơ bản nhất th-ờng dùng trong môi tr-ờng nuôi
cấy với nồng độ thấp khoảng 0.1 1mg/lít [13].
+ Dung dịch hữu cơ có thành phần không xác định nh- n-ớc dừa, dịch
chiết nấm men được bổ sung vào môi trường có tác dụng kích thích sinh

Trong các chất này thì Kinetin và BAP đ-ợc sử dụng phổ biến nhất vì chúng
có hoạt tính cao và giá thành rẻ. Tuỳ vào từng hệ mô và mục đích nuôi cấy mà
Cytokinin đ-ợc sử dụng ở các nồng độ khác nhau. ở nồng độ thấp (10-7-106

M) chúng có tác dụng kích thích sự phân bào, ở nồng độ 10 -6-10-5M chúng

kích thích sự phân hoá chồi. Trong nuôi cấy mô để kích thích sự nhân nhanh
ng-ời ta th-ờng xử dụng Cytokinin với nồng độ 10-6-10-4M [2].
+ Gibberellin: Nhóm này có khoảng 50 loại hormone khác nhau nh-ng
quan trọng nhất là GA3 (Gibberellic Axit 3). GA3 có tác dụng kích thích nảy
mầm của các loại hạt khác nhau, kéo dài các lóng đốt thân cành. Bên cạnh đó
GA3 còn có tác dụng phá ngủ các phôi, ức chế tạo rễ phụ (Picrik-1987) cũng
nh- tạo chồi phụ (Street-1973) [43]. Ngoài ra, nó còn ảnh h-ởng đến sự ra hoa
của một số thực vật và có tác dụng rút ngắn thời gian sinh tr-ởng sinh d-ỡng
của cây.
+ Abscisic Axit (ABA): là chất ức chế sinh tr-ởng tự nhiên nh-ng vẫn
đ-ợc dùng trong nuôi cấy tế bào in vitro. ABA có ảnh h-ởng âm tính đến mô
nuôi cấy in vitro. Khi ABA t-ơng tác với BAP cho hệ số nhân chồi cao hơn
khi dùng BAP riêng rẽ [2].
+ Ethylen: Có biểu hiện tác động hai chiều, nó kìm hãm sự hình thành
chồi ở giai đoạn sớm nh-ng lại kích thích sự phát triển chồi ở giai đoạn muộn.
Trong một số tr-ờng hợp, Ethylen có tác dụng kích thích hình thành rễ nh-ng
một số tr-ờng hợp nó lại kìm hãm quá trình này [25].
Ngoài ra, cần phải chú ý tới độ pH của môi tr-ờng ví nó ảnh h-ởng khá
rõ nét tới khả năng hoà tan các chấy khoáng trong môi tr-ờng, sự ổn định của
môi tr-ờng, khả năng hấp thụ chất dinh d-ỡng của cây. Nếu pH thấp (7.0) đều gây ức chế sinh tr-ởng, phát triển của cây trong nuôi cấy
in vitro. Nên việc xác định đ-ợc độ pH ban đầu của môi tr-ờng cho quá trình





13

ra nhiều tế bào không có tổ chức. Trong nuôi cấy mô, nhiệt độ th-ờng đ-ợc duy trì
ổn định, ban ngày từ 25 - 28 OC và ban đêm từ 17 - 20 OC.
+ Độ ẩm: Trong các bình nuôi cấy thì độ ẩm t-ơng đối th-ờng đạt
khoảng 100% nên ta không cần phải quan tâm nhiều đến vấn đề độ ẩm khi
nuôi cấy.
1.3.4. Vật liệu nuôi cấy
Việc lựa chọn vật liệu nuôi cấy quyết định đến sự thành bại của quá
trình nhân giống in vitro. Về nguyên tắc thì mọi tế bào của các mô chuyên
hoá đều có tính toàn năng, nghĩa là đều có thể nuôi cấy thành công. Thực tế cho
thấy các loại tế bào và các loại mô khác nhau có mức độ nuôi cấy thành công
khác nhau. Một nguyên tắc cơ bản trong nuôi cấy mô tế bào là các tế bào làm
vật liệu nuôi cấy càng non thì khả năng nuôi cấy thành công càng cao. Nh- vậy,
tế bào và mô phôi non là triển vọng nhất, rồi đến các tế bào của đỉnh sinh
trưởng như: mô phân sinh đầu ngọn, đầu rễ, lá non, tượng tầng, sau đó là các
tế bào sinh dục nh- noãn bào và tế bào hạt phấn ở giai đoạn non [21] [22].
1.3.5. Điều kiện vô trùng
Đây là điều kiện cơ bản đầu tiên quyết định sự thành bại của quá trình
nuôi cấy in vitro. Nếu điều kiện này không đ-ợc đảm bảo thì mẫu nuôi cấy
hoặc môi tr-ờng sẽ bị nhiễm, mô nuôi cấy sẽ bị chết, các thí nghiệm ở giai
đoạn sau sẽ bị ngừng lại. Do đó, trong toàn bộ quá trình nuôi cấy in vitro cần
đảm bảo điều kiện vô trùng tuyệt đối. Muốn đảm bảo điều kiện vô trùng cần có
ph-ơng pháp khử trùng mẫu thích hợp, ph-ơng tiện khử trùng hiện đại, buồng
và bàn nuôi cấy vô trùng. Chọn đ-ợc đúng ph-ơng pháp khử trùng sẽ cho tỷ lệ
sống cao, môi tr-ờng dinh d-ỡng thích hợp sẽ đạt tốc độ sinh tr-ởng nhanh.



15

1.4. ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật trong công tác giống cây rừng
1.4.1. Trên thế giới
Hiện nay, nuôi cấy in vitro đã và đang đ-ợc ứng dụng rộng rãi trong sản
xuất th-ơng mại ở nhiều n-ớc trên thế giới, hàng trăm loài cây lá rộng và hàng
chục loài cây lá kim đã đ-ợc nuôi cấy mô thành công. Cho tới năm 1991, Thái
Lan đã nhân giống in vitro thành công cho 55 loài trong tổng số 67 loài tre
trúc thử nghiệm. Công nghệ này cho phép nhân nhanh loài Dendrocalamus
asper với số l-ợng khoảng 1 triệu cây mỗi năm đáp ứng đ-ợc nhu cầu cây con
phục vụ cho trồng rừng [15].
Số l-ợng các loài Bạch đàn đã đ-ợc nhân giống bằng ph-ơng pháp nuôi
cấy in vitro ngày càng tăng, đến năm 1987 đã có trên 20 loài Bạch đàn khác
nhau đ-ợc nuôi cấy thành công. Các nhà khoa học ấn Độ thành công trong
việc tạo cây mô từ các cây trội Bạch đàn Eucalyptus camandulensis, E.
globulus, E. tereticornis, E. torelliana. Cây mô có nguồn gốc từ cây -u việt
sinh tr-ởng nhanh gấp 3 lần và đồng đều hơn là cây mọc từ hạt của cùng cây
mẹ. Tại Autralia, nhân giống in vitro đã đ-ợc áp dụng để nhân nhanh cho các
cây đ-ợc chọn cho tính chịu mặn trong đất và đang đ-ợc đ-a vào sản xuất trên
quy mô lớn cho loài E. camandulensis.
Trung Quốc là một n-ớc thành công trong việc tạo cây in vitro cho các
loài cây thân gỗ. Đến nay đã có hơn 100 loài cây thân gỗ đ-ợc nuôi cấy nhDương, Bạch đàn, Tếch, Bao đồng Là một trong những nước ứng dụng sớm
và thành công nuôi cấy mô vào trồng rừng trên diện rộng. Đến năm 1991 ở
vùng Nam Trung Quốc, ng-ời ta đã tạo ra trên 1 triệu cây mô của các cây và
các dòng lai đ-ợc chọn lọc. Những cây mô này đ-ợc dùng nh- là những cây
đầu dòng để tạo cây hom tại các v-ờn -ơm địa ph-ơng và dùng thẳng vào
trồng rừng [14].


16


17

đ-ợc 500 cây in vitro từ một chồi ở cây tr-ởng thành và 3000 cây từ một cây
non trong một năm. Kaosaard (1990) cho biết Thái Lan cũng phát triển thành
công kỹ thuật nuôi cấy mô vào năm 1986 cho cây Tếch và cho phép tạo ra
500.000 chồi từ một chồi trong một năm [28]. Perhutani (Indonesia, 1991) đã
thử nghiệm và nuôi cấy mô thành công đối với loài Tếch và một vài cây mô đã
đ-ợc đem trồng thử.
1.4.2. ở Việt nam
Những cơ sở hiện nay đang nhân giống bằng nuôi cấy mô ở quy mô lớn
trong Lâm nghiệp n-ớc ta là Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng, Viện
nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh, Công ty giống Lâm nghiệp trung
-ơng, Trung tâm khoa học sản xuất Lâm nghiệp Quảng Ninh, Xí nghiệp giống
Thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Lâm nghiệp, vv. Hiện nay, một số
tỉnh và địa ph-ơng đã thành lập phòng nuôi cấy mô để phục vụ cho công tác
giống cây trồng và đạt đ-ợc những thành công b-ớc đầu.
Nuôi cấy mô ở n-ớc ta đã áp dụng rộng rãi trong công tác nhân giống
một số giống Bạch đàn nhập nội, các dòng vô tính Bạch đàn lai và Keo lai có
năng suất cao. Cùng với những kết quả về cải thiện giống Trung tâm nghiên
cứu giống cây rừng đã nghiên cứu thành công kỹ thuật nuôi cấy in vitro cho
Keo lai, Bạch đàn và một số giống cây rừng khác [9].
D-ơng Mộng Hùng (1993) nghiên cứu bằng nuôi cấy mô cho hai loài
Bạch đàn E. camaldulensis và E. urophylla từ cây trội của 2 loài đã tạo đ-ợc
một số cây mô Bạch đàn với hệ số nhân chồi là 1-2 lần [5].
Năm 1995, Nguyễn Ngọc Tân và cộng sự cũng có nghiên cứu nhân
nhanh Keo lai bằng ph-ơng pháp nuôi cấy mô. Keo lai nuôi cấy trong môi
tr-ờng MS có bổ sung BAP 2mg/l cho hệ số nhân chồi cao hơn ở các nồng độ
khác từ 3-4 lần. Cây mô có thể cho ra rễ trực tiếp trên nền cát phun s-ơng
trong nhà kính bằng cách ngâm hoặc nhúng nhanh trong các chất kích thích

là môi tr-ờng MS cải tiến có bổ sung 30g/l đ-ờng + 8g/l Agar + 5mg/l BAP và


19

0.1mg/l NAA. Môi tr-ờng tạo rễ và cây con hoàn chỉnh tối -u là MS/2 + 20g/l
đ-ờng + 0.1mg/l NAA + 1.0g/l than hoạt tính [23]
Hồ Văn Giảng và cộng sự (2006) đã b-ớc đầu xây dựng qui trình nhân
giống cây Dó trầm băng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào. Môi tr-ờng thích hợp
nhất cho nhân chồi là MS cải tiến bổ sung 0,3mg/l BAP, 20g/l sucrose và 6g/l
agar cho hệ số nhân chồi đạt 4,2 chồi/cụm. Môi tr-ờng ra rễ thích hợp nhất là
WMP+0,3mg/l NAA+20g/l sucrose+6g/l agar tỷ lệ ra rễ đạt 88,7% và cây mô
sống đạt 98% khi đ-a ra v-ờn -ơm [4].
1.5. Loài Tếch ( Tectona grandis Linn)
1.5.1. Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học
* Đặc điểm sinh vật học
Tếch (Tectona grandis Linn) là cây gỗ lớn, cao đến 40m, đ-ờng kính
có thể lên tới 100cm. Thân có múi, gốc có bạnh vè, vỏ màu xám vàng, cành
non vuông cạnh phủ dày lông hình sao màu nâu vàng nhạt. Lá đơn mọc cách
đối, lá hình trái xoan, hình trứng đầu nhọn, đuôi men cuống, dài 20 60cm,
rộng 20 40cm mặt trên nhẵn mặt d-ới phủ lông hình sao màu vàng nhạt,
cuống lá dài gần 5cm, không có lá kèm.
Hoa tự hình viên chuỳ khá lớn, dài 40cm đ-ờng kính trên 35cm. Hoa có
lá bắc nhỏ hình l-ỡi mác. Hoa nhỏ, đài hình chuông mép có 5 răng đều phía
ngoài phủ đầy lông. Tràng hoa màu trắng, ống dài 5 6mm, có 5 6 cánh
tràng gần tròn, phía ngoài cánh tràng có phủ lông và các tuyến nhỏ. Có 5 6
nhị hơi lộ ra ngoài. Bầu hình nón, vòi ngắn, đầu nhuỵ xẻ đôi.
Quả hạch hình cầu, đ-ờng kính quả gần 2cm, phủ lông hình sao. Đài
phát triển bao kín quả. Mỗi quả có từ 1- 2, đôi khi 3 4 hạt [1]
* Đặc điểm sinh học và sinh thái học

D-ơng lên tới 25 triệu hecta [29].
Năm 1989 sản l-ợng xuất khẩu gỗ Tếch của Indonesia là 46000m3 đạt
doanh thu 29,4 triệu USD. Thái Lan cũng đạt mức xuất khẩu gỗ Tếch là
97000m3 vào năm 1980. Năm 1992, ở Sabah (Malaysia) chỉ với 12m3 gỗ Tếch


21

xuất khẩu đã thu đ-ợc 4600 USD trung bình đạt 383USD/m3. Tại Myanma,
trong năm 2000 đã có 470.356 m3 gỗ Tếch đ-ợc khai thác, chiếm 25% tổng
sản phẩm gỗ của n-ớc này (Saw Eh Dah, 2004)[41].
Giá gỗ Tếch thay đổi dựa vào chất l-ợng, đ-ờng kính, tuổi và xuất xứ
gỗ. Giá cao nhất là 2000USD/m3 cho gỗ có nguồn gốc từ Myama dùng để
đóng bàn ghế. Gỗ tỉa th-a và gỗ nhỏ từ các rừng trồng nh- từ Trung Mỹ có giá
thấp nhất vào khoảng 200USD/m3. Gỗ có đ-ờng kính lớn hơn 40cm có giá
bán 300USD. Gỗ 25 năm đã chọn lựa có giá vào khoảng 600USD/m3, trong
một vài tr-ờng hợp giá có thể nên tới 900USD/m3, trong khi đó ở Braxin giá
bán gỗ lớn (ví dụ cây dái ngựa) có đ-ờng kính trên 80 cm cũng chỉ đạt 2560USD/m3 [41].
Vì có giá trị kinh tế cao nên Tếch đ-ợc quan tâm phát triển ở các
n-ớc trên thế giới. ở Thái Lan ch-ơng trình cải thiện giống Tếch đã đ-ợc
thực hiện từ năm 1982 với các khâu từ khảo nghiệm, bảo quản hạt, nhân
giống bằng giâm hom,

kỹ thuật lâm sinh

và khảo nghiệm hậu thế

(Verapong Suangtho, Sunanta Kajornsrichon, Tawin Kusolkul) [33] [35].
Indonesia cũng bắt đầu có những nghiên cứu về nhân giống sinh d-ỡng
(S.N. Widiyanto). Ngoài ra các công trình cải thiện giống Tếch cũng đ-ợc

Năm 1990-1995, tại rừng trồng Tếch ở Là Ngà (Đồng Nai), Hoàng
Ch-ơng và cộng sự đã tiến hành b-ớc đầu chọn lọc đ-ợc 36 cây trội và xây
dựng v-ờn giống bằng ph-ơng pháp ghép cho các cây trội này nh-ng ch-a đạt
đ-ợc kết quả mong muốn.
Trần Văn Sâm (1996 - 2000) lại tiếp tục tiến hành chọn giống Tếch cho
vùng Nam Bộ và Tây Nguyên. Tác giả đã chọn lọc đ-ợc 31 cây trội, các cây
trội này có độ v-ợt về chiều cao vút ngọn và đ-ờng kính ngang ngực từ 1.40
đến 3.08. Tác giả cũng đã tiến hành xây dựng v-ờn giống từ cây ghép tại Bầu
Bàng và Kon Hà Nừng tuy nhiên ch-a thấy có sự khác biệt lớn giữa các dòng
về đ-ờng kính và chiều cao. Bên cạnh đó tác giả đồng thời tiến hành thí
nghiệm nhân giống bằng giâm hom cho Tếch nh-ng kết quả ch-a cao và cũng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status