ii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian 2 năm học tập tại nhà trường, để chuẩn bị cho Luận văn
thạc sĩ, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Hoàng Văn Sâm tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân địa phương
trong sử dụng và phát triển rau rừng tại tỉnh Lào Cai”.
Luận văn được hoàn thành với sự cố gắng và nỗ lực của bản thân tôi.
Ngoài ra, tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo,
bạn bè ở trường Đại học Lâm Nghiệp và cán bộ, công nhân viên kiểm lâm
tỉnh Lào Cai, cùng với cộng đồng nhân dân địa phương đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực tập để điều tra và thu thập số liệu.
Qua đây, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thày cô giáo
trường Đại học Lâm Nghiệp - những người đã trực tiếp truyền thụ kiến thức
và giảng dạy tôi trong 2 năm học vừa qua. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc đến thầy giáo, TS. Hoàng Văn Sâm là người trực tiếp đã hướng dẫn tận
tình, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt Luận văn này. Tôi xin cảm ơn Chương trình
nghiên cứu sinh kế vùng cao (thông qua đề tài nghiên cứu của TS. Hoàng Văn
Sâm) đã hỗ trợ tôi trong quá trình làm Luận văn thạc sĩ này.
Với thời gian và năng lực có hạn, Luận văn của tôi chắc chắn sẽ không
tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định. Vì vậy, tôi rất mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để tiếp tục
hoàn thiện Luận văn của mình. Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính
toán là trung thực và được trính dẫn rõ ràng.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2011
Học viên
Tạ Quang Trung
iii
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 27
3.1. Khái quát điều kiện tự nhiên ................................................................ 27
3.2. Dân số, dân tộc, tổ chức hành chính .................................................... 28
3.3. Tài nguyên thiên nhiên ......................................................................... 29
3.4. Cơ sở hạ tầng ........................................................................................ 32
3.5. Nguồn lao động: ................................................................................... 35
3.6. Giáo dục và đào tạo..............................................................................36
3.7. Y tế.......................................................................................................36
Chương 4: K ẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ..................................... 37
4.1. Thành phần rau rừng tại khu vực nghiên cứu ...................................... 37
4.1.1. Đa dạng về loài.............................................................................. 37
4.1.2. Đa dạng về họ................................................................................ 38
4.1.3. Đa dạng về chi ............................................................................... 40
4.1.4. Đa dạng về dạng sống ................................................................... 41
4.1.5. Đa dạng về bộ phận sử dụng ......................................................... 42
4.2. Kiến thức bản địa trong sử dụng rau rừng ........................................... 44
4.2.1. Vai trò của rau rừng đối với đời sống của người dân ................... 44
4.2.2. Tình hình sử dụng rau rừng ........................................................... 45
4.2.3. Một số kiến thức bản địa trong xử lý rau rừng ............................. 50
4.2.4 Tình hình khai thác, sử dụng và gây trồng rau rừng. ..................... 51
4.3. Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống một loài rau rừng có giá trị trong khu
vực nghiên cứu ................................................................................................ 52
4.3.1. Đặc điểm sinh học, sinh thái của Bò khai ..................................... 52
4.3.2. Kết quả giâm hom ......................................................................... 54
4.3.3. Kỹ thuật nhân giống bằng hom cây Bò khai ................................. 57
4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn phát triển rau rừng tại địa phương. 60
Một số họ có số loài nhiều nhất
39
4.4
Mười chi có nhiều loài nhất
40
4.5
Đa dạng về dạng sống
42
4.6
Mười bộ phận được sử dụng nhiều trong rau ăn
43
4.7
Số lượng loài rau ăn theo dân tộc sử dụng
45
4.8
4.01
Cây Bò khai mới trồng
56
4.02
Cây Bò khai mọc ở rừng
56
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là quốc gia nằm ở khu vực nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của khí
hậu nhiệt đới ẩm gió mùa kết hợp với địa hình phức tạp nên Việt Nam có hệ
thực vật rất đa dạng và phong phú với những nét đặc trưng riêng. Đất nước ta
thuộc mỏm phía Đông Nam của lục địa Á - Âu, với bờ biển dài khoảng 3.300
km, nước ta nằm trên đường di cư của nhiều khu hệ thực vật khác nhau. Theo
ước tính, hệ thực vật nước ta có khoảng 1.500 loài, có tác dụng về nhiều mặt
như lấy gỗ, làm dược liệu, làm lương thực, thực phẩm...trong đó có khoảng
300 loài có thể ăn được và được người dân sử dụng như một loài rau trong
bữa cơm gia đình.
Rau là thức ăn rất cần thiết cho cơ thể và không thể thiếu trong bữa ăn
hàng ngày của các gia đình Việt Nam. Các loại rau khác nhau có thể chế biến
thành các món ăn khác nhau, hay một loại rau cũng có thể chế biến thành các
món khác nhau tùy theo nhu cầu, khẩu vị ăn uống và sự khéo léo của mỗi
người. Rau không chỉ giúp chúng ta ăn ngon miệng hơn mà còn có các tác
là bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật nói chung và thực vật ăn được nói
riêng.
Lào Cai là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Tây Bắc của nước ta, gồm
nhiều dân tộc sinh sống. Đây cũng là địa phương có nhiều người dân sống
phụ thuộc vào tài nguyên rừng, trong đó có rau rừng. Bên cạnh đó, những
kiến thức bản địa rất phong phú trong việc sử dụng tài nguyên rừng cũng là
chủ đề hấp dẫn các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý. Để góp phần gìn
giữ và phát triển nguồn tri thức bản địa và tài nguyên rau rừng tại địa phương
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu kiến thức bản địa của người
dân địa phương trong sử dụng và phát triển rau rừng tại tỉnh Lào Cai”.
4
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên rất gần gũi với người dân sống
trong rừng và gần rừng. Ngày nay, lâm sản ngoài gỗ cũng là đối tượng để đáp
ứng nhu cầu của người tiêu dùng nói chung. Lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều
giá trị đối với kinh tế, xã hội và môi trường của nước ta. Đặc biệt, đối với
người dân miền núi, lâm sản ngoài gỗ là nguồn lương thực, thực phẩm bổ
sung cho cuộc sống hàng ngày, làm thức ăn cho gia súc và còn là nguồn dược
liệu quý giá.
1.1. Về sử dụng rau rừng
Rau rừng là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các loài thực vật có thể sử
dụng làm rau ăn hàng ngày. Rau rừng là một nhóm sản phẩm của lâm sản
ngoài gỗ. Theo tổ chức Lương nông Liên hợp quốc (FAO) - 1999: “Lâm sản
ngoài gỗ bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai
thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”. Cho đến nay, lâm sản
ngoài gỗ (LSNG) nói chung và rau rừng nói riêng vẫn có rất nhiều giá trị đối
quan tâm. Những loài này chỉ được biết đến như một thành phần của hệ sinh
thái tự nhiên. Trong khi đó, việc tìm hiểu chúng thông qua kiến thức cộng
đồng là rất hạn chế.
Đứng trước nguy cơ suy thoái tài nguyên rừng, mối quan hệ giữa cộng
đồng với tài nguyên rừng từng bước được xem xét một cách toàn diện. Tất cả
đều dẫn tới câu trả lời chung: Muốn bảo tồn tài nguyên rừng cần có sự hỗ trợ
đắc lực của cộng đồng dân cư sống trong rừng và gần rừng. Gắn chặt lợi ích
của họ với rừng, đồng thời sử dụng kiến thức của họ cho chính nơi họ sinh
sống. Vấn đề này được đặc biệt quan tâm tại các nước kém phát triển - đa số
các nước này thuộc vùng nhiệt đới, tài nguyên rừng hết sức phong phú. Các tổ
chức phi chính phủ và các nước phát triển hỗ trợ và đầu tư cho các dự án
nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ để tìm hướng phát triển cho các cộng đồng. Kiến
thức bản địa rất được quan tâm, được trở thành mục đích nghiên cứu của
nhiều dự án phát triển cộng đồng.
1.1.2. Nghiên cứu rau rừng tại Đông Dương
6
Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ được bắt đầu từ khi người Pháp thiết
lập chính quyền đô hộ tại Đông Dương. Họ đã áp dụng hình thức quản lý của
Châu Âu đối với nghề rừng tại đây, đồng thời tiến hành nghiên cứu khoa học.
Kết quả của hàng loạt các chuyến khảo sát do chuyên gia Pháp thực hiện là
những cuốn sách về hệ thực vật và các sản vật của Đông Dương. Chúng ta có
thể kể đến các nghiên cứu sau:
-“Những ghi chép về những sản phẩm chủ yếu của Đông Dương” (Notes
sur les principaux produits de L’Indochine - Saigon 1900) của tác giả
A.Chevalier.
-“Thực vật chí Đông Dương” do Lecomte (1907 - 1952) chủ biên.
Và một số tác phẩm khác có đề cập tới thực vật được sử dụng làm rau
Ngay sau năm 1954, nước ta bắt đầu có sự đầu tư nghiên cứu và khai
thác lâm sản. Nhưng mục tiêu trong giai đoạn này là các cây gỗ và sản phẩm
từ gỗ.
Năm 1974, “Phân viện Đặc sản rừng” được chuyển việc quản lý trực
tiếp từ Viện Lâm nghiệp sang Tổng công ty Lâm đặc sản đã đánh dấu sự bắt
đầu nhận thức của nước ta về việc quan tâm tới lâm sản ngoài gỗ và đặt chúng
ngang bằng với các lâm sản là gỗ. Tuy nhiên, mối quan tâm trong giai đoạn
này là các sản phẩm cho giá trị kinh tế cao như: Dược liệu, sản phẩm của cây
công nghiệp,… Rau rừng dường như rất ít được đề cập.
Năm 1995, “Phân viện Lâm đặc sản” được trở về Viện Khoa học Lâm
nghiệp và được đổi tên thành “Trung tâm nghiên cứu đặc sản rừng” cho tới nay.
Tổng cục Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam đã biên soạn cuốn
“Rau rừng” - nhà xuất bản Quân đội, bước đầu nghiên cứu một số loại rau
rừng. Cuốn sách tổng kết lại theo kinh nghiệm sử dụng rau rừng của người
lính trong 30 năm sống và chiến đấu trong rừng. Trong đó, 150 loài đã được
mô tả với 56 loài có thể sử dụng trực tiếp, 36 loài phải qua chế biến, 11 loài
ăn quả, 10 loài làm nước uống.
Gần đây, lâm sản ngoài gỗ nhận được sự quan tâm từ nhiều hướng.
Ngoài những nỗ lực nghiên cứu của các chuyên gia trong nước, còn được sự
hỗ trợ cả về tài chính, vật chất cũng như con người của các tổ chức phi chính
phủ, các quốc gia phát triển. Lâm sản ngoài gỗ đã trở thành một môn học của
8
các trường trong khối Nông - Lâm - Ngư nghiệp. Hệ thống bài giảng luôn
được cập nhật các thông tin mới nhất. Trong cuốn giáo trình “Lâm sản ngoài
gỗ” xuất bản năm 2009 - Nhà xuất bản Nông nghiệp, nhóm tác giả Đại học
Lâm nghiệp đã thống kê 6 nhóm lâm sản ngoài gỗ. Trong đó, nhóm thực
phẩm có nguồn gốc thực vật như chồi, lá, hoa, quả, hạt, nấm…gồm 30 loài.
hiểu thành phần, dạng sống, bộ phận sử dụng, kinh nghiệm sử dụng cây bản
địa làm rau ăn tại xã Cộng Hoà - thị xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh”; Bùi
Quang Dũng, 2007: Chuyên đề tốt nghiệp “Điều tra thành phần, dạng sống,
bộ phận sử dụng, kinh nghiệm chế biến và sử dụng rau rừng của đồng bào
dân tộc Thái xã Nghĩa An - thị xã Nghĩa Lộ - tỉnh Yên Bái”; Lường Văn
Bằng, 2006: Chuyên đề tốt nghiệp “Nghiên cứu thành phần, dạng sống, bộ
phận sử dụng của các loài cây bản địa tự nhiên làm rau ăn cung cấp cho
đồng bào dân tộc Thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha - Mộc Châu Sơn La”; Khóa luận “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong khai thác và sử
dụng rau rừng ở Điện Biên” của sinh viên Nguyễn Thị Chiều, 2010 đã tìm
hiểu được 71 loài thực vật tự nhiên làm rau ăn thuộc 42 họ, 3 ngành. Cũng nội
dung như vậy là đề tài “Tìm hiểu thành phần loài, dạng sống, công dụng, bộ
phận sử dụng, cách chế biến các loại rau rừng của đồng bào dân tộc Thái tại
xã Bắc Sơn - huyện Quỳ Hợp - tỉnh Nghệ An làm cơ sở cho việc tổ chức bảo
tồn các loài rau rừng” đã đề cập tới 2 nội dung chính đó là kiến thức của
đồng bào dân tộc trong sử dụng rau rừng và vấn đề bảo tồn các loài rau. Đó là
điểm mới của đề tài. Trong đề tài này, tác giả đã thống kê được 221 loài thuộc
80 họ được đồng bào dân tộc Thái sử dụng. Cũng như việc mô tả sinh thái,
phân loại bộ phận sử dụng, cách chế biến của loài. Nhưng đề tài này tỏ ra
quan tâm tới các loài rau trong gia đình, mặt khác chưa đưa ra được tiêu chí
cũng như đề xuất hướng bảo tồn rau địa phương. Đề tài “Đánh giá tính đa
dạng và tình hình khai thác, sử dụng rau rừng tại khu vực Mường Chà, tỉnh
Điện Biên” của sinh viên Lữ Khăm Phon, 2010 đã phát hiện được 189 loài
thuộc 77 họ, 155 chi của 6 ngành thực vật có thể làm rau để ăn, đề tài còn lựa
chọn được 12 loại cây được đánh giá là có tiềm năng nhất để phát triển trong
tương lai.
1.2. Về nhân giống
10
11
các chi Malus sp, Prunus sp, …thuộc họ Rosaceae, một số chi khác như
Aesculus sp, Bauhinia sp, Sapindus sp,…; nhóm có khả năng ra rễ trung bình
gồm 65 loài trong đó có các chi Eucaluptus sp, Quercus sp, Grewilia sp,
Taxus sp,….
+ Năm 1974, Martin và Quillet làm thí nghiệm cho cây Limba
(Terminalilia superb) và thấy rằng để nguyên 2 - 4 lá trên thân thì tỷ lệ ra rễ là
63 - 75%, cắt 1 phần phiến lá có thể cho tỷ lệ ra rễ 88 - 100%, cắt vỏ lá thì
hom giâm hoàn toàn không ra rễ. Thí nghiệm cho E.deglupta các tác giả này
cũng thấy rằng để nguyên lá hoặc cắt 1 phần phiến lá thì hom có tỷ lệ ra rễ
100%, cắt bỏ lá thì hom hoàn toàn không ra rễ.
+ Năm 1983, Dansim nghiên cứu về ảnh hưởng của mức độ hóa gỗ đến
tỷ lệ ra rễ. Ở Bulo (Betula sp) cành hóa gỗ yếu cho tỷ lệ ra rễ 33%, cành nửa
hóa gỗ tỷ lệ ra rễ là 84%, cành đã hóa gỗ tỷ lệ ra rễ là 3,2%.
+ Năm 1995, Tureskaia nghiên cứu ảnh hưởng của các chất điều hòa
sinh trưởng đến quá trình ra rễ của hom Anh đào (Serasus sp), Nho (Vitis
vinifera) đã thấy rằng trong quá trình ra rễ, hoạt tính của những chất kìm hãm
ra rễ giảm xuống rất nhanh, còn những chất kích thích ra rễ lại được xuất hiện
và sử dụng.
- Các nhân tố ngoại sinh:
Komisarov (1964), nghiên cứu ảnh hưởng điều kiện sinh sống của cây mẹ
lấy cành qua thí nghiệm tổng hợp của ánh sáng, độ ẩm không khí và độ ẩm
đất đến tỷ lệ ra rễ của hom cây Sồi 1 tuổi và thu được kết quả: Hom lấy từ cây
trồng ở nơi có ánh sáng tán xạ yếu, độ ẩm không khí và độ ẩm đất cao có tỷ lệ
ra rễ 64 - 92%, trong gốc hom cắt từ cây trồng ở nơi có ánh sáng mạnh, độ ẩm
không khí và độ ẩm đất thấp chỉ có tỷ lệ ra rễ 44 - 68%; đối với cây 18 tuổi thì
dù mọc ở điều kiện nào cũng không ra rễ. Từ đó, tác giả nhận định là các điều
kiện cây trồng đã có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom lấy từ cây non, song
- 8 loài có hiệu quả âm.
Theo ông, những loài khi xử lý không có hiệu quả hoặc hiệu quả âm chủ
yếu là do tuổi quá cao (40 - 60 tuổi) hoặc thuộc nhóm khó ra rễ.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
13
Ở nước ta, từ những năm 1990 trở lại đây thì việc nhân giống từ hom đã
được đặc biệt quan tâm và chú trọng nghiên cứu. Có nhiều công trình nghiên
cứu về nhân giống hom như:
* Nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố đến ra rễ của hom giâm có:
- Các nhân tố nội sinh:
Năm 1990, Lê Đình Khả, Hoàng Thành Lộc, Phạm Văn Tuấn nghiên
cứu ảnh hưởng của tuổi cây mẹ lấy hom đối với khả năng ra rễ ở loài Mỡ
(Manglietica glauca) và đưa ra kết luận: hom từ cây Mỡ 1 tuổi, 3 tuổi và 20
tuổi có khả năng ra rễ tương ứng là 98%, 47% và 0%; cùng năm Lê Đình Khả
nghiên cứu vấn đề này đối với Thông đuôi ngựa thì hom của cây 10 tuổi có tỷ
lệ ra rễ 85 - 100%, hom của cây 20 tuổi có tỷ lệ ra rễ 10 - 20 %, còn hom của
cây 50 tuổi hoàn toàn không có khả năng ra rễ.
Năm 1996, Lê Đình Khả, Trần Xuân Cự, Lê Thị Xuân nghiên cứu ảnh
hưởng của đặc điểm di truyền loài đến khả năng ra rễ của loài Thông đỏ Pà
Cò (Taxus chinensis) và kết luận đây là loài dễ ra rễ, đến 40 - 50 tuổi tỷ lệ ra
ra rễ vẫn đạt 80 - 90%; Lê Đình Khả, Hoàng Thành Lộc, Phạm Văn Tuấn
nghiên cứu và đưa ra kết luận đối với loài Mỡ (Manglietica glauca) về vấn đề
này là: Mỡ là loài khó ra rễ, 5 tuổi chỉ ra 14%.
Năm 1996, Lê Đình Khả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi cành và vị trí
lấy cành ở Mỡ và Phi Lao. Kết quả thu được lấy cành ở cây Mỡ 20 tuổi thì
không ra rễ song chồi vượt của chúng lại có tỷ lệ ra rễ 75 - 85%; ở Phi Lao
cũng có kết quả tương tự, cành của cây 25 tuổi chỉ có khả năng ra rễ tối đa là
Năm 1984, Nguyễn Ngọc Tân đã cho biết tỷ lệ ra rễ ở hom chưa hoá gỗ
của cây Mỡ là 40% khi các hom này được xử lý 2.4D với nồng độ 50 ppm
trong 3 giây.
Năm 1986 - 1988, Lê Đình Khả và các đồng sự thử nghiệm giâm hom
cho cây Mỡ 1 năm tuổi và cho thấy trong số 4 chất kích thích ra rễ được sử
dụng thì công thức được xử lý với 2,4D nồng độ 50 ppm trong 3 giây và với
IAA nồng độ 50ppm ngâm trong 5 giờ cho tỷ lệ hom ra rễ thấp hơn IBA và
thấp nhất là NAA. Các tác giả cũng chỉ ra rằng, tuổi cây mẹ lấy cành cũng
ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ ra rễ của hom như: Cây 1 tuổi tỷ lệ ra rễ là 98,4%,
cây 2 tuổi tỷ lệ ra rễ là 51,5%, cây 4 tuổi tỷ lệ chỉ còn 14%.
15
Năm 1991, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành giâm hom cây Keo lá
tràm 5tuổi và đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất là 26,6% đối với chất IBA nồng độ
500ppm ngâm hom trong khoảng thời gian là 10 giây.
Năm 1992, Dương Mộng Hùng đã giâm hom thành công hom cành cây
Phi lao 16 - 18 tuổi với tỷ lệ ra rễ cao, đạt 76,6%, trong đó IBA có hiệu quả
cao hơn IAA.
Năm 1994, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thực nghiệm giâm
hom Thông đuôi ngựa 8 tuổi cho tỷ lệ ra rễ 100% khi xử lý với thuốc IBA 150
ppm ngâm trong 6 - 8 giờ. Trong khi hom cành cây 2 tuổi và 20 tuổi cho tỷ lệ
ra rễ kém hơn, còn cây 50 tuổi thì không ra rễ.
Năm 1995, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Cự tiến hành giâm hom cây
Thông đỏ tại Trạm Ba Vì. Sau 4 tháng giâm hom với một số chất như ABT,
IBA, IAA ở dạng bột nồng độ là 0,5; 1,0; 1,5 và 2% và thu được IBA 1% cho
kết quả tốt nhất là 100%.
Năm 1999, trong Đề án nghiên cứu bảo tồn gen cây rừng quý hiếm, tác
giả Nguyễn Hoàng Nghĩa tiến hành giâm hom cây Bách xanh 2 tuổi và 7 - 8
kiến thức bản địa của người dân địa phương trong sử dụng và phát triển
rau rừng tại tỉnh Lào Cai” để góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm sự hiểu
biết kiến thức bản địa về cây làm rau rừng ở Việt Nam, đồng thời, góp phần
vào gìn giữ và phát triển các loại rau có giá trị, phục vụ tốt hơn cho cuộc sống
của người dân địa phương và giải quyết vấn đề rau sạch hiện nay.
17
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được mức độ đa dạng rau rừng, cũng như những kinh nghiệm
bản địa trong sử dụng rau rừng. Từ đó, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển
rau rừng tại tỉnh Lào Cai.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực vật rừng làm rau ăn và kiến thức bản địa của người dân địa
phương trong sử dụng và phát triển rau rừng tại tỉnh Lào Cai.
2.3. Nội dung
Để đạt được mục tiêu đề ra cần thực hiện các nội dung sau:
- Nghiên cứu tính đa dạng tài nguyên rau rừng hiện có trong khu vực
nghiên cứu.
- Tìm hiểu kiến thức bản địa trong sử dụng và phát triển rau rừng tại
khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu trồng thử nghiệm một loài rau rừng có giá trị kinh tế cao
tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển rau rừng tại khu vực nghiên cứu.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Công tác ngoại nghiệp
vấn bộ phận sử dụng, cách thu hái, chế biến, công dụng loài đó. Trong 3
huyện Bắc Hà, Sa Pa, Bảo Thắng, lập các tuyến trên địa bàn huyện, trên tuyến
đi, quan sát cây rau ăn hai bên đường, chiều rộng tuyến quan sát là khoảng 10
m, mỗi bên tuyến là 5 m. Tôi đã xác định được tuyến điều tra cụ thể như sau:
- Tuyến 1: Huyện Sa Pa từ thị trấn Sa Pa đi các xã Tả Phìn, Lao Chải,
Thanh Kim, đi qua các dạng sinh cảnh chính sau: Nương rẫy, ruộng lúa, ven
suối, vườn thảo quả, rừng phục hồi sau nương rẫy, rừng nguyên sinh, rừng
trồng.
- Tuyến 2: Huyện Bảo Thắng từ thị trấn Phố Lu đi xã Xuân Quang, Gia
Phú, Sơn Hải, đi qua các dạng sinh cảnh chính sau: Nương rẫy, ruộng lúa, ven
19
suối, rừng phục hồi sau nương rẫy, rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng trồng,
làng bản.
- Tuyến 3: Huyện Bắc Hà từ thị trấn Bắc Hà đi Giàng Phố, Na Hối, Bảo
Nhai, đi qua sinh cảnh nương rẫy, rừng tự nhiên, ven suối, đỉnh giông.
Kết quả điều tra ghi vào mẫu biểu sau:
Biểu 01: Biểu điều tra tuyến
Tên tuyến.......................................Độ dài:..........................................................
Ngày điều tra:.................................Người điều tra:............................................
Người dẫn đường:...............................................................................................
Mô tả tuyến:........................................................................................................
Tên loài
TT
Tên
thông
thường
(4)
(5)
(6)
(7)
thu
hái
Bộ
phận
Ghi
sử
chú
dụng
(8)
(9)
(10)
(1) Ghi thứ tự cây điều tra.
(2) Tên phổ thông là tên gọi chung trong cả nước do người dân biết hoặc qua
Ngọn, lá non: Ng.lá non
Vỏ: V
Măng: M
(10) Ghi chú: Các yếu tố sâu bệnh vật hậu.
d) Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn những người dân có nhiều kinh nghiệm trong sử dụng rau
rừng tại địa phương. Đối tượng phỏng vấn là người già, phụ nữ, những người
chuyên vào rừng kiếm rau rừng.
Số lượng hộ hoặc người được phỏng vấn phải lớn hơn hoặc bằng 30 và
phải phân bố rải đều trong khu vực nghiên cứu.
Lập danh sách các hộ được phỏng vấn:
Họ tên
STT
Tuổi
Nghề nghiệp
Thôn (Bản)
Xã
Dân tộc
1
2
Kết quả phỏng vấn ghi vào mẫu biểu sau:
mọc
dụng
Cách Mùa
sử
khai
dụng
thác
Kỹ
Kỹ
Tình
thuật
thuật
trạng
Gây
khai
sơ
người dân sử dụng làm rau ăn (có nguồn gốc tự nhiên) theo mẫu sau:
Biểu 03: Danh lục các loài rau rừng được sử dụng tại địa phương
Tên loài
STT
(1)
Tên
Tên
thông
khoa
thường
học
(2)
(3)
Bộ
Tên địa
phương
(4)
Dạng