PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THCS
HỌ VÀ TÊN :
Năm Học : 2016 – 2017
1
DẠY PHÁT ÂM TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Bước vào thế kỷXXI, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật
đạt đến những đỉnh cao mới. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến các lĩnh vực khác
đặc biệt là giáo dục. Vì thế phải có những biện pháp, những bước tiến phù hợp để
hoà nhịp với tốc độ phát triển đó.Hiện nay nền giáo dục của nước ta đã có nhiều
thay đổi lớn, đó là việc chúng ta giáo dục các em, không chỉ bằng cách truyền thụ
cho các em những kiến thức trong sách giáo khoa, mà còn tạo điều kiện để các
em mở rộng vốn kiến thức và kích thích khả năng sáng tạo của học sinh.Hơn nữa,
Bộ giáo dục đang thực hiện chương trình sách giáo khoa với những nội dung sinh
động và nhiều hình thức mới. Do đó, hiện nay các nhà sư phạm phải thay đổi
phương pháp dạy học, nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao hơn.
Đối với học sinh THCS hiện nay, Tiếng Anh là một môn bắt buộc và theo
như yêu cầu, tiêu chuẩn của Bộ thì sau khi học xong học sinh có thể giao tiếp
được với mọi người, vận dụng vào thực tiễn cấu trúc, loại câu mình vừa mới học.
Nghĩa là học sinh có thể hiểu được nội dung, nói được, nghe được và biết viết.
Theo tôi nghĩ, giáo viên dạy và học ngữ âm đảm bảo đúng yêu cầu thì sẽ góp một
phần quan trọng trong việc dạy Tiếng Anh. Bởi vì dạy ngữ âm tức là dạy các em
đọc đúng từ , đúng câu, đúng ngữ điệu để bày tỏ ý định của mình. Vậy làm thế
nào để dạy học phần ngữ âm một cách có hiệu quả cao. Đó chính là mối quan
tâm của tất cả giáo viên.
IV- CÁC GIẢI PHÁP TIẾN HÀNH
A. Một số đặc điểm về ngữ âm cần lưu ý .
1. Đặc điểm thứ nhất: Khác với Tiếng Việt, một số chữ cái trong Tiếng
Anh thường có hơn một phát âm (sound value). Vì vậy không luôn luôn nhất
thiết phải phát âm một chử cái nào đó theo đúng một cách.Ví dụ: như chữ cái "c"
có thể có cách phát âm /c/ như trong " cat" hoặc /s/ như trong "city". Tuy nhiên
có một số ít các phụ âm luôn có một cách phát âm (single- valued sound ) như
các chữ "m", "d", "p"
2. Đặc điểm thứ hai: Trong Tiếng Anh một số âm khi viết ra có thể bao
gồm hai chữ cái nhưng khi đọc thì là một âm. Điều này cũng xẩy ra trong Tiếng
Việt . Ví dụ: " ph" được phát âm là /f/ ( như trong từ '' pho to'' ), ''th'' được phát
âm là /Υ/ như trong '' think'' hoặc
/ ⊗/như trong ''there'', ''gh'' được phát âm là / γ/ như trong ''ghost'' hoặc ''câm'' như
trong '' through''.
3-Đặc điểm thứ ba : Trong hệ thống ngữ âm Tiếng Anh, một số chữ cái
không được phát âm mà chỉ có mặt mang tính chức năng
( ví dụ như ''e'' trong ''pete'',"write''). Các chữ cái này cho ta thấy cách phát âm
của âm tiết trước nó, như trong ''cage'', ''e'' không được phát ra mà nó quy định
''g'' trước nó phải được phát âm là / d / chứ không phải là ''g'' như trong ''go''.
3
4. Đặc điểm thứ tư: Vị trí của các chữ cái nhất định nào đó trong một từ
có ý nghĩa quyết định đến cách phát âm của chữ đó. Trong rất nhiều trường hợp ,
một chữ cái khi đứng đầu từ thì được phát âm khác, nhưng khi đứng cuối từ hay
giữa từ thì lại được phát âm một cách hoàn toàn khác. Ví dụ như "gh": Có thể
được phát âm là /f/ (như trong " fish") chỉ khi nó nằm cuối những từ như " tough"
" laugh".
Tóm lại , hệ thống ngữ âm Tiếng Anh không mang tính " theo vần" có
phát âm thì không hoàn toàn giống nhau . Ví dụ chữ "t "(như "tiếc" trong Tiếng
Việt ), trong Tiếng Anh, nhiều trường hợp nó được phát âm gần như / th / và có
bật hơi . Vì vậy, thay vì nói từ " top ", một số học sinh phát âm gần như là /tóp /,
trong khi cần phải phát âm gần như là / thóp /.
5. Một nguyên nhân khá chủ quan cũng cần phải đề cập, đó là đa số học
sinh chưa thực sự tập trung vào việc rèn luyện ngữ âm. Một số học sinh khi phát
âm Tiếng Anh ở một từ riêng lẻ thì cho rằng mình đã phát âm đúng nhưng do
chưa rèn luyện kỹ càng, Khi áp dụng vào các câu nói thì lại phát âm sai. Điều này
là dễ hiểu bởi khi nói cả câu. học sinh phải tâp trung đến nhiều từ khác nhau
trong câu, nên phát âm sai một số từ.
C. Một số nguyên tắc về âm.
Trong phần này, người viết sẽ đưa ra một số nguyên tắc về tính chất của
các nguyên âm và phụ âm trong Tiếng Anh.
* Các nguyên tắc về phụ âm.
1. Trong Tiếng Anh, những chữ cái sau chỉ có một cách phát âm duy nhất:
Bảng1
chữ cái phiên âm ví dụ
d
/d/
do, bad
f
/f/
fun, before
m
/x /
fix, box
y
/j/
yellow
z
/z /
zoo
t
/t/
to, put
ghi chú
2. Những chữ sau đây thường đại diện một cách phát âm , nhưng trong một số ít
trường hợp các chữ cái này lại có cách phát âm khác:
Bảng 2
5
"câm"trong:knee, knowledge
l
/l/
lip, crucial
"câm"trong: could, should
w
/w/
weather
''câm"trong:two, write
3.
Những chữ cái sau đây có thể có 2 cách phát âm khác nhau.
Bảng3
Chữ cái
cách 1
cách 2
Phiên âm
đứng trước "i", "e " hoặc "y" thì được phát âm là / d / còn lại phát âm là /g /. Cần
phải chú ý một số ngoại lệ như: give , girl, anger, gear, eager. Không có nhiều
ngoại lệ nhưng một số ngoại lệ này lại là những từ rất hay dùng trong Tiếng Anh.
4. Khi một chữ cái được gấp đôi ( tuân theo quy luật ngữ pháp ) hay ở
dạng đôi thì chúng được phát âm như cách ban đầu của nó.
Bảng4
chữ
phiên âm
ví dụ
bb
/b/
ebb
dd
/d/
odd
ff
/f/
ruff
purr
ss
/s/
mass
tt
/t/
sitting
zz
/z/
jazz
cc
/c/
tobacco (trừ
accept)
5. Tiếng Anh sử dụng khá nhiều các chữ cái ghép lại làm thành một phụ
âm . Các chữ cái ghép sau chỉ có một âm vị
wh
/w/
which, what
ph
/f/
phone, graph
sh
//
shut, wash
qu
/k/
quick, sequence
Một số chú ý về điểm này có thể học sinh cần biết :
+
" ck ", " le ", " tch ", "ng " không bao giờ đứng đầu từ.
u
/ju/như trong " cute"
/^/ như trong"cut"
Để xác định, lựa chọn cách phát âm đúng đối với các từ cụ thể, cần phải
xem xét các chhữ cái đi sau nó. Qua tìm hiểu, chúng có 3 đặc điểm sau đây :
+ Đặc điểm 1: Nếu một chữ nguyên âm đứng trước một chữ phụ âm,
nguyên âm đó sẽ được phát âm theo cách thứ hai. ví dụ:
hope
set
bat
bit
nut
kit
bed
cat
red
sat
sit
mute
home
came
like
hole
june
while
8
Chữ cái"e " trong trường hợp này tuân theo quy luật " e câm " thường được
tổng quát như sau :
" When two wowels go walking , the first one does the taking "
2. Nguyên âm đơn trong các từ đa âm tiết.
Đây là một vấn đề được xem như là rất phức tạp đối với người học nói
chung và học sinh nói riêng. Làm sao ta xác định được cách phát âm " a " trong "
relation " ( được phát âm / ei / , và chữ " a " trong " action " ( được phát âm / æ /
) hay chữ " e " trong completion( / i / ) và chữ " e " trong " congrestion ( / e / ) ?
Các ví dụ trên đây đều là những từ có hậu tố (- tion ) do vậy âm mạnh ( stressed )
sẽ nằm ở âm tiết ngay trước hậu tố. Quy luật ở đâykhá đơn giản, chúng ta cần
phải đếm xem có bao nhiêu chữ phụ âm đúng sau chữ nguyên âm ta cần xác
định. Việc đầu tiên ta cần phải "bỏ qua" phần hậu tố ( tức là không tính đến nó
trong khi đếm). Trong trường hợp này , hậu tố là - ion.
( đôi khi có những ngoại lệ này lại là những từ rất thường gặp ) . Các chữ thể
hiện nguyên âm đôi thường không thay đổi về cách phát âm và thường chỉ có
một cách phát âm . Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua bảng sau ( bảng 7 ) về
các nguyên âm đôi ở dạng chữ viết và cách phát âm.
Bảng 7
Dạng viết
Phiên âm
Ví dụ
Ngoại lệ
au, aw
/o/
cause, claw
laugh, aunt/a:/
ea
/i/
each, reach, meat
break /ei/, head /e/,
been /i/.
/ou/
coat, goat
oi, oy
/oi/
boy, toy, joy, coin,
broad /o/
foil
oo
/oi/
boot, root
blood / /foot / /
ui
/ju/
bruise
build /i/
10
xuất hiện ở tronh Tiếng Việt .
8. Laugh / la:f / học sinh thường bỏ qua âm / f / ở cuối từ , vì thế nên chúng
đọc là / la: / . những từ tương tự là : wife, half.
9. Steak / steik / học sinh thường phát âm là : / sti:k /.
Tương tự : great.
E. Một số gợi ý trong việc hướng dẫn rèn luyện ngữ âm.
1. Những điểm cần nhớ :
11
a. No sound is an island : giáo viên đặc biệt nên tránh trình bày hay yêu
cầu học sinh phát ra những âm vị tách biệt nhau . Các âm được thể hiện bằng các
âm tiết và xung quanh nó là các âm tiết khác. Vì vậy , khi thực hành luyện âm
cần đưa ra các từ cụ thể , qua đó tập trung vào âm mà ta muốn dạy . Thật là vô
nghĩa nếu chúng ta thực hành luyện âm các phụ âm riêng lẻ . ( trừ âm / / là có thể
được phát âm khi ta muốn người khác giữ yên lặng ) . Vì vậy , rất khó để chúng
ta có thể phát âm các phụ âm như / p / , / t /... một mình chúng .
Thực ra chúng ta có thể thực hành các nguyên âm một cách riêng biệt , bởi
trong Tiếng Anh có một số từ bao gồm chỉ một nguyên âm ( ví dụ như " oh " hay
" I " ). Tuy nhiên , việc rèn luyện những âm riêng biệt thực chất cũng không có
hiệu quả , bởi một âm tiết luôn ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của các âm xung
quanh nó .
b. Positions of sounds : Vị trí của âm cần thực hành . Khi chúng ta thực
hành một âm nào đó , sẽ dễ hơn đối với học sinh nếu chúng ta ngay lúc đầu đưa
ra một từ mà âm cần dạy hay thực hành là âm đầu của từ đó . Sau đó chúng ta có
thể đưa từ khác mà âm đó nằm ở cuối từ ( khó hơn ) . Và như vậy ta có thể đưa từ
có âm ở giữa , và cuối cùng là thực hành kết hợp giữa các âm trong từ , hoặc từ
khác.
c. Self- correction : Tự chữa lỗi là rất quan trọng đối với học sinh . Bởi vì
qua đó học sinh có cơ hội nhận biết những lỗi mình mắc phải và nhớ lâu hơn.
call
custom
decide
Yêu cầu học sinh đọc to các từ . Khi học sinh đọc đúng từ trong danh sách ,
cần nhấn mạnh rằng " c "có hai cách phát âm khác nhau , và yêu cầu học sinh tìm
ra quy luật . Có thể gợi ý bằng cách yêu cầu học sinh nhìn vào các chữ cái đứng
sau " c "
b. Xác định âm của " CH " ( xem bảng 5 )
( chork / k / , cheap / t / )
Đưa ra các từ không có ý nghĩa như sau :
chiep
choon
chup
chiln
poch
ach
chint
chen
reach
choln
Hỏi lớp học xem có bao nhiêu trong số các từ trên có thể phát âm ở hai
cách khác nhau và từ nào chỉ có một cách phát âm duy nhất cho " CH " sau đó có
m
a
tch
d. Xác định âm "e câm" (xem bảng 6 )
Đưa ra các cặp từ để học sinh thực hành .
cut/ cute
pip/ pipe
mat/ mate
fin/ fine.
Sau đó đưa ra một từ để học sinh phát âm từ còn lại.
ví dụ : us (use )
hope ( hop )...
13
V- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Tôi tiếp tục nghiên cứu lớp tôi là lớp 8Avà trực tiếp giảng dạy bài :
Unit10 : A1-2. Đây là một bài ôn tập nên các em dễ vận dụng kiến thức mình đã
học để làm yêu cầu của bài là tìm một từ có cách phát âm khác trong bốn từ đã
cho . Ơ đây từ mới hầu như các em đã biết nhưng các em không thể phân biệt
được vì các em đọc không đúng các âm . Sau tiết học hôm đó , tôi đã làm một
................, Ngày
tháng
năm 2017
Người thực hiện.
15