Tình hình, đặc điểm lâm sàng bệnh giang mai và một số yếu tố liên quan tại trung tâm da liễu hải phòng - Pdf 44

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh giang mai là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Bệnh do xoắn khuẩn có tên khoa học là Treponema pallidum gây nên. Bệnh có
thể gây tổn thương ở da - niêm mạc và nhiều tổ chức, cơ quan của cơ thể mà chủ
yếu ở cơ, xương, khớp, tim mạch và thần kinh. Nếu không được điều trị bệnh tiến
triển trong nhiều năm với 3 thời kỳ (giang mai I, giang mai II, giang mai III), xen
kẽ giữa các thời kỳ này là giang mai không triệu chứng hay còn gọi là giang mai
kín. Bệnh lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục và có thể lây truyền qua đường
máu, lây truyền từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây hậu quả trầm trọng như giang
mai thần kinh, giang mai tim mạch, giang mai bẩm sinh [1], [2], [5], [9].
Trong những năm gần đây, khi đại dịch HIV/AIDS lan tràn khắp thế giới,
việc phòng, chống các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục lại càng trở nên
cấp bách hơn vì giữa STIs và HIV/AIDS có mối quan hệ mật thiết với nhau. HIV
lây truyền từ người này sang người khác dễ dàng hơn nếu như một trong hai
người hoặc cả hai bị mắc STI, đặc biệt là giang mai, hạ cam, herpes sinh dục,
nhiễm chlamydia, lậu và trùng roi. Các nhiễm khuẩn này làm tăng nguy cơ lây
truyền HIV từ 2 - 9 lần khi bị phơi nhiễm [3], [29], [46].
Hải Phòng – một trong 5 thành phố lớn của cả nước, là trung tâm công
nghiệp, cảng biển lớn nhất miền Bắc, cửa ngõ giao thương của thành phố không
những với các tỉnh thành trong nước mà còn với các quốc gia khác, đồng thời
cũng là điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam với nhiều danh lam thắng cảnh nổi
tiếng như quần đảo Cát Bà, Đồ Sơn, Hòn Dáu Resort, khu du lịch suối nước nóng
Tiên Lãng, …nên thu hút rất nhiều du khách trong nước cũng như nước ngoài.
Chính vì vậy nên khả năng bệnh giang mai nói riêng và các bệnh lây truyền qua
đường tình dục nói chung có tỷ lệ mắc bệnh là khá cao.
Trung tâm Da liễu Hải Phòng trong nhiều năm qua đã tiến hành khám
bệnh, điều trị cho hàng nghìn trường hợp mắc bệnh LTQĐTD trong đó có bệnh




Sự thực bệnh giang mai có từ thời thượng cổ vì trong tài liệu của Trung Quốc,
Ấn Độ, Hy Lạp người ta đã mô tả những thương tổn ở xương giống hệt bệnh
giang mai [1].

-

Ở Việt Nam, bệnh xuất hiện vào thời kỳ nào cũng chưa xác định rõ. Có
thuyết cho rằng bệnh có từ lúc lính của vua Gia Long viễn chinh sang Xiêm
La (Thái Lan) mang bệnh về vào thế kỷ XVIII nên mới có tên là bệnh
“Tiêm la” [1], [6].
1.1.2.

-

Dịch tễ học bệnh giang mai

Theo báo cáo của WHO và chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về
HIV/AIDS (UNAIDS) ước tính số người mới mắc STIs hàng năm trên toàn cầu


4

là 390 triệu người. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương khoảng trên 35 triệu
người mới mắc các nhiễm khuẩn này hàng năm, trong đó trùng roi âm đạo cao
nhất chiếm tới 47%, nhiễm Chlamydia trachomatis 33%, lậu 18% và giang mai
2% [7], [8].
-

Ở Việt Nam, theo thống kê hàng năm của Bệnh viện Da liễu Trung ương thì

1.2.2.

-

Phương thức lây truyền

Xoắn khuẩn xâm nhập vào cơ thể người lành qua giao hợp đường âm đạo,
đường hậu môn hoặc đường miệng. Tỷ lệ nhiễm giang mai sau 1 lần quan hệ
tình dục khoảng 30% [1], [11].

-

Lây truyền qua đường máu: truyền máu hoặc tiêm chích mà bơm kim tiêm
không vô khuẩn, hiện nay gặp nhiều trong ghép tạng [12], [13].

-

Lây từ mẹ sang con: thường sau tháng thứ 3 của thai kỳ (thường từ tháng thứ
4, 5 trở đi) và gây bệnh giang mai bẩm sinh sớm hoặc muộn [12].

-

Ngoài ra có thể lây gián tiếp qua các đồ dùng, vật dụng bị nhiễm xoắn khuẩn,
qua các vết xây xước trên da- niêm mạc [12], [13].


5

1.3.


phản ứng huyết thanh hoặc có khi sinh ra một em bé bị giang mai bẩm sinh
thì người mẹ mới được phát hiện ra mắc bệnh.
+ Giang mai thời kỳ III: có thể hàng chục năm sau mắc bệnh. Thương
tổn ăn sâu vào tổ chức dưới da, niêm mạc, cơ quan vận động (cơ, xương,
khớp), phủ tạng (tim mạch, thần kinh).


6

1.3.2.

-

Giang mai bẩm sinh (Congenital syphilis)[1], [13], [6] gồm:

Giang mai bẩm sinh sớm: xuất hiện trong 2 năm đầu sau khi sinh. Các thương
tổn giống như giang mai mắc phải thời kỳ II và rất lây.

-

Giang mai bẩm sinh muộn: xuất hiện từ năm thứ 2 sau khi sinh. Thương tổn
giống giang mai thời kỳ III.

-

Di chứng của giang mai bẩm sinh: sẹo, dị hình như trán dô, mũi tẹt tạo hình
yên ngựa, xương chày cong lưỡi kiếm, tam chứng Hutchinson (răng
Hutchinson, điếc nhất thời, lác quy tụ…) do thai nhi đã mắc giang mai từ
trong bào thai.
1.4.

hơn các hạch khác gọi là “hạch chúa”. Hạch thường ở 1 bên bẹn, săng nằm
bên nào thì hạch bẹn ở cùng bên đó, cá biệt có trường hợp hạch ở cả 2 bên khi
săng nằm ở giữa, không lệch về bên nào.
+ Đặc điểm: hạch rắn, không đau, không hóa mủ, không dính vào nhau
và vào tổ chức xung quanh, di động dễ.
+ Nếu không được điều trị, săng sẽ tự lành sau 3-6 tuần làm bệnh nhân
tưởng đã khỏi bệnh. Tuy nhiên, xoắn khuẩn vẫn tồn tại trong cơ thể và có thể
lây bệnh sang người khác. Nếu được điều trị đúng và đầy đủ thì bệnh có thể
khỏi hoàn toàn ở giai đoạn này mà không chuyển sang giai đoạn tiếp theo [1], [7].
1.4.2.

-

Giang mai thời kỳ II

Bắt đầu khoảng 6-8 tuần sau khi có săng. Có khoảng 25% bệnh nhân sẽ tiến
triển thành giang mai thời kỳ II [5], [6].

-

Là giai đoạn xoắn khuẩn theo đường máu và bạch huyết đi đến tất cả các cơ
quan trong cơ thể nên thương tổn có tính chất lan tràn, ăn nông, có rất nhiều
xoắn khuẩn trên thương tổn nên thời kỳ này rất lây, nguy hiểm nhiều cho xã
hội hơn là cho bản thân bệnh nhân [1].

-

Triệu chứng toàn thân: mệt mỏi, sốt nhẹ, đau họng, nhức đầu, sưng hạch và
các thương tổn da, niêm mạc [9].


đóng vảy tiết, chứa nhiều xoắn khuẩn nên rất lây.
+ Vị trí: thường ở các niêm mạc mép, lỗ mũi, hậu môn, âm hộ, rãnh quy đầu.
- Vết loang trắng đen:
Là những vết tăng, giảm sắc tố sau khi đào ban, sẩn lặn đi tạo thành
các vết loang trắng đen loang lổ. Nếu thương tổn tập trung ở cổ thì gọi là
“vòng vệ nữ”.
- Viêm hạch lan tỏa:
+ Vị trí: có thể thấy hạch ở nách, bẹn, cổ, dưới hàm, ụ ròng rọc.
+ Hạch to nhỏ không đều, không đau, không dính vào nhau. Trong hạch
có chứa nhiều xoắn khuẩn.
- Nhức đầu: thường hay xảy ra vào ban đêm.
- Rụng tóc: rụng đều, làm tóc bị thưa dần, còn gọi là rụng tóc kiểu “rừng thưa”.
1.4.2.2.

-

Giang mai thời kỳ II tái phát

Bắt đầu khoảng tháng thứ 4 đến tháng 12 kể từ khi mắc giang mai thời kỳ I.


9

-

Các triệu chứng của giang mai thời kỳ II sơ phát tồn tại trong một thời gian
rồi mất đi cho dù không điều trị gì, qua một thời gian im lặng lại phát ra các
thương tổn da, niêm mạc. Đó chính là giang mai thời kỳ II tái phát. Số lượng
thương tổn ít hơn nhưng tồn tại dai dẳng hơn, thương tổn thâm nhiễm sâu
hơn.


Thời kỳ này thương tổn có tính chất khu trú, mang tính phá hủy tổ chức, gây
nên những di chứng không hồi phục, thậm chí tử vong cho người bệnh nhưng
khả năng lây lan cho cộng đồng bị hạn chế [2], [20].


10

-

Tổn thương cơ bản:

+ Đào ban giang mai III: vết màu hồng, sắp xếp thành nhiều vòng cung,
tiến triển rất chậm, tự khỏi, không để lại sẹo.
+ Củ giang mai: thương tổn ở trung bì, nổi lên thành hình bán cầu,
đường kính 5-20 mm, giống như hạt đỗ xanh. Các củ có thể đứng riêng rẽ
hoặc tập trung thành đám nhưng thường sắp xếp thành hình nhẫn, hình cung
hoặc vằn vèo. Cũng có khi loét ra và đóng vảy tiết đen.
+ Gôm giang mai
• Là thương tổn chắc ở hạ bì, tiến triển qua 4 giai đoạn: bắt đầu là những cục

cứng dưới da, sờ giống như hạch, dần dần các cục này to ra, mềm dần và vỡ
chảy ra dịch dính giống như nhựa cao su, tạo thành các vết loét và vết loét dần
lên da non rồi thành sẹo.
• Số lượng nhiều hoặc ít, có thể khu trú ở bất kỳ vị trí nào.
• Vị trí thường gặp: mặt, da đầu, mông, đùi, mặt ngoài phần trên cẳng chân…

hoặc ở niêm mạc như miệng, môi, vòm miệng, lưỡi, hầu…
-



Theo Thomas P Habif: nếu người mẹ bị giang mai mà không được điều trị
hoặc điều trị không đầy đủ thì 25% bị sảy thai, 25% trẻ đẻ ra chết sau sinh
thời gian ngắn, 10% không có triệu chứng, 40% có triệu chứng của giang mai
bẩm sinh [14].

-

Tùy theo tình trạng nhiễm xoắn khuẩn trong thời gian có thai mà có thể có các
khả năng sau xảy ra [15], [16], [17]: tử vong chu sinh, sinh non, cân nặng khi
sinh thấp, dị tật bẩm sinh, giang mai bẩm sinh sớm, di chứng lau dài như điếc
bẩm sinh, giang mai thần kinh…
Cụ thể:
+ Nếu thai nhi bị nhiễm xoắn khuẩn một cách ồ ạt thì sẽ không tồn tại
được và bị sảy thai.
+ Nếu thai nhi bị nhiễm xoắn khuẩn nhẹ hơn sẽ bị chết lưu hoặc đẻ
non, trẻ rất ít khi sống sót.
+ Nếu nhiễm xoắn khuẩn nhẹ hơn nữa thai nhi có thể đẻ đủ ngày đủ
tháng nhìn có vẻ bình thường nhưng sau vài ngày hoặc vài tháng, một năm sẽ
thấy xuất hiện các thương tổn của GM như bọng nước ở lòng bàn tay, bàn
chân chảy nước mủ lẫn máu, nứt mép hoặc bị liệt cánh tay do viêm xương và
sụn gọi là GM bẩm sinh sớm.

-

Phụ nữ mắc giang mai trong thời kỳ có thai không được điều trị thì khả năng
sinh ra một trẻ sơ sinh có nguy cơ của giang mai bẩm sinh là 50% cho GM thời
kỳ I và II, 40% cho GM kín sớm, và 10% cho GM kín muộn [15], [17].

-

bụng to, tuần hoàn bàng hệ, gan to, lách to. Trẻ có thể sụt cân nhanh, chết bất thình lình.
1.4.4.2.

Giang mai bẩm sinh muộn
- Xuất hiện sau đẻ 3-4 năm hoặc khi đã trưởng thành.
- Các triệu chứng của giang mai bẩm sinh muộn thường mang tính chất

của giang mai III mắc phải ở người lớn.
- Các triệu chứng thường gặp:
+ Viêm giác mạc kẽ, thường xuất hiện lúc dậy thì, bắt đầu bằng các triệu
chứng nhức mắt, sợ ánh sáng ở một bên, về sau cả hai bên, có thể dẫn đến mù.
+ Lác quy tụ
+ Điếc cả hai tai bắt đầu từ 10 tuổi.
-

Cũng có khi trên lâm sàng không phát hiện được các dấu hiệu của giang mai
bẩm sinh sớm, giang mai bẩm sinh muộn mà chỉ thấy thủng vòm miệng, mũi
tẹt, trán dô, xương chày lưỡi kiếm…Đây là các di chứng của giang mai bẩm
sinh do các thương tổn giang mai ở bào thai đã liền sẹo để lại.


13

1.5.

1.5.1.

Chẩn đoán bệnh giang mai
Chẩn đoán xác định
Chẩn đoán xác định dựa vào:

-

Độ nhạy giảm khi tổn thương thoái triển và khi dùng các thuốc.
1.5.2.2.

1.5.2.3.

-

Xét nghiệm huyết thanh
Xét nghiệm không đặc hiệu (các phản ứng cổ điển)

Kháng nguyên sử dụng là lipid (có tên là Cardiolipin), trước đây lấy từ phủ
tạng người bị giang mai, sau đó lấy từ tim bò, bê bình thường.

-

Kháng nguyên là một kháng thể kháng lipid không đặc hiệu có tên là reagin.

-

Phản ứng cổ điển gồm:
+ Phản ứng kết hợp bổ thể BW (Bordet – Wasserman)
+ VDRL (Venereal Disease Research Laboratory)
+ RPR (Rapid Plasma Reagin): phản ứng nhanh phát hiện trên bìa
+ TRUST (Toluidine Red Unheated Serum Test)
+ USR (Unheated Serum Reagin)


14


Xét nghiệm khác

-

Multiplex PCR: chưa được ứng dụng rộng rãi.

-

ELISA: là xét nghiệm đặc hiệu, phát hiện IgG hoặc IgM nhưng giá thành cao.
1.5.3.

Nhận định kết quả xét nghiệm bệnh giang mai
- Xét nghiệm trực tiếp:
+ Xét nghiệm xoắn khuẩn (+) và huyết thanh (+) : chẩn đoán giang mai
+ Xét nghiệm xoắn khuẩn (+) và huyết thanh (-)
• Đầu giai đoạn giang mai thời kỳ I (tiền huyết thanh) -> làm lại

XN huyết thanh sau 2 tuần
• Giang mai / HIV (+)
• Giang mai thời kỳ II có nồng độ kháng thể rất cao (hiện tượng Prozone).


15

Âm tính giả:
• Số lượng xoắn khuẩn ít (cuối giang mai thời kỳ I)
• Bệnh nhân đã dùng kháng sinh
• Bệnh nhân đã dùng thuốc bôi tại chỗ
 Làm XN huyết thanh, nếu âm tính làm lại sau 2 tuần, 4 tuần, 3 tháng. Nếu sau


1.6.1.

-

Điều trị bệnh giang mai
Nguyên tắc

Điều trị sớm và đủ liều để khỏi bệnh, ngăn chặn lây lan, đề phòng tái phát và
di chứng.

-

Điều trị đồng thời cho cả bạn tình của người bệnh.
1.6.2.

-

Điều trị cụ thể

Hiện nay xoắn khuẩn gây bệnh giang mai vẫn còn nhạy cảm với penicillin,
nhưng đã xuất hiện kháng nhóm Macrolide (azithromycin), điều này dẫn tới
sự trở ngại trong việc lựa chọn kháng sinh điều trị ở những bệnh nhân dị ứng
với penicillin [11], [19], [2].

-

Penicillin được lựa chọn để điều trị, hiện tại chưa có trường hợp nào xoắn
khuẩn giang mai kháng penicillin. Benzathine penicillin G là lựa chọn để điều
trị cho tất cả các giai đoạn của bệnh giang mai [1], [20].

trong mà men Transpeptidaza bị bất hoạt không có tác dụng làm XK vỡ tung
mà chết, như vậy Penicillin có tác dụng diệt khuẩn. Chính vì cơ chế này của
penicillin mà cho đến nay xoắn khuẩn giang mai chưa kháng lại penicillin.
+ Cấu trúc hóa học của Penicillin
CẤU TRÚC HOÁ HỌC

+ Giang mai mới, xoắn khuẩn phát triển nhiều và mạnh thì tác dụng của
penicillin càng tăng.
+ Giang mai muộn, xoắn khuẩn ít phát triển thì tác dụng càng giảm do
đó phải kéo dài thời gian điều trị.
1.6.4.

Phác đồ điều trị: tùy theo bệnh giang mai mới mắc hay đã mắc lâu mà

áp dụng phác đồ thích hợp. Hiện nay dùng benzathine penicillin G với liều như sau:
- Giang mai thời kỳ I:


18

Benzathine penicillin G, 2.400.000 đơn vị, tiêm bắp sâu liều duy nhất,
chia làm 2, mỗi bên mông 1.200.000 đơn vị.
- Giang mai thời kỳ II sơ phát, giang mai kín sớm:
Benzathine penicillin G, tổng liều 4.800.000 đơn vị tiêm bắp sâu, trong 2
tuần liên tiếp. Mỗi tuần tiêm 2.400.000 đơn vị, chia làm 2, mỗi bên mông
1.200.000 đơn vị.
- Giang mai thời kỳ II tái phát, giang mai thời kỳ III, giang mai kín
muộn, giang mai bẩm sinh muộn ở người lớn:
Benzathine penicillin G, tổng liều 9.600.000 đơn vị, tiêm bắp sâu trong 4
tuần liên tiếp, mỗi tuần tiêm 2.400.000 đơn vị, chia làm 2, mỗi bên mông

• Giang mai thời kỳ I: Benzathine penicillin G 2.400.000 đơn vị, tiêm bắp sâu

liều duy nhất, mỗi bên mông 1.200.000 đơn vị.
• Giang mai thời kỳ II sơ phát, kín sớm: Benzathine penicillin G 4.800.000 đơn

vị, tiêm bắp sâu trong 2 tuần liên tiếp. Mỗi tuần tiêm 2.400.000 đơn vị.
• Giang mai thời kỳ II tái phát, GM thời kỳ III, GM kín muộn: Benzathine

penicillin G 9.600.000 đơn vị, tiêm bắp sâu trong 4 tuần liên tiếp. Mỗi tuần
tiêm 2.400.000 đơn vị, chia mỗi bên mông 1.200.000 đơn vị.
+ Một số lưu ý:
Phụ nữ mang thai nếu bỏ lỡ bất kỳ liều điều trị nào thì phải thực hiện
lại đầy đủ 1 liệu trình điều trị từ đầu.
Tetracyclin và doxycyclin là chống chỉ định trong giai đoạn 2 và 3 của thai kỳ.
1.6.5.

-

Phản ứng Jarish-Herxheimer [25], [26], [27]

Lần đầu tiên được Adolf Jarisch – Bác sĩ Da liễu của Áo mô tả phản ứng này
vào năm 1895. Sau đó vào năm 1902, Karl Herxheimer – Bác sĩ Da liễu người
Đức làm việc tại Frank-furtđã mô tả chi tiết hơn về phản ứng này. Tên của phản

ứng hiện nay là ghép tên của hai bác sĩ: Jarisch-Herxheimer.
- Là phản ứng miễn dịch. Chỉ chiếm 1.4% trong số các trường hợp bệnh nhân
giang mai thời kỳ II và giang mai kín muộn điều trị bằng penicillin.
- Phản ứng Herxheimer xảy ra khi một lượng lớn nội độc tố bị phát tán vào
trong cơ thể khi vi khuẩn bị tiêu diệt bởi thuốc kháng sinh và cơ thể không thể
đào thải các độc tố này nhanh được.

chứng trước khi tiêm penicillin lần đầu 1 ngày và sau khi tiêm penicillin 1
ngày, điều này không ngăn chặn phản ứng Jarisch-Herxheimer nhưng làm giảm nhẹ
phản ứng.
- Chẩn đoán phân biệt: Dị ứng thuốc.
1.6.6.

Hiện tượng Prozone
- Là hiện tượng do nồng độ kháng thể trong máu rất cao ngăn cản sự
hình thành mạng lưới KN-KT trong huyết thanh bệnh nhân dẫn tới
hiện tượng âm tính giả của xét nghiệm định lượng RPR.
- Thường gặp trong giang mai thời kỳ II hoặc giang mai trên bệnh nhân
HIV (+).


21

1.6.7.

Theo dõi, đánh giá hiệu quả điều trị
- So sánh hiệu giá kháng thể trước và sau điều trị. Điều trị có hiệu quả

khi định lượng hiệu giá kháng thể sau điều trị giảm xuống [1], [23].
- GM thời kỳ I và GM thời kỳ II:
+ Khám lâm sàng sau 2 tuần và 4 tuần để đảm bảo các triệu chứng lâm sàng đã lành.
+ Làm lại xét nghiệm RPR sau 6 và 12 tháng.
+ Hiệu giá kháng thể phải giảm 4 lần trong vòng 6 tháng sau điều trị.
- GM kín:
+ Làm lại xét nghiệm RPR sau 6, 12, 18, 24 tháng sau điều trị.
+ Hiệu giá kháng thể phải giảm 4 lần trong vòng 12 – 24 tháng sau điều trị.
- Đối với những phụ nữ có nguy cơ cao hoặc sống trong vùng có tỉ lệ

-

Theo Báo cáo tình hình các bệnh STD của thành phố Hải phòng qua các năm
từ 2013 đến 6.2017 thì năm 2013 có khoảng 19.277 người mắc STI, năm
2014 có khoảng 13.674 người mắc STI, năm 2015 là 11.358 người mắc STI,
năm 2016 có khoảng 15.582 người mắc bệnh STI, 6 tháng đầu năm 2017 có
8.199người mắc bệnh STI bao gồm cả giang mai, lậu, sùi mào gà, Herpes sinh
dục, viêm âm đạo do nấm candida, do trùng roi, do vi khuẩn và do các nguyên
nhân không đặc hiệu khác [4].
1.7.2.

-

Các căn nguyên thường gặp gây nhiễm trùng/bệnh LTQĐTD

Lậu (Neisseria Gonorrhoeae): gây Viêm niệu đạo, viêm âm đạo, viêm cổ tử
cung, viêm vòi trứng…

-

Chlamydia trachomatis: gây viêm niệu đạo, viêm âm đạo, viêm cổ tử cung,
viêm vòi trứng….

-

Trùng roi âm đạo (Trichomonas vaginalis): gây viêm âm đạo.

-

Vi khuẩn kỵ khí gây viêm âm đạo.


Biểu hiện lâm sàng: ở nam và nữ là khác nhau
+ Ở nam: viêm niệu đạo do lậu có thể biểu hiện lâm sàng cấp hoặc mạn tính.


23

Thời gian ủ bệnh trung bình 2 – 5 ngày, có khoảng 85% nam giới bị
viêm niệu đạo do lậu biểu hiện cấp tính với các triệu chứng như khó chịu, đái
buốt, ra mủ (mủ vàng hoặc vàng xanh, đặc, số lượng nhiều) kèm theo phù nề
và đỏ miệng sáo. Tuy nhiên cũng có những bệnh nhân chỉ ra dịch niệu đạo
nhưng không nhiều, màu vàng trong, một số trường hợp không có triệu
chứng. Nếu bệnh không được điều trị kịp thời có thể dẫn tới biến chứng như
viêm mào tinh hoàn, viêm túi tinh…[1], [13].
+ Ở nữ: thường không có biểu hiện triệu chứng rõ ràng mà kín đáo, thậm
chí không có triệu chứng nên bệnh nhân thường không biết mình bị bệnh do
đó dễ là nguồn lây cho người khác. Nếu viêm âm đạo cấp tính bệnh nhân có
thể thấy cổ tử cung có mủ nhày hoặc mủ, đỏ và phù nề vùng ngoài cổ tử cung,
khi chạm vào rất dễ chảy máu, đôi khi bệnh nhân chỉ thấy ra khí hư vàng đặc,
đái buốt, đau tức bụng dưới, đau khi giao hợp…Biến chứng thường gặp như
viêm tuyến Bartholine, Skène, viêm vòi trứng, buồng trứng…[1], [19].
+ Ngoài ra có thể gặp: nhiễm trùng hậu môn, trực tràng (gặp ở người quan
hệ tình dục đồng giới nam và một số phụ nữ viêm cổ tử cung do lậu) viêm hầu
họng, viêm amidal cấp (QHTD miệng – sinh dục) viêm kết mạc mắt do dùng
chung khăn, chậu với bệnh nhân bị bệnh, lậu mắt trẻ sơ sinh do mẹ bị lậu mà
không được điều trị nên lây cho con trong quá trình sinh đẻ [28], [29], [30].
-

Xét nghiệm:
+ Nhuộm Gram: thấy song cầu Gram âm hình hạt cà phê nằm trong hay

Là căn nguyên thường gặp nhất trong các bệnh LTQĐTD, có tỷ lệ đồng nhiễm
với lậu khoảng 30% [12].

-

Là vi khuẩn ký sinh nội tế bào bắt buộc do không có khả năng tổng hợp các
hợp chất có năng lượng cao [31].
-

Biểu hiện lâm sàng:

+ Ở nam: thường biểu hiện chủ yếu là viêm niệu đạo, thời gian ủ bệnh 7
– 21 ngày với triệu chứng đi tiểu khó (đái buốt, đái rắt, đau khi đi tiểu) và tiết
dịch niệu đạo, dịch nhày màu trắng đục hoặc trong, số lượng ít đến vừa,
miệng sáo đỏ, viêm nề. Đôi khi có những bệnh nhân không biểu hiện triệu
chứng mà chỉ được chẩn đoán bệnh khi xét nghiệm dịch niệu đạo. Ngoài ra có
thể gặp viêm mào tinh hoàn, viêm trực tràng – hậu môn ở những người
QHTD đồng giới nam.
+ Ở nữ: biểu hiện lâm sàng thường không rõ ràng, thường là viêm cổ tử
cung, viêm niệu đạo không điển hình. Có thể thấy tiết dịch niệu đạo, miệng
niệu đạo nề đỏ, kèm theo đi tiểu khó, đái rắt…Ngoài ra có thể gặp viêm cổ tử
cung, viêm tuyến Bartholine, viêm nội mạc tử cung, viêm vòi trứng…


25

-

Xét nghiệm:
+ Nuôi cấy phân lập

chuyển động xoay tròn, giật lùi điển hình.
+ Nuôi cấy: bệnh phẩm được ủ trong ống nghiệm có dung dịch Diamon
ở nhiệt độ 35ºc trong 4 ngày, hàng ngày kiểm tra môi trường nuôi cấy tìm
Trichomonas di động

-

có giá trị chẩn đoán cao.

Chẩn đoán dựa vào:
+ Lâm sàng: ra nhiều khí hư màu vàng xanh, có mùi hôi.
+ Xét nghiệm:
. Soi tươi dịch AÐ: tỷ lệ dương tính trong 50 - 70% trường hợp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status