Luan van chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh lào cai - Pdf 44

`
HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

chất lợng cán bộ, công chức cấp xã
là ngời dân tộc thiểu số ở tỉnh lào
cai
Chuyờn ngnh
Mó s

:
:

Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
60 38 01 01

LUN VN THC S LUT

Ngi hng dn khoa hc: TS. TRN èNH THNG


HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực.
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả


MỤC LỤC
Trang

chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai

40
40
45
62

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI
DÂN TỘC THIÊU SỐ Ở TỈNH LÀO CAI

3.1. Phương hướng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là
người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là
người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

66
66
71
95
97


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BC

:


CNXH

:

Chủ nghĩa xã hội

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

ĐA

:

Đề án

HĐND

:

Hội đồng nhân dân



:

Nghị định


TTLT

:

Thông tư liên tịch

TTg

:

Thủ tướng

TU

:

Tỉnh ủy

UBND

:

Ủy ban nhân dân


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Cán bộ là người đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời

chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết của Đảng
có đi vào cuộc sống, có trở thành hiện thực hay không một phần rất quan trọng
tùy thuộc vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Người cán bộ, công chức cấp xã
có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân.
Để thực hiện được vai trò đó, muốn chăm lo cho dân, muốn phát triển
sức dân thì phải có tổ chức bộ máy tốt, có đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm
chất và năng lực tương xứng, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra. Đó là những
người tận tâm, liêm khiết, tháo vát, sáng tạo, đặc biệt cần có năng lực tổ chức
thực tiễn.
Thực tiễn cho thấy nơi nào có đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở vững
mạnh, thì nơi đó tình hình chính trị, xã hội ổn định; kinh tế, văn hóa phát
triển; quốc phòng, an ninh được giữ vững. Ngược lại, cơ sở nào cán bộ công
chức không đủ phẩm chất, năng lực và uy tín thì địa phương đó sẽ gặp khó
khăn, kinh tế - xã hội chậm phát triển. Điều đó cho thấy cán bộ, công chức
cấp xã có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng và
củng cố hệ thống chính trị cơ sở, đặc biệt ở những vùng miền núi, vùng có
đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thì vai trò của người cán bộ, công
chức cấp xã, nhất là cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số càng
quan trọng hơn, bởi họ là lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức của Đảng,
Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, hơn nữa bản thân họ cũng là dân cư ở
địa phương, cùng sinh sống, làm việc với nhân dân địa phương. Do vậy họ có
vai trò không nhỏ trong việc tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường
lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Để đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, hệ thống chính trị từ
Trung ương đến cơ sở cần phải được đổi mới nội dung, phương thức hoạt
động và chỉnh đốn tổ chức, nâng cao hiệu lực lãnh đạo và quản lý. Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương khoá IX xác định: Xây dựng
đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực và vận động nhân dân thực hiện đường lối
của Đảng và pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân,


cũng được cải thiện đáng kể, nhiều người đã được bố trí vào các vị trí lãnh
đạo, quản lý chủ chốt trong hệ thống chính trị cơ sở.


4
Dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai,
cùng với sự chỉ đạo và thực hiện của Đảng ủy và chính quyền các cấp, trong
những năm qua, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số
đã phát huy được vai trò và trách nhiệm trong hoạt động quản lý nhà nước và
đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn
định chính trị - xã hội của địa phương.
Bên cạnh những chuyển biến tích cực nói trên, đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở Lào Cai vẫn còn bộc lộ một số hạn
chế yếu kém nhất định. Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận
chính trị của đội ngũ này vẫn còn thấp và không đồng đều.
Do trình độ kiến thức các mặt hạn chế, nên sức thuyết phục của đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số trong lãnh đạo, quản lý đối
với quần chúng còn yếu. Chính quyền cơ sở nhiều nơi chưa làm tốt chức năng
quản lý nhà nước, nhất là trên lĩnh vực: đất đai, hộ tịch, hộ khẩu; các tổ chức
đoàn thể hoạt động hiệu quả chưa cao, còn nặng về hình thức và mang tính
hành chính. Vì vậy, trong quá trình quản lý khi gặp những tình huống, những
vụ việc rắc rối đã không đề ra được phương án giải quyết tối ưu. Những lúng
túng, va vấp trong công việc là điều khó tránh khỏi. Đây là vấn đề rất lớn đặt
ra cho tỉnh Lào Cai về đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực cho cán bộ,
công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số.
Nhìn một cách toàn diện, những hạn chế và bất cập nói trên xuất phát
từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như: Sự phát triển kinh tế - xã hội ở
những vùng có đồng bào dân tộc còn lạc hậu, trình độ dân trí thấp ảnh
hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển con người nói chung và bản thân
cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng và tác động tới

- Phạm Thị Thu Vinh (2003), Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ
chính quyền cơ sở trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ Quản lý nhà
nước, Hà Nội.
- Lê Thị Lý (2003), Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức xã trước yêu
cầu đổi mới, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
- Thái Vĩnh Thắng (2003), Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính
quyền cấp xã, phường, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 4).


6
- Dương Hương Sơn (2004), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thanh (2006), Hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công
chức cấp xã ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại Luật
thành phố Hồ Chí Minh.
- TS Nguyễn Minh Sản (2009), Pháp luật về cán bộ công chức chính
quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Sách
chuyên khảo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.
- Hồ Đức Việt, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng
Ban Tổ chức Trung ương (2010), Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Lý luận
chính trị, (số 2).
- Võ Công Khôi (2009), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở
người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tạp chí Tổ chức nhà nước (số 9).
- Võ Thanh Bình (2009), Tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở miền
núi, vùng đồng bào dân tộc trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Tổ nhà nước (số 8).
Các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống và tương đối toàn diện
về vấn đề chất lượng cán bộ, công chức cấp xã nói chung dưới góc độ lý luận
cũng như sự vận dụng lý luận đó vào việc nâng cao chất lượng cán bộ công

thiểu số; khái niệm và những tiêu chí đánh giá, những yếu tố ảnh hưởng đến
chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số.
- Phân tích thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là người dân
tộc thiếu số ở tỉnh Lào Cai, qua đó nêu lên những vấn đề tồn tại cần khắc
phục cũng như phân tích các nguyên nhân dẫn đến hạn chế về chất lượng cán
bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai.
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai, nhằm đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Luận văn nghiên cứu về cán bộ, công chức cấp xã gồm các chức vụ
và các chức danh được quy định tại khoản 2 và khoản 3, Điều 62 - Luật Cán


8
bộ công chức năm 2008 và theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP
ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng, một số chế độ,
chính sách đối với cán bộ công chức ở xã, phường, thị trấn và những người
hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”.
- Luận văn nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai giai đoạn từ năm 2011 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về
cán bộ và chất lượng cán bộ, công chức nói chung, chất lượng cán bộ, công chức
cấp xã là người dân tộc thiểu số nói riêng; đồng thời luận văn có kế thừa và vận
dụng có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số tác giả về vấn đề này.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.


10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. KHÁI NIỆM CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ
NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

Để làm rõ khái niệm chất lượng cán bộ, công chức cấp xã là người dân
tộc thiểu số, trước hết cần làm rõ một số vấn đề và khái niệm có liên quan
sau:
* Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia
trên thế giới. Đây là khái niệm phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ
chức bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia. Ở các quốc gia tồn tại nhiều đảng phái
chính trị, công chức chỉ được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyên
trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức, hưởng
lương từ ngân sách nhà nước. Còn ở những nước chỉ có duy nhất một Đảng
lãnh đạo nhà nước và xã hội thì quan niệm công chức được mở rộng hơn,
ngoài những chủ thể trên còn gồm cả những đối tượng có dấu hiệu tương tự,
nhưng làm việc trong các tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội.
Ở Úc và Niu Dilân, quan niệm công chức chỉ gồm những người làm
việc trong các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở, trong đó có các cơ
quan hành chính và đơn vị sự nghiệp của Nhà nước mà không gồm những
người làm việc trong các cơ quan của Đảng hoặc tổ chức chính trị - xã hội. Pháp
lại quan niệm về công chức rất rộng, gồm hai loại: Những công chức làm việc
thường xuyên trong bộ máy nhà nước, bị chi phối bởi Luật Công chức; những

đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được
tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân
cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Hiện nay, theo Luật CBCC năm 2008 và theo quy định tại Nghị định số
92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ “Về chức danh, số lượng,
một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những
người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã”, thì CBCC cấp xã gồm:


12
Cán bộ cấp xã: là những người giữ các chức vụ sau đây:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND;
+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam;
+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân
Việt Nam);
+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Công chức cấp xã: Là những người được bổ nhiệm vào ngạch sau đây:
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
+ Tài chính - kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hóa - xã hội.

nhất và tương đối đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Tính ổn định của công chức cấp xã cao hơn so với cán bộ cấp xã: Họ
phải thông qua tuyển dụng, quy trình tuyển dụng đã được quy định chặt chẽ
tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 5 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ
về công chức xã, phường, thị trấn. Họ cũng phải phụ trách những lĩnh vực
công tác cụ thể nên nhìn chung có sự đảm bảo về tiêu chuẩn và tính ổn định
trong công tác. Công chức xã trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã
trong việc điều hành, chỉ đạo công tác. Chất lượng của công chức cấp xã sẽ
góp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước của
cấp xã.


14
Cán bộ, công chức cấp xã là lực lượng gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc
với nhân dân, làm cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước; là lực lượng
đông nhưng trình độ lại thấp trong đội ngũ CBCC của cả nước nói chung.
Cán bộ, công chức cấp xã đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện các
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và là lực lượng
chiếm số lượng hết sức đông đảo trong tổng số biên chế hiện nay. Chính vì
vậy, việc xác định rõ đặc điểm, vị trí, vai trò của CBCC cấp xã là vấn đề cần
thiết để có chủ trương, chính sách phù hợp.
Từ những phân tích trên, ta có thể khái niệm như sau: CBCC cấp xã là
công dân Việt Nam, được bầu cử hoặc tuyển dụng để giữ chức vụ theo nhiệm
kỳ trong tổ chức Đảng, HĐND, UBND, các tổ chức chính trị - xã hội hoặc
giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
* Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
Khi nói đến vấn đề cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Cán bộ
là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân.
Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ

của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành;
đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng
và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự
điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn. Vì vậy, vị trí, vai
trò của CBCC cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và quần chúng nhân dân.
- Cán bộ, công chức cấp xã là nhân tố chủ yếu, hàng đầu và là nhân tố
“động” nhất ở cơ sở, tuy nhiên CBCC cấp xã lại chịu sự chi phối, ràng buộc
của tổ chức. Tổ chức bộ máy chính quyền cấp xã buộc người CBCC cấp xã
phải hoạt động theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định. Tổ chức bộ
máy chính quyền cấp xã khoa học và hợp lý sẽ nhân sức mạnh của CBCC cấp
xã lên gấp nhiều lần. CBCC cấp xã chỉ có sức mạnh khi gắn với tổ chức chính
quyền và nhân dân, nếu tách rời thì CBCC cấp xã mất sức mạnh quyền lực và
hiệu lực do nhân dân tạo nên.


16
- Cán bộ, công chức cấp xã là lực lượng “nòng cốt” trong quản lý và tổ
chức công việc ở cấp xã. Mỗi CBCC cấp xã được giao thực hiện một khối
lượng công việc rộng, nhiều và có tác động ảnh hưởng lớn trong xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Chính họ cũng có khả
năng đóng góp một khối lượng lớn ý kiến đề xuất với các cơ quan nhà nước
cấp trên để xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp hướng tới Nhà
nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân.
- Cán bộ, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực
tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ,
quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã
hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Họ là những người đóng vai trò
tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham
nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính
quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Thông

cách mạng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm tổ chức
thực hiện những chủ trương của Đảng và nhà nước vào thực tế để nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ở địa phương. Trong cuộc sống họ
luôn là người đi đầu, gương mẫu tìm tòi các mô hình kinh tế để hướng dẫn
nhân dân.
Cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số là những người chất
phác, trung thực, thật thà trong từng lời ăn, tiếng nói. Họ có lối sống giản dị,
không thích phô trương, hình thức, hòa đồng, gần gũi và có uy tín đối với quần
chúng người dân tộc thiểu số. Họ có khả năng chịu áp lực công việc lớn, điều
kiện sống và làm việc không thuận lợi, ít đòi hỏi quyền lợi, ít tranh đua chức vụ .
Họ trọng tình hơn trọng lý, quan tâm đến mọi người. Tuy nhiên lề lối phong cách
làm việc của họ thường thiếu tính kỷ luật, xuề xòa, đại khái. Họ dễ dàng rời vị trí
công tác giữa chừng vì một mối quan tâm khác: gia đình có sự kiện, bạn bè nơi
khác đến thăm, thậm chí không làm cán bộ nữa vì gia đình bắt về lấy chồng (vợ)
hoặc không cho đi làm cán bộ nữa. Đặc biệt, họ là những người am hiểu các
phong tục, tập quán của đồng bào nên họ luôn là chỗ dựa tinh thần cũng như
vật chất cho bà con. Vì vậy, họ có một vị trí quan trọng trong đời sống tinh
thần của nhân dân địa phương. Thực tế tại các địa phương khi có những vấn
đề lớn của dòng tộc, gia đình cần phải giải quyết, thì đa số người dân đều


18
tham khảo ý kiến của CBCC ở địa phương. Nhiều vị lãnh đạo xã đồng thời
cũng là những thầy cúng với phẩm cấp cao nhưng họ không hành nghề đó để
kiếm tiền mà dùng uy tín của mình để tuyên truyền, vận động nhân dân về
nếp sống mới.
Thứ hai, về trình độ học vấn, chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ của
CBCC người dân tộc thiểu số, có thể nói đây là những đặc thù rõ ràng nhất
của cán bộ, công chức cấp xã người dân tộc thiểu số.
Về học vấn, hiện nay rất nhiều cán bộ, công chức cấp xã là người dân

trẻ hiện nay, đã có một số được đào tạo có trình độ Đại học hoặc Trung cấp ;
CBCC có trình độ sơ cấp không nhiều; Một số CBCC đã lớn tuổi, nhưng chưa
được đào tạo về chuyên môn mà chỉ được bồi dưỡng các lớp ngắn ngày, kiến
thức chắp vá, làm việc bằng kinh nghiệm là chính, nên khả năng bao quát tình
hình, xác định nhiệm vụ, đề ra nghị quyết, chủ trương, điều hành công việc
còn yếu. Năng lực làm việc độc lập, tự chủ, sáng tạo, khả năng lãnh đạo, quản
lý, nghiên cứu, tổng hợp tình hình, tiếp nhận xử lý thông tin còn chậm. Nên
mặc dù có phẩm chất chính trị vững vàng nhưng do hạn chế trong nhận thức
các quy luật vận động của kinh tế - xã hội, nên khi có những tình huống xảy
ra rất lúng túng trong việc tìm ra giải pháp phù hợp. Những đối tượng này rất
khó bố trí đi học để nâng cao trình độ vì tuổi đời đã cao nhưng họ lại là người
được nhân dân tín nhiệm nên cũng chưa thể thay thế được.
Thứ ba, về khả năng hoàn thành nhiệm vụ, do còn nhiều cán bộ, công
chức cấp xã là người dân tộc thiểu số chưa được đào tạo, bồi dưỡng một cách
bài bản, nên khả năng điều hành, quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
Trong việc đề ra các chủ trương, chính sách để phát triển địa phương còn lúng
túng, trông chờ, ỷ lại vào cấp trên, chủ yếu làm theo chỉ đạo điều hành của
cấp trên nên thiếu tính sáng tạo trong công việc, cá biệt có những xã chính
quyền không xác định được cơ cấu kinh tế tại địa phương gồm những ngành
nghề gì, do vậy việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế ở địa phương gặp
không ít khó khăn. Một bộ phận CBCC cấp xã này tuổi cao, trình độ học vấn
hạn chế, song lại có uy tín, có tiếng nói trong xã thông qua bầu cử giữ các
chức danh cán bộ chuyên trách lại có khả năng vận động quần chúng, song lại
có tư duy kinh nghiệm. Vì vậy, đối với công việc, khi thì giải quyết công việc


20
quá nguyên tắc, cứng nhắc, thiếu mềm dẻo, linh hoạt; nhưng đôi khi lại giải
quyết công việc theo ý chí chủ quan, tình cảm nên nhiều khi thiếu đi sự công
bằng và không đạt được hiệu quả công việc; khả năng giao tiếp còn kém, đặc

gian nghiên cứu các các chủ trương, chính sách để cụ thể hóa vào thực tế địa
phương. Đặc biệt, trong thời gian lễ hội trong văn hóa của các dân tộc hoặc
vào mùa vụ thì thường họ bị chi phối nhiều vào các hoạt động của lễ hội, việc
gia đình và sẽ ít quan tâm đến công việc của xã, hoặc cũng có thể do phong
tục tập quán nên trong năm sẽ có một số ngày cấm kỵ, nên người ngoài làng,
bản không thể đi vào trong địa bàn của địa phương được; còn người dân của
địa phương thì không tiếp xúc, không làm việc trong những ngày cấm kỵ ấy,
nên rất có thể các công việc của chính quyền sẽ tạm dừng trong thời gian ấy.
Do đặc thù thành phần dân cư trong một xã gồm nhiều dân tộc anh em
cùng sinh sống. Nhiều xã có đến 7, 8 dân tộc vì vậy trong cơ cấu cán bộ, công
chức thành phần dân tộc cũng rất đa dạng. Trái lại có những xã chỉ có hai đến
ba dân tộc cùng sinh sống. Chính vì vậy, có nhiều địa phương đang ở trong
tình trạng nhiều người trong một gia tộc nắm những vị trí quan trọng ở xã với
những chức danh Bí thư Đảng ủy, Bí thư Đoàn thanh niên, Hội trưởng Hội
Phụ nữ xã…Điều này là do tâm lý dòng họ vì người đương chức có thể xin
hoặc cử con em trong gia đình đi học dưới danh nghĩa “dự nguồn”, khi bổ
nhiệm hoặc tuyển dụng họ là những người có bằng cấp lại là người địa
phương nên được ưu tiên tuyển dụng.
Như vậy, việc xác định rõ đặc điểm đặc thù của đội ngũ CBCC cấp xã là
người dân tộc thiểu số hiện nay, sẽ là cơ sở để các cấp ủy đảng dự báo, định
hướng cơ cấu cũng như chuẩn bị điều kiện hỗ trợ đội ngũ này thực hiện nhiệm
vụ trong tương lai.
* Khái niệm chất lượng
“Chất lượng” hiểu ở nghĩa chung nhất là “Cái tạo nên phẩm chất, giá
trị của một con người, một sự vật, sự việc” [71, tr.44].
Chất lượng của cá nhân được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất
định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo
đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và
tham gia một cách tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status