Truyện cổ tích sinh hoạt người việt dưới góc nhìn văn hóa - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ HỒNG NGÂN

TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT
DƯỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN – NĂM 2017

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học dân gian là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam, là nơi lưu
giữ những nét đẹp của đời sống tinh thần người Việt. Văn học dân gian là lời ăn
tiếng nói, điệu hồn của dân tộc, là cội nguồn văn hóa. Thật hạnh phúc biết bao
khi thời thơ ấu ta được lớn lên trong lời ca dao của mẹ, trong thế giới những câu
chuyện cổ tích của bà. Những ông Bụt, bà Tiên trong truyện cổ, những cái Bống,
cái Cò trong ca dao là hình ảnh quê hương thân thuộc, là ước mơ, khát vọng về
hạnh phúc. Văn học dân gian chính là “nguồn sữa mẹ ngọt ngào” nuôi dưỡng
đời sống tâm hồn của mỗi người từ lúc chào đời và trở thành cầu nối giữa cá
nhân mỗi người đi đến tình yêu quê hương, đất nước. Nằm trong mạch nguồn
của văn học dân gian, truyện cổ tích từ lâu đã không còn xa lạ với người dân
Việt Nam.
1.2. Truyện cổ tích là một thể loại quan trọng, phong phú nhất của loại
hình tự sự dân gian. Truyện cổ tích quen thuộc với mỗi người và nó có sức hấp

nhìn đa chiều, đa dạng hơn về văn học. Lịch sử nghiên cứu văn học thế giới nói
chung, Việt Nam nói riêng cho thấy đây là một hướng đi đúng đắn, khả quan, phù
hợp với thời đại. Ở Việt Nam nghiên cứu văn học theo hướng văn hóa bước đầu
đạt được một số thành tựu, tuy nhiên, để trở thành một hệ thống lý thuyết đầy đủ,
toàn diện có lẽ còn cần thêm nhiều thời gian và công trình khoa học.
Văn học dân gian mang đặc trưng nguyên hợp, là một bộ phận của văn
hóa dân gian. Đặc trưng này khiến văn học dân gian không thể tách rời văn hóa
dân gian. Vì thế, để hiểu văn học dân gian không thể không đặt nó trong mối
quan hệ với văn hóa dân gian.
1.4. Qua khảo sát nhóm những truyện cổ tích sinh hoạt của người Việt
trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của tác giả Nguyễn Đổng Chi, chúng tôi
nhận thấy truyện cổ tích nói chung, cổ tích sinh hoạt nói riêng có ảnh hưởng sâu
sắc từ nhiều yếu tố của văn hóa dân gian. Truyện cổ tích sinh hoạt mang những
bài học văn hóa in đậm trong từng tác phẩm. Đó là những bài học đạo đức, ứng
xử với mọi tầng lớp, thế hệ,….Tìm hiểu truyện cổ tích sinh hoạt ta còn khám
phá bức tranh đời sống vô cùng phong phú của người Việt cổ xưa. Vì vậy,
nghiên cứu “Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn hóa” là một
3


hướng đi hứa hẹn nhiều kết quả tốt đẹp không chỉ trên phương diện văn hóa, văn
học mà cả trên phương diện giáo dục.
Việc nghiên cứu “Truyện cổ tích sinh hoạt người Việt dưới góc nhìn văn
hóa”, đối với chúng tôi những người trực tiếp giảng dạy Ngữ văn ở trường THPT
thì ngoài ý nghĩa về mặt khoa học còn mang ý nghĩa thực tiễn thiết thực. Bởi
những kết quả thu nhận được từ việc nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có điều
kiện nhìn nhận tác phẩm văn học dân gian trong sự liên kết với văn hóa dân gian.
Từ đó đánh giá về tác phẩm đầy đủ và toàn diện hơn, giúp cho công việc giảng
dạy, giáo dục trao truyền văn hóa cho thế hệ sau thiết thực và hấp dẫn hơn.
2. Lịch sử vấn đề

cổ tích hiện thực. Sau đây, tôi xin trích dẫn một vài ý kiến đánh giá trong các
công trình nghiên cứu về truyện cổ tích sinh hoạt.
Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã nhận xét về
sự phức tạp khi phân loại truyện cổ tích: “Khái niệm truyện cổ tích như vậy thật
rộng và phức tạp. Chẳng khác gì nhìn vào một khu rừng trong đó có nhiều loại
cây: cây to, cây nhỏ, gỗ tốt, gỗ xấu, mọc chằng chịt lẫn lộn,…”. Ông cũng nêu lên
ba đặc điểm cơ bản của truyện cổ tích và tập hợp, sưu tầm một lượng lớn tác
phẩm trong công trình này. Bên cạnh đó Nguyễn Đổng Chi cũng đưa ra khái niệm
và những nhận xét về truyện cổ tích sinh hoạt: “…cổ tích thế sự hay sinh hoạt là
những truyện bịa nhưng rất gần đời, thiết thực xuyên sâu vào mọi ngõ ngách cuộc
đời. Trong cái tầm thường, cái bình dị của các tình tiết vẫn ẩn dấu một khả năng
gây hứng thú mạnh mẽ, hoặc một điều gì đáng thương cảm rất mực.” [tr29].
Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam của trường Đại học Sư phạm Hà Nội
năm 1978 đã đưa ra đánh giá về sự phát triển của xã hội được thể hiện trong
truyện cổ tích sinh hoạt: “...qua các truyện này đã thấy rằng một mặt quan niệm
thần linh chủ nghĩa đã thôi ngự trị trong quan niệm của nhân dân, mặt khác sự
mê tín và tôn giáo không khống chế được tư tưởng tích cực và yếu tố duy vật của
nhân dân. Với sự tiến bộ của xã hội loài người trưởng thành dần, ngày càng làm
chủ được thiên nhiên, sức lao động ngày càng có hiệu lực hơn, sự tin tưởng vào
những thứ quái đản không còn mạnh mẽ như trước nữa” [tr131].
Năm 1999, Đỗ Bình Trị nghiên cứu Những đặc điểm thi pháp của các thể
loại văn học dân gian trong đó ông có đề cập đến các vấn đề như khái niệm, thi
5


pháp, nhân vật,...của truyện cổ tích sinh hoạt. Ông cho rằng truyện cổ tích sinh
hoạt mang dáng dấp những câu chuyện của cuộc đời hàng ngày. Nhân vật thường
được xây dựng theo cặp đối nghịch: Cặp nhân vật đức hạnh và nhân vật xấu xa,
cặp nhân vật mưu trí và nhân vật khờ khạo. Không gian của truyện cổ tích sinh
hoạt gần gũi với người đọc. Bối cảnh sinh hoạt quen thuộc: khung cảnh nông

với các biểu hiện: nhân vật nhỏ tuổi dùng mưu mẹo giải đố, nhân vật dùng mưu
tham gia kén rể, nhân vật dùng mưu mẹo xét xử.
Năm 2012, Nguyễn Thị Bích Hà với đề tài Kiểu nhân vật ngốc nghếch
trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt đã nghiên cứu và phân loại cụ thể các
kiểu nhân vật ngốc nghếch trong truyện cổ tích sinh hoạt.
Năm 2016, Tác giả Triều Nguyên (Tạp chí Sông Hương 330/08-2016)
Phân định giữa truyện truyền kì với truyện cổ tích thế tục, bài viết đưa ra kết
luận: Nếu truyện cổ tích nhằm hướng tới những người bình thường (ngày trước,
đa số là không biết chữ), thì truyện truyền kì nhằm vào lớp người có học và giới
quan lại. Truyện truyền kì có thể có lời bàn hay lời bình, đặt ở cuối truyện còn
truyện cổ tích thì không. Lời bàn này thường súc tích, có nhiều hàm ý, điển cố
và sự nhìn nhận liên quan đến thời cuộc của giới nhà nho. Bài viết nhằm giải
thích sự gần gũi và khác biệt giữa truyện truyền kì với truyện cổ tích nói chung,
truyện cổ tích thế tục nói riêng.
2.2. Một số công trình nghiên cứu về truyện cổ tích sinh hoạt dưới góc nhìn
văn hóa
Văn hóa là một trong những lĩnh vực rất được quan tâm, vì vậy có rất
nhiều công trình nghiên cứu đã được đặt ra. Về văn hóa không thể không nhắc
tới cuốn Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh in lần đầu tiên năm
1938 được ấn hành bởi Quan Hải Tùng Thư. Ngoài ra, còn rất nhiều công trình
nghiên cứu khác như: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới của Phan Ngọc
(1994), Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Quốc
Vượng (chủ biên) (1996), Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm
(1999), Văn hóa Việt Nam: đặc trưng và cách tiếp cận của Lê Ngọc Trà
(2001), Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc (2010),…. Nhìn chung các
tác giả đã cho chúng ta thấy rõ đặc điểm bản sắc văn hóa Việt Nam trong môi
trường sinh thành và phát triển của nó.
7





loại. Sự tiến bộ ấy trải qua một cuộc đấu tranh dai dẳng, quyết liệt mới có và
cũng trên con đường đi lên ấy, thường xảy ra những bi kịch”. Đồng thời, tác giả
khẳng định, dân gian dựa vào tục ăn trầu có từ thời trước đó rất lâu để xây dựng
thành một câu chuyện phản ánh bước ngoặt lớn của xã hội.
Trong cuốn “Về nguồn gốc văn hóa cổ truyền Việt Nam”, tác giả Đông
Phong đã tìm hiểu, nghiên cứu và sắp xếp truyện Sự tích đầu rau vào nhóm các
câu chuyện về chủ đề hôn nhân và gia đình. Tác giả đưa ra ý kiến nhận xét về ý
nghĩa của câu chuyện như sau: “Truyện Ông táo là một trong những truyện cổ
có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Đó là hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống hòa
thuận, đầm ấm, an vui của mỗi gia đình - một lối giáo dục bằng ẩn dụ, bằng bí
truyền qua tục truyền miệng….Và ngày 23 tháng Chạp âm lịch là ngày mời gọi
đoàn tụ của các gia đình Việt Nam”.
Năm 2011, Luận văn “Các hình thức không gian trong truyện cổ tích
sinh hoạt người Việt” của tác giả Tô Hồng Vân đã nghiên cứu và chỉ rõ các
hình thức không gian xuất hiện trong truyện cổ tích sinh hoạt người Việt, từ đó
phản ánh đời sống vật chất và tinh thần phong phú của người Việt xưa. Luận văn
cũng cho thấy một hướng nghiên cứu văn học dân gian gắn với nếp sống và các
sinh hoạt văn hóa cổ xưa.
Cũng trong năm 2011, Luận văn “Khảo sát nhóm truyện chủ đề đạo
đức gia đình trong truyện cổ tích sinh hoạt Việt Nam” tác giả Nguyễn Thị
Thu Hà đã khảo sát và phân loại các kiểu nhân vật chính trong nhóm truyện này
như: nhân vật chính đức hạnh, nhân vật chính xấu xa, nhân vật chính trông
minh, nhân vật chính ngốc nghếch,… Trên cơ sở khảo sát, tác giả đã tiến hành
phân tích ý nghĩa của hình tượng nhân vật trong truyện, đồng thời làm sáng tỏ
các mối quan hệ đạo đức trong gia đình người Việt.
Năm 2014, Chuyên luận “Không gian trong truyện cổ tích sinh hoạt
của Việt Nam - Hàn Quốc”, tác giả Lưu Thị Hồng Việt đã nhận định và chỉ rõ
“Không gian biển, không gian gia đình, không gian lễ hội, không gian chợ, làng

hội Việt Nam cổ xưa thông qua sự phản ánh của truyện cổ tích sinh hoạt.
- Cung cấp kiến thức để nâng cao chất lượng học tập, giảng dạy Văn học
dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng trong nhà trường.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
10


- Tổng hợp các khái niệm về văn hóa, mối quan hệ giữa truyện cổ tích
sinh hoạt và văn hóa.
- Khảo sát cụ thể nhóm truyện cổ tích sinh hoạt người Việt trong mối
quan hệ với tín ngưỡng, phong tục và văn hóa ứng xử của người Việt để đưa ra
một cách nhìn mới, khám phá mới về truyện cổ tích sinh hoạt dưới góc nhìn văn
hóa.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết tốt những yêu cầu mà đề tài đặt ra, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu dựa trên sự vận dụng, kết hợp những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Để thực hiện đề tài này, luận văn
còn kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu văn hóa, nghiên cứu
dân tộc học,…phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ giúp luận văn giải quyết
những vấn đề nghiên cứu được thỏa đáng.
- Phương pháp khảo sát, phân loại: Để cho việc nghiên cứu, đánh giá có
căn cứ xác thực chúng tôi tiến hành khảo sát, phân loại những truyện cổ tích
sinh hoạt của người Việt trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - tác giả
Nguyễn Đổng Chi.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi thống kê các tác phẩm, chúng
tôi sẽ tiến hành phân tích, cắt nghĩa, lí giải các yếu tố văn hóa xuất hiện trong
các tác phẩm từ đó đánh giá vị trí, vai trò của các yếu tố và tổng hợp thành một
kết quả chung nhất cho đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình phân tích, tổng hợp,

một hướng đi hứa hẹn có nhiều giải mã lí thú từ đó nâng cao năng lực nghiên
cứu cũng như giảng dạy truyện cổ tích nói riêng, văn học dân gian nói chung ở
trường THPT.

12


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ
TRUYỆN CỔ TÍCH SINH HOẠT NGƯỜI VIỆT
1.1.

Văn hóa

1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách hiểu
khác nhau, liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con người. Văn hóa
là sản phẩm do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người.
Vì vậy, văn hóa trở thành đối tượng nghiên cứu chính của khoa học nhân văn và
là một trong những khái niệm tạo nên sự tranh luận hết sức phong phú. Hiện
nay, trên thế giới có khoảng hơn 500 định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa
phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như dân tộc
học, nhân chủng học (theo cách gọi của Mỹ hoặc dân tộc học hiện đại theo cách
gọi của châu Âu), dân gian học, địa văn hóa học, văn hóa học, xã hội học,...và
trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau. Các
định nghĩa về văn hóa nhiều và cách tiếp cận khác nhau nên ngay cả cách phân
loại các định nghĩa về văn hóa cũng rất phong phú.
Ở phương Tây, văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh "Cultus" mà nghĩa

tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).
Như vậy, có thể thấy trong quan niệm về văn hóa nếu như người phương
Tây thiên về ứng xử tự nhiên thì người phương Đông lại thiên về ứng xử xã hội.
Ở Việt Nam, văn hóa cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả.
Việc nghiên cứu văn hóa như một khoa học được bắt đầu vào nửa đầu thế kỉ
XX. Những người mở đầu có thể kể đến các nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, Trần
Văn Huyên,…
Theo nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình
hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên
và xã hội” [54, tr22].
14


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh
hoạt văn hóa hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [33, tr 431].
Năm 1994, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa theo cả nghĩa rộng
và nghĩa hẹp như sau: Theo nghĩa rộng: “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các
đặc trưng diện mạo tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm…khắc họa nên bản
sắc của một cộng đồng gia đình, làng xóm, vùng, miền, quốc gia, xã hội,…Văn
hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả lối sống, những quyền cơ
bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng...”;
còn theo nghĩa hẹp “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (kí hiệu) chi
phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng có đặc thù
riêng”.
Như vậy, từ các khái niệm trên có thể hiểu văn hóa là sản phẩm của loài
người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và

người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần, tư tưởng,
đời sống tình cảm...
Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc,
địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" được thể hiện qua các hình
thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn như niềm tin vào Đức
Chúa Trời của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin
vào Thánh, Thần của tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Thành hoàng, Đạo Mẫu...
Các hình thức tôn giáo tín ngưỡng này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn
thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc... thì cũng đều là một thực thể biểu hiện
niềm tin vào cái thiêng chung của con người.
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên
nhiên tương đối phong phú, đa dạng. Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa
vào việc khai thác tự nhiên. Vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên
thần) đã sớm gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngã ba đường nơi giao
lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt
Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ
16


biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng
đồng hành trong tâm thức một người Việt. Điều đó dẫn đến một đặc điểm của
đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo.
Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một
cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa.
Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì các tín ngưỡng dân
gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.
Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo mà người Việt thể hiện sự bàng
bạc trong niềm tin tôn giáo. Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên
phần đông trong số đó không là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào.
Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại

kép: ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa nhân văn. Trong phạm vi đề tài của mình,
chúng tôi khảo cứu một số nhóm truyện phản ánh tín ngưỡng là: tín ngưỡng thờ
thần, tín ngưỡng thờ tự nhiên và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
1.1.2.2. Phong tục
Gắn liền với tín ngưỡng là phong tục (phong: gió, tục: thói quen, phong
tục: thói quen lan rộng). Phong tục là toàn bộ những hoạt động sống của con
người được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, được
cộng đồng thừa nhận, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phong tục không
mang tính cố định, bắt buộc như nghi thức, nghi lễ, nhưng cũng không tùy tiện
như hoạt động sống thường ngày. Nó trở thành một tập quán xã hội tương đối
bền vững và tương đối thống nhất.
Phong tục có thể ở một dân tộc, địa phương, tầng lớp xã hội hay thậm chí
một dòng họ, gia tộc. Phong tục là một bộ phận của văn hóa và có thể chia thành
nhiều loại. Hệ thống phong tục liên quan đến vòng đời của con người như:
phong tục về sinh đẻ, trưởng thành, cưới xin, mừng thọ và lên lão,... Hệ thống
phong tục liên quan đến hoạt động của con người theo chu kỳ thời tiết trong
năm. Hệ thống phong tục liên quan đến chu kỳ lao động của con người...
Phong tục ở Việt Nam có truyền thống lâu đời hàng ngàn năm nay, nó đã
trở thành luật tục sâu đậm và gắn chặt trong tâm thức người dân và thậm chí có
sức mạnh hơn cả những đạo luật. Theo sự thăng trầm của lịch sử của dân tộc,
phong tục của người Việt Nam cũng không ngừng biến đổi theo trào lưu biến
18


đổi văn hoá xã hội. Tuy nhiên có những phong tục mất đi những cũng có nhưng
phong tục vẫn còn hiện hữu trong cuộc sống ngày nay của người Việt Nam.
Nhiều phong tục đẹp của người Việt đã được soi bóng trong ca dao, truyện
cổ,…mang một ý nghĩa văn hóa, thẩm mĩ đẹp đẽ.
1.1.3. Văn hóa ứng xử
*Khái niệm “ứng xử”:

hội đó trao truyền bằng nhiều hình thức học tập” [2, tr.19].
Bùi Thiết trong cuốn Cảm nhận về văn hóa đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa
ứng xử là hệ thống ứng xử giữa con người và thế giới tự nhiên – vũ trụ và hệ
thống ứng xử giữa con người với nhau hay trong xã hội con người” [56, tr.98].
Như vậy, có thể hiểu“Văn hóa ứng xử” là: Thế ứng xử, là sự thể hiện triết
lí sống, các lối sống, lối suy nghĩ, lối hành động của một cộng đồng người trong
việc ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với
xã hội từ vi mô (gia đình) đến vĩ mô (nhân gian).
Giao tiếp ứng xử có văn hóa, có đạo đức là cơ sở để có những mối quan
hệ thân thiện trong cộng đồng, quan hệ tình nghĩa trong gia đình. TS. Nguyễn
Thế Hùng đã phân tích rất rõ: “Người Việt chúng ta ứng xử duy tình (nặng về
tình cảm): “Một trăm cái lí không bằng một tí cái tình”. Đó là đặc trưng của
nền văn minh nông nghiệp lúa nước, làng nghề thôn dã. Họ trọng tình anh em,
họ hàng, tình làng nghĩa xóm, xem bữa cơm gia đình như để cởi mở, thân
thiện”. Và “Văn hóa ứng xử phải được nhìn nhận từ ít nhất bốn chiều kính của
con người: quan hệ với tự nhiên – chiều cao, quan hệ với xã hội – chiều rộng,
quan hệ với chính mình – chiều sâu, quan hệ với tổ tiên và con cháu mai sau –
chiều lịch sử” [25].
1.2.

Truyện cổ tích – truyện cổ tích sinh hoạt

1.2.1. Truyện cổ tích
1.2.1.1. Khái niệm truyện cổ tích
Truyện cổ tích là một thể loại lớn thuộc loại hình tự sự dân gian, có quá
trình phát sinh, phát triển lâu dài và liên tục được tái tạo trong các thời đại sau.
Kể từ khi truyện cổ tích được quan tâm nghiên cứu, đã có rất nhiều định nghĩa
về thể loại tự sự dân gian này.
20


Văn học dân gian, Hoàng Tiến Tựu đã định nghĩa về thể loại này như sau:
21


“Truyện cổ tích là một loại truyện gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công
xã nguyên thủy, hình thành gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp. Nó đặc biệt
nói về các xung đột giữa người với người trong phạm vi gia đình và xã hội. Nó
dùng một thứ tưởng tượng hư cấu riêng, kết hợp các thủ pháp nghệ thuật đặc thù
khác để phản ánh đời sống và mơ ước của nhân dân, đáp ứng nhu cầu nhận thức,
thẩm mĩ, giáo dục giải trí của họ”[61, tr42]. Đây được coi là khái niệm tương đối
đầy đủ và sáng rõ về truyện cổ tích. Theo cách hiểu này, ta có thể nắm bắt nội
dung cơ bản và hình thức sáng tạo một cách chung nhất của truyện cổ tích.
Từ những phát biểu trên, chúng tôi khái quát lại như sau: truyện cổ tích là
những sáng tác tự sự dân gian, có cốt truyện hoàn chỉnh; chủ yếu dựa trên
nhiều yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo, hoang đường; truyện kể về những sự tích đời
xưa nhưng dấu tích truyện kể còn lưu cho đến nay.
1.2.1.2. Đặc trưng của truyện cổ tích
Truyện cổ tích có thể được hình thành trong ra đời trong thời kì công xã
nguyên thủy nhưng đặc biệt nở rộ trong thời kì xã hội có phân chia giai cấp, có
mâu thuẫn đối kháng, có sự phân hóa giàu – nghèo. Đó là lúc xã hội thị tộc tan
rã, nhường chỗ cho sự xuất hiện của những gia đình riêng lẻ cùng chế độ tư hữu.
Truyện cổ tích đề cập và quan tâm trước hết đến những nạn nhân xấu số. Do đó,
chức năng chủ yếu của nó là nhằm an ủi, động viên, bênh vực cho thân phận,
phẩm chất của con người. Vì thế qua mỗi câu chuyện, nhân dân lao động đều
gửi gắm ước mơ về một thế giới tốt đẹp, về sự công bằng, sự thưởng phạt công
minh. Từ chức năng thể loại đó, truyện cổ tích có ba đặc trưng cơ bản như sau:
Truyện cổ tích xây dựng một thế giới hư cấu, kì ảo: Puskin đã từng nói:
“Truyện cổ tích là bịa đặt nhưng trong mỗi câu chuyện bịa đặt đó có những bài
học cho các cô cậu bé”. Thế giới của truyện cổ tích là nơi con người gửi gắm
ước mơ, khát vọng về sự công bằng, về một cuộc đổi đời. Qua truyện cổ tích,

vật bất hạnh, nhân vật thông minh tài trí; truyện đậm đặc yếu tố thần kỳ.
Cách phân loại này đã kết hợp vận dụng nhiều tiêu chí và căn cứ khác
nhau trong đó nổi lên hai tiêu chí quan trọng là đề tài và phương pháp sáng tác.
Ở Nga, cách phân chia này đã có từ năm 1865 do Ô. Mi lơ đề xuất và được hầu
hết các nước trên thế giới áp dụng. Đây cũng là sự phân loại hợp lí, vì ngoài tiêu
chí chính là đề tài thì những yếu tố nghệ thuật khác (nhân vật, tính kì ảo) cũng
đã được tính tới. Chúng tôi thống nhất với cách phân loại trên và từ đó tìm hiểu
23


về truyện cổ tích sinh hoạt như một tiểu loại nổi bật và đặc sắc của thể loại tự sự
dân gian này.
1.2.2. Truyện cổ tích sinh hoạt
1.2.2.1. Khái niệm truyện cổ tích sinh hoạt
Từ điển thuật ngữ văn học đã xác định nội hàm khái niệm truyện cổ tích
sinh hoạt như sau: “Truyện cổ tích sinh hoạt (hay cổ tích thế sự) là những truyện
cổ tích không có hoặc rất ít yếu tố thần kì. Ở đây các mâu thuẫn, xung đột xã
hội giữa người với người được giải quyết một cách hiện thực, không cần đến
những yếu tố siêu nhiên. Những yếu tố thần kì nếu có cũng không giữ vai trò
quan trọng và nhiều khi chỉ là đường viền cho câu chuyện thêm vẻ li kì, hấp dẫn
mà thôi” [20, tr 368 – 369].
Khái niệm trên đã giúp cho chúng tôi nhìn nhận rõ ràng hơn tiểu loại truyện
cổ tích sinh hoạt, từ đó xác định đúng đắn đối tượng nghiên cứu của luận văn.
1.2.2.2. Lịch sử ra đời và quá trình hình thành truyện cổ tích sinh hoạt
Tìm hiểu lịch sử ra đời và quá tình hình thành của truyện cổ tích sinh
hoạt, trước hết cần chú ý đến sự ra đời của thể loại truyện cổ tích nói chung.
Trước cổ tích có thần thoại. Thần thoại là một hiện tượng văn hóa tinh
thần ra đời từ khá sớm. Thần thoại chủ yếu ra đời trong xã hội cộng đồng
nguyên thủy, vào thời kì xa xưa của xã hội trước khi có giai cấp. Thần thoại
phản ánh một cách kì diệu nhận thức về vũ trụ, về công cuộc đấu tranh thiên

thần thoại. Cuộc đấu tranh giữa người với người trong truyện cổ tích gay gắt hơn
nhiều cuộc đấu tranh chống thiên nhiên.
Như vậy, có thể thấy con đường từ thần thoại đến cổ tích là một bước
nhảy vọt trong tư tưởng: từ không tự giác đến tự giác, từ gắn chặt với thiên
nhiên đến đời sống xã hội loài người. Nói như E. M. Meletiski thì “Các bậc
thang chủ yếu của quá trình chuyển từ thần thoại thành cổ tích là: giải nghi lễ
hóa và giải thiêng, sự suy giảm lòng tin vào tính chân xác của các sự kiện huyền
thoại, sự phát triển trí tưởng tượng có ý thức, sự mất dần tính cụ thể về dân tộc
học, việc thay thế các nhân vật huyền thoại bằng những con người bình thường,
thay thời gian huyền thoại bằng thời gian cổ tích – vô định, làm yếu hoặc làm
mất hẳn tính chất suy nguyên luận, việc chuyển sự chú ý từ các số phận tập thể
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status