BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ QUỲNH GIANG
MÃ SINH VIÊN: 1201134
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
THUỐC KHÁNG SINH TẠI
VIỆN HUYẾT HỌC-TRUYỀN MÁU
TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ QUỲNH GIANG
MÃ SINH VIÊN: 1201134
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
THUỐC KHÁNG SINH TẠI
VIỆN HUYẾT HỌC-TRUYỀN MÁU
TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. ThS. Võ Thị Thu Thủy
2. ThS. Vũ Duy Hồng
Nơi thực hiện:
1. Trung tâm DI&ADR Quốc gia
Sinh viên
Lê Thị Quỳnh Giang
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .....................................................................................2
1.1. Tổng quan về nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư có giảm BCTT .......2
1.1.1. Dịch tễ nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư có giảm BCTT ..................2
1.1.2. Sinh lý bệnh của nhiễm khuẩn ở bệnh nhân ung thư có giảm BCTT .......2
1.1.3. Các vi khuẩn gây bệnh trên bệnh nhân ung thư có giảm BCTT ...............3
1.1.4. Các yếu tố nguy cơ của nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư .................4
1.2. Sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư
có giảm BCTT ........................................................................................................6
1.2.1. Chẩn đoán nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư có giảm BCTT.............6
1.2.2. Các hướng dẫn điều trị nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư có giảm
BCTT ...................................................................................................................7
1.2.3. Các nghiên cứu về sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân giảm BCTT ......13
1.3. Sơ lược về Viện HH-TM TƯ .......................................................................15
1.3.1. Thông tin chung về Viện HH-TM TƯ ....................................................15
1.3.2. Phân bố các bệnh huyết học tại các khoa lâm sàng huyết học của Viện
HH-TM TƯ .......................................................................................................15
1.3.3. Các nghiên cứu và báo cáo liên quan đến tình hình nhiễm khuẩn tại Viện
HH-TM TƯ .......................................................................................................17
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................19
2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................19
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AG
Kháng sinh aminoglycosid
ACRIN
Mạng lưới Chẩn đoán hình ảnh Hoa Kỳ
(American College of Radiology Imaging Network)
ATC
Hệ thống phân loại thuốc theo giải phẫu-điều trị-hóa học
(Anatomical Therapeutic Chemical)
BCTT
Bạch cầu trung tính
BUN
Lượng ure máu (Blood Urea Nitrogen)
C2G
Kháng sinh cephalosporin thế hệ 2
C3G
ECOG
Nhóm Ung thư Miền Đông Hoa Kỳ
(Eastern Cooperative Oncology Group)
ESBL
Enzym β-lactamase phổ rộng
(Extended spectrum beta-lactamase)
FDA
Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ
(Food and Drug Administration)
FEV
Dung tích sống thở ra gắng sức (Forced Expiratory Volume)
FQ
Kháng sinh fluoroquinolon
HIV
Bệnh nhân nhiễm virus HIV (Human Immunodeficiency Virus)
IARC
Hội Nghiên cứu Ung thư Quốc tế
Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ
(National Cancer Institute)
NCCN
Mạng lưới Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ
(National Comprehensive Cancer Network)
SHEA
Hiệp hội Dịch tễ Y tế Hoa Kỳ
(Society for Healthcare Epidemiology of America)
Trung tâm
DI&ADR
Quốc gia
Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có
hại của thuốc
(National Drug Information and Adverse Drug Reactions
Monitoring Centre)
Viện
HH-TM TƯ
Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương
VRE
Enterococci kháng vancomycin
2.2
Phân tầng nguy cơ các biến chứng nhiễm khuẩn để lựa
chọn kháng sinh điều trị
22
4
2.3
Phác đồ kháng sinh điều trị khởi đầu được khuyến cáo
24
5
3.1
Kết quả phân tích Mann-Kendall về xu hướng tiêu thụ
kháng sinh toàn Viện theo từng giai đoạn
26
6
3.2
Đặc điểm chung của bệnh nhân có giảm BCTT
Các nguyên nhân sử dụng phác đồ kháng sinh khởi đầu
38
11
3.7
Kết quả phân tầng nguy cơ các biến chứng nhiễm khuẩn
của bệnh nhân giảm BCTT đã có dấu hiệu nhiễm khuẩn
39
12
3.8
Số lượng và tỷ lệ phác đồ kháng sinh điều trị khởi đầu
phù hợp với khuyến cáo của NCCN
39
13
3.9
Các phác đồ kháng sinh điều trị thay thế
40
26
2
3.2
Đường biểu diễn xu hướng tiêu thụ kháng sinh toàn Viện
theo thời gian
26
3
3.3
Phân bố lượng kháng sinh tiêu thụ của toàn Viện theo
nhóm kháng sinh trong giai đoạn 2014-2016
28
4
3.4
10 kháng sinh được tiêu thụ nhiều nhất trong giai đoạn
2014-2016
29
3.5
34
5
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là bệnh lý ác tính của tế bào và có thể phát sinh ở mọi cơ quan của cơ
thể và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới.
Theo thống kê của Hội Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) năm 2012, trên thế
giới ước tính có khoảng 14 triệu ca ung thư mới mắc và tỷ lệ tử vong do ung thư
khoảng 8,2 triệu bệnh nhân. Cũng theo tổ chức này, năm 2012, Việt Nam có khoảng
125 nghìn ca ung thư mới mắc với tỷ lệ tử vong do ung thư khoảng 94 nghìn người.
Trong đó, có 7.222 ca bệnh máu ác tính mới mắc bao gồm lơ xê mi, u lympho
Hodgkin và không phải Hodgkin, đa u tủy xương (chiếm 5,8%) và tỷ lệ tử vong do
các bệnh máu ác tính trên là 5.781 người [88]. Trong điều trị bệnh máu ác tính, hóa
trị liệu vẫn là liệu pháp căn bản. Mặc dù có sự cải thiện đáng kể về việc chăm sóc
hỗ trợ nhưng nhiễm khuẩn vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong trên bệnh nhân
mắc bệnh máu ác tính có điều trị hóa chất [57]. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ
lệ tử vong liên quan đến nhiễm khuẩn ở bệnh nhân lơ xê mi cấp là 50%-80% và ở
bệnh nhân u lympho là 50% [32], [38]. Giảm bạch cầu trung tính (BCTT) là một
biến chứng phổ biến ở bệnh nhân điều trị hóa chất và cũng là yếu tố làm tăng nguy
cơ nhiễm khuẩn trên những bệnh nhân này [36].
Viện Huyết học-Truyền máu Trung ương (Viện HH-TM TƯ) là một bệnh viện
tuyến trung ương đi đầu trong các bệnh về máu; trong đó, các bệnh máu ác tính tại
Viện chiếm 46,5% [5]. Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đánh giá về tình hình
sử dụng kháng sinh để dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư
nói chung và bệnh nhân ung thư có giảm BCTT nói riêng được thực hiện tại Viện.
Vì vậy, để có được một hình ảnh khái quát về tình hình sử dụng kháng sinh nói
chung và việc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân giảm BCTT nói riêng tại Viện,
tổn thương hoặc các vị trí nhiễm khuẩn tại chỗ, vi khuẩn có thể xâm nhập vào máu
dẫn đến nhiễm khuẩn toàn thân. Việc chọc kim và đặt các thiết bị catheter cũng tạo
điều kiện xâm nhập của vi khuẩn qua da vào máu dẫn đến nhiễm khuẩn toàn thân
[18]. Bên cạnh đó, việc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân gây ra chọn lọc hệ vi
khuẩn cộng sinh và làm tăng số lượng vi khuẩn gây bệnh kháng thuốc [54].
2
1.1.3. Các vi khuẩn gây bệnh trên bệnh nhân ung thư có giảm BCTT
Trong các đợt sốt trên bệnh nhân ung thư có giảm BCTT, khoảng 30%-40%
nhiễm khuẩn được xác định bằng vi sinh, trong đó, một nửa là nhiễm khuẩn huyết.
Các trường hợp còn lại được xác định bằng triệu chứng sốt hoặc các biểu hiện
nhiễm khuẩn khác trên lâm sàng [15], [74], [77]. Hầu hết nhiễm khuẩn ở bệnh nhân
ung thư là do các vi khuẩn cộng sinh của cơ thể như vi khuẩn ở trên da, miệng,
đường tiêu hóa, … Bệnh nhân cũng có thể nhiễm khuẩn do các vi khuẩn bệnh viện
sau mỗi lần thăm khám hoặc nhập viện [36].
Trong những năm từ 1970 đến 1980, chỉ có dưới 30% nhiễm khuẩn trên bệnh
nhân ung thư do vi khuẩn gram dương thì cho đến nay, tỷ lệ nhiễm khuẩn trên bệnh
nhân ung thư do vi khuẩn gram dương tăng lên khoảng 45%-70% [15], [41], [50],
[51]. Sự thay đổi này được cho là do việc sử dụng thường xuyên thủ thuật đặt
catheter và các kháng sinh phổ rộng có tác dụng tốt trên vi khuẩn gram âm nhưng
tác dụng kém trên vi khuẩn gram dương, tỷ lệ cao viêm niêm mạc do các liệu pháp
điều trị ung thư và việc dự phòng bằng các kháng sinh cotrimoxazol và FQ [15],
[41], [51]. Các vi khuẩn gram dương thường gặp bao gồm các cầu khuẩn gram
dương (Staphylococcus aureus, Staphylococcus epidermidis, các Staphylococci
không sinh enzym coagulase, Streptococci và Enterococci), trong đó bao gồm các
chủng đề kháng kháng sinh như MRSA (methicillin resistant Staphylococcus
aureus), VRE (vancomycin resistant Enterococci). Tỷ lệ nhiễm khuẩn do vi khuẩn
gram dương kháng thuốc gia tăng là một thách thức trong điều trị hiện nay [36].
khuẩn tăng lên khi thời gian giảm BCTT kéo dài. Bệnh nhân có giảm BCTT kéo dài
≥7 ngày cho thấy nguy cơ cao nhiễm khuẩn nặng. Thời gian giảm BCTT do điều trị
hóa chất phụ thuộc vào loại và cường độ hóa trị liệu [36].
1.1.4.2. Sự phá hủy hàng rào bảo vệ
Viêm niêm mạc do liệu pháp điều trị
Tổn thương niêm mạc do hóa trị liệu và xạ trị là tổn thương sớm và đáng kể
nhất trên hàng rào bảo vệ cơ thể. Viêm niêm mạc do liệu pháp điều trị thường gặp là
tổn thương niêm mạc miệng và đường tiêu hóa. Đây là cơ hội để vi khuẩn cư trú ở
miệng và đường tiêu hóa xâm nhập qua niêm mạc vào máu gây nhiễm khuẩn toàn
thân [18]. Đồng thời, tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa ảnh hưởng đến tình
4
trạng dinh dưỡng của bệnh nhân làm giảm số lượng tế bào hấp thu và bề mặt niêm
mạc miệng đỏ, viêm sưng gây khó khăn trong việc ăn uống, dẫn đến cơ thể bệnh
nhân suy kiệt [21].
Đặt catheter tĩnh mạch
Hiện nay, các thiết bị đặt mạch máu là hình thức can thiệp mạch máu phổ
biến, được sử dụng trong thời gian dài và tương đối an toàn. Tuy nhiên, sự có mặt
của các catheter đặt tĩnh mạch là yếu tố nguy cơ thúc đẩy nhiễm khuẩn ở bệnh nhân
ung thư. Việc chọc kim và đặt các thiết bị catheter tạo điều kiện xâm nhập của vi
khuẩn qua da vào máu. Nhiễm khuẩn thường xảy ra ở vị trí đặt catheter và lòng
catheter, có thể tiến triển thành nhiễm khuẩn huyết khi vi khuẩn cư trú trên da xâm
nhập vào máu [18].
Phẫu thuật
Nhiễm khuẩn huyết liên quan đến nhiễm khuẩn tại vị trí phẫu thuật và các ổ áp
xe tổ chức sâu ở bệnh nhân ung thư thường gặp trong phẫu thuật tiết niệu, phụ khoa
và ổ bụng. Tuy nhiên, rất khó để khẳng định chắc chắn về việc nhiễm khuẩn hậu
phẫu có thường xảy ra trên bệnh nhân ung thư hơn so với bệnh nhân không ung thư
hay không [25], [72]. Các nghiên cứu cho kết quả khác nhau về tỷ lệ nhiễm khuẩn
chưa được làm rõ. Các thuốc này thường được dùng phối hợp với hóa trị liệu nên
việc đáng giá chính xác vai trò của mỗi thuốc đối với nguy cơ nhiễm khuẩn là rất
khó khăn [19].
1.2. Sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư có
giảm BCTT
1.2.1. Chẩn đoán nhiễm khuẩn trên bệnh nhân ung thư có giảm BCTT
Lâm sàng
Sốt thường là dấu hiệu nhiễm khuẩn thường gặp và xuất hiện sớm trên bệnh
nhân giảm BCTT. Sốt được định nghĩa là khi nhiệt độ cơ thể đo một lần duy nhất
≥38,3oC hoặc nhiệt độ cơ thể ≥38oC kéo dài trong 1 giờ (nhiệt độ được đo ở miệng).
Kiểm tra thường xuyên tất cả vị trí nhiễm khuẩn phổ biến trên bệnh nhân ung
thư có giảm BCTT bao gồm miệng, họng-xoang, mũi, đường hô hấp, đường tiêu
hóa, đường tiết niệu, da, mô mềm, vùng đáy chậu và vị trí đặt catheter.
6
Cần lưu ý các dấu hiệu nhiễm khuẩn trên bệnh nhân giảm BCTT có thể bị che
giấu do số lượng bạch cầu thấp dẫn đến khả năng đáp ứng viêm kém. Trong một số
trường hợp như sốc nhiễm khuẩn hoặc được điều trị bằng corticoid, bệnh nhân có
nhiễm khuẩn nhưng không sốt, thậm chí thân nhiệt lại giảm [41], [61].
Cận lâm sàng
Giảm BCTT: số lượng BCTT xuống dưới 500 tế bào/µL hoặc dưới 1.000 tế
bào/µL và được dự đoán giảm xuống dưới 500 tế bào/µL.
Cấy máu ít nhất 2 lần (bao gồm cả vị trí đặt catheter).
Cấy bệnh phẩm khác tại các vị trí khác nếu có dấu hiệu nhiễm khuẩn.
Xét nghiệm huyết học và hóa sinh như hồng cầu, tiểu cầu, BUN, điện giải,
creatinin để kiểm tra chức năng gan, thận ...
Các xét nghiệm chẩn đoán khác như: chụp X-quang, chọc hút và sinh thiết tổn
thương da, đo phân áp oxy khi có dấu hiệu bệnh hô hấp hoặc thở nhanh ... [41], [61].
gian mọc vi khuẩn ở catheter sớm hơn 2 giờ thì nhiều khả năng nhiễm khuẩn huyết
do catheter. Ưu tiên sử dụng vancomycin hoặc thay thế bằng teicoplanin. Rút
catheter khi có nhiễm khuẩn quanh chân catheter, tạo thành ổ nhiễm khuẩn huyết
dai dẳng dù đã điều trị phù hợp hoặc nhiễm nấm, đặc biệt là Candida.
○ Viêm phổi: thêm kháng sinh chống các vi khuẩn không điển hình
(Legionella và Mycoplasma) như phối hợp macrolid/β-lactam. Nếu nghi ngờ nhiễm
Pneumocystic jerovecii khi có thở nhanh, giảm SpO2, nên điều trị bằng
cotrimoxazol liều cao.
○ Nhiễm trùng da: thêm vancomycin để điều trị các trường hợp nghi tụ cầu
vàng.
○ Tiêu chảy, nhiễm trùng vùng bụng hoặc khung chậu: thêm metronidazol
[3].
1.2.2.2. Hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho người suy giảm miễn dịch của Bộ Y
tế
Hướng dẫn sử dụng kháng sinh cho người suy giảm miễn dịch (giảm bạch cầu
hạt trung tính và sau ghép tủy) nằm trong hướng dẫn chung về sử dụng kháng sinh
của Bộ Y tế. Tương tự hướng dẫn về chẩn đoán và xử trí biến chứng nhiễm khuẩn ở
8
bệnh nhân giảm bạch cầu hạt của Bộ Y tế, hướng dẫn này cũng chỉ đề cập đến chẩn
đoán và điều trị kháng sinh mà chưa đề cập đến việc sử dụng kháng sinh dự phòng
nhiễm khuẩn cho bệnh nhân giảm BCTT.
Về điều trị, bệnh nhân sẽ được phân tầng nguy cơ dựa trên mức độ và thời
gian giảm BCTT, tình trạng bệnh mắc kèm, chức năng gan, thận và điểm MASCC
trước khi lựa chọn kháng sinh điều trị. Trong hướng dẫn này, chỉ đề cập đến việc
điều trị nhiễm khuẩn trên bệnh nhân sốt giảm BCTT nguy cơ cao.
Đối với bệnh nhân nguy cơ cao:
+ Bắt buộc sử dụng kháng sinh tĩnh mạch: phác đồ đơn độc ceftazidim,
cefepim, piperacilin-tazobactam, imipenem-ciclastin hoặc meropenem.
FQ.
+ Bệnh nhân nội trú: sử dụng kháng sinh tĩnh mạch như đối tượng nguy cơ
cao.
Đối với bệnh nhân nguy cơ cao:
+ Sử dụng kháng sinh tĩnh mạch: phác đồ đơn độc piperacilin-tazobactam,
carbapenem, ceftazidim hoặc cefepim.
+ Điều chỉnh phác đồ kháng sinh dựa trên vị trí nhiễm khuẩn, hình ảnh Xquang và/hoặc kết quả vi sinh:
○ Nếu có các biến chứng như hạ huyết áp và viêm phổi hoặc nghi ngờ vi
khuẩn kháng thuốc: thêm AG, FQ và/hoặc vancomycin.
○ Nếu có viêm phổi hoặc nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn gram âm: thêm
vancomycin và chuyển sang dùng carbapenem nếu trước đó không sử dụng
carbapenem.
○ Nếu nghi ngờ nhiễm khuẩn do C. difficile hoặc có triệu chứng đau vùng
bụng: thêm metronidazol.
○ Nếu nghi ngờ nhiễm khuẩn liên quan đến đặt catheter, nhiễm khuẩn da và
mô mềm, viêm phổi hoặc huyết động không ổn định: thêm vancomycin.
○ Nếu bệnh nhân có nguy cơ nhiễm vi khuẩn kháng thuốc như huyết động
không ổn định, cấy máu dương tính hoặc có nguy cơ tiếp xúc với vùng lưu hành vi
khuẩn kháng thuốc thì:
10
Nếu nghi nhiễm MRSA: thêm vancomycin, linezolid hoặc daptomycin.
Nếu nghi nhiễm VRE: thêm linezolid hoặc daptomicin.
Nếu nghi nhiễm ESBL: ưu tiên dùng phác đồ carbapenem (imipenemciclastin hoặc meropenem).
Nếu nghi nhiễm KPCs: ưu tiên dùng phác đồ polymycin (colistin) hoặc
tigecyclin.
+ Bệnh nhân bị dị ứng penicilin có dung nạp cephalosporin nhưng có tiền sử
phản ứng quá mẫn mức trung bình như phát ban, co thắt phế quản thì tránh dùng βlactam
Bệnh nhân có nguy cơ nhiễm khuẩn trung bình và cao được khuyến cáo dự
phòng bằng phác đồ đơn độc FQ. Nếu bệnh nhân không dung nạp FQ, có thể sử
dụng cotrimoxazol.
Điều trị nhiễm khuẩn
Sau khi được phân tầng nguy cơ các biến chứng nhiễm khuẩn dựa trên thời
điểm sốt, thời gian và mức độ giảm BCTT, điểm ECOG, điểm MASCC, chức năng
gan, thận, bệnh lý cấp tính mắc kèm, phác đồ điều trị và tình trạng bệnh lý nền,
bệnh nhân được điều trị như sau:
Đối với bệnh nhân nguy cơ thấp:
+ Bệnh nhân ngoại trú: sử dụng kháng sinh đường uống với phác đồ phối hợp
ciprofloxacin/amoxicilin-acid clavulanic hoặc ciprofloxacin/clindamycin nếu bệnh
11
nhân dị ứng penicilin; hoặc phác đồ đơn độc moxifloxacin hay levofloxacin. Bệnh
nhân cũng có thể sử dụng phác đồ kháng sinh tĩnh mạch.
+ Bệnh nhân nội trú: sử dụng kháng sinh đường uống với phác đồ phối hợp
ciprofloxacin/amoxicilin-acid clavulanic hoặc ciprofloxacin/clindamycin nếu bệnh
nhân dị ứng penicilin; hoặc phác đồ đơn độc moxifloxacin. Bệnh nhân cũng có thể
sử dụng phác đồ kháng sinh tĩnh mạch như bệnh nhân nguy cơ cao.
Nếu bệnh nhân có dị ứng penicilin, khuyến cáo thay thế phối hợp
ciprofloxacin/amoxicilin-acid clavulanic bằng phối hợp ciprofloxacin/clindamycin.
Chỉ sử dụng phác đồ đường uống cho những bệnh nhân không buồn nôn/nôn, dung
nạp tốt và không được dự phòng bằng FQ trước đó. Moxifloxacin không có tác
dụng trên Pseudomonas nên không khuyến cáo sử dụng moxifloxacin trong trường
hợp nghi ngờ nhiễm Pseudomonas.
Đối với bệnh nhân nguy cơ cao:
+ Sử dụng kháng sinh đường tĩnh mạch: sử dụng phác đồ đơn độc piperacilintazobactam, carbapenem, ceftazidim hoặc cefepim.
+ Phối hợp thêm kháng sinh vào phác đồ khuyến cáo trong các trường hợp
+ Đau quanh trực tràng: đảm bảo phác đồ điều trị có phổ trên vi khuẩn kỵ khí.
Cân nhắc sử dụng kháng sinh tác dụng trên Enterococci.
+ Đặt các thiết bị can thiệp mạch: thêm vancomycin ngay khi bắt đầu hoặc sau
48 giờ không đáp ứng.
+ Mụn sẩn/các dạng tổn thương khác: thêm vancomycin.
+ Các triệu chứng trên thần kinh trung ương: phác đồ kháng sinh ban đầu dựa
trên kết quả hội chẩn. Nếu nghi ngờ viêm màng não, sử dụng phác đồ phối hợp
kháng sinh β-lactam tác dụng trên Pseudomonas (cefepim, ceftazidim, meropenem)
với vancomycin và ampicilin (để bao phủ Listeriosis). Nếu dùng meropenem thì
không cần phối hợp ampicilin [61].
1.2.3. Các nghiên cứu về sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân giảm BCTT
Nghiên cứu của Hamishehkar năm 2014 về đánh giá sử dụng thuốc kháng sinh
và kháng nấm tại một bệnh viện của Iran cho thấy trên 70 bệnh nhân ung thư sốt
giảm BCTT ghi nhận tất cả 91 đợt sốt giảm BCTT và bệnh lý nền chủ yếu của bệnh
nhân là lơ xê mi cấp (90% số bệnh nhân). Phác đồ điều trị kinh nghiệm khởi đầu
13
được sử dụng nhiều nhất là imipenem đơn độc với 88/91 đợt sốt giảm BCTT (chiếm
96,7%). Kháng sinh dự phòng được sử dụng nhiều nhất là cotrimoxazol với 71/91
đợt sốt giảm BCTT (chiếm 78%) [47].
Một khảo sát quốc gia năm 2008 về sử dụng kháng sinh trong quản lý bệnh
nhân sốt giảm BCTT tại các khoa huyết học và trung tâm ghép tế bào gốc ở Hàn
Quốc cho thấy: về dự phòng, phác đồ dự phòng được sử dụng ở nhóm điều trị hóa
chất và ghép tế bào gốc chủ yếu là FQ với tỷ lệ ghi nhận tương ứng là 42,4% và
84,8%; về điều trị kinh nghiệm khởi đầu, phác đồ kháng sinh phổ biến trong trong
cả hai nhóm đều là phối hợp AG với một cephalosporin hoặc carbapenem hoặc
penicilin tác dụng trên Pseudomonas với tỷ lệ ghi nhận tương ứng là 71,9% và
65,6% [34].
Nghiên cứu của Ziglam năm 2005 về khảo sát sử dụng kháng sinh cho bệnh
Viện là 753 giường. Có khoảng 140-190 bệnh nhân mỗi ngày vào điều trị nội trú và
số lượng bệnh nhân nằm điều trị nội trú luôn duy trì từ 950 đến 1.000 bệnh nhân.
Trong vòng 10 năm từ 2004 đến 2014, số lượng bệnh nhân đến khám nói chung
tăng 20 lần và số lượng bệnh nhân điều trị nội trú cũng tăng gấp 7 lần [12].
1.3.2. Phân bố các bệnh huyết học tại các khoa lâm sàng huyết học của Viện
HH-TM TƯ
Hiện nay, Viện HH-TM TƯ có tất cả 8 khoa lâm sàng về các bệnh về máu và
cơ quan tạo máu. Từ ngày 1/10/2014, Viện đã có quy định phân bổ bệnh nhân về
các khoa lâm sàng dựa trên các nhóm bệnh [13]. Các mặt bệnh huyết học phân bổ
theo khoa lâm sàng được trình bày trong Bảng 1.1.
15
Bảng 1.1. Phân bố các bệnh huyết học theo khoa lâm sàng tại Viện HH-TM TƯ
STT
1
2
3
4
Khoa
Tên bệnh/ nhóm bệnh
Khoa
tuỷ giảm sinh dòng hồng cầu
2. Bệnh tự miễn: xuất huyết giảm tiểu cầu tự miễn, tan máu tự
miễn, hội chứng Evans, các bệnh hệ thống
3. Thiếu máu dinh dưỡng: thiếu sắt, thiếu vitamin B12, thiếu
acid folic, thiếu vitamin C, thiếu protein, …
4. Thiếu máu trong các bệnh lý ngoài huyết học: ung thư, xuất
huyết tiêu hóa, thiếu máu trong bệnh lý mạn tính, điều trị
thuốc chống virus HIV, các thiếu máu không rõ nguyên nhân
khác
5. Bệnh lý về lách: cường lách, lách to chưa rõ nguyên nhân
6. Bệnh lý rối loạn chức năng thực bào: hội chứng thực bào tế
bào máu, ...
Khoa Bệnh
máu tổng
hợp II
1. Bệnh lý về hạch: u lympho Hodgkin, u lympho không
Hodgkin, ung thư di căn hạch, hạch viêm, hạch to chưa rõ
nguyên nhân, …
2. Hội chứng tăng sinh tủy ác tính: đa hồng cầu, tăng tiểu cầu
tiên phát, xơ tủy, …
3. Bệnh lý dòng Plasmo: đa u tủy xương, u plasmo đơn độc,
Waldenstrom, tăng gamma globulin đơn dòng không đặc hiệu,
16